Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000059
Số lượt truy cập
22362781
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-06-28 10:36:27

 

 CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN 

Trương Vĩnh Ký: Nhà Bác Học Ngôn Ngữ Của Vùng Đất Phương Nam

 

Trên vùng đất phương Nam, nếu đã nói cụ Võ Trường Toản là hậu tổ của Nho Học, thì phải nói cụ Trương Vĩnh Ký là người đã đi tiên phong trong việc truyền bá chữ quốc ngữ trên toàn cõi Việt Nam. Chữ quốc ngữ là loại chữ dùng mẫu tự La Tinh A, B, C..., để ráp vần, đã thành hình từ đời nhà Lê. Đây là sáng kiến của các cố đạo Âu châu trong nhu cầu truyền giáo sang Việt Nam từ trước thế kỷ thứ XVII. Năm 1624, cố đạo Alexandre de Rhodes, một người Pháp, sanh trưởng tại Avignon, Pháp quốc, đã biên soạn chữ quốc ngữ để dùng trong việc giảng dạy giáo lý Kinh Thánh cho người Việt Nam. Tuy nhiên, người đầu tiên cổ xúy xử dụng chữ quốc ngữ để phổ biến văn hóa, để làm báo, viết sách giúp đở thiết thực cho nền giáo dục của Việt Nam, chính là cụ Trương Vĩnh Ký.

Trương Vĩnh Ký thông thạo rất nhiều ngôn ngữ Đông phương, là người lúc nào cũng hết lòng hết dạ với việc phát triển chữ quốc ngữ cho dân tộc Việt Nam. Dẫu rằng trong cuộc sống ông phải ra làm việc cho Tây, nhưng cách ăn cách ở của ông thật vô cùng nhân hậu. Người viết tập sách này không muốn bàn nhiều về công hay tội trên quan điểm chính trị. Người viết chỉ muốn viết lên những sự kiện để cho dân Việt Nam, nhứt là con dân của những người đi mở cõi về vùng đất phương Nam thấy rằng, hạt gạo mình đang ăn, mảnh vườn miếng ruộng mình đang trồng trọt đều bàng bạc công lao của những bậc tiền bối, những người đã săn sàng chấp nhận hy sinh thân mạng trước rừng thiêng nước độc để mang lại an cư lạc nghiệp cho đàn hậu bối. Đó là nói về mặt vật chất, còn nói về mặt văn hóa và tinh thần, miền đất phương Nam cũng không thiếu gì những bậc tiền hiền và hậu hiền đã làm tất cả những gì họ có thể làm được để tạo ra những thức ăn tinh thần, mang lại sự dễ dàng và thoải mái cho con cháu của họ về sau này, mà cụ Trương Vĩnh Ký là một trường hợp điển hình. Bất cứ người Việt Nam nào từ Bắc chí Nam, hàng ngày viết chữ quốc ngữ và rất nhiều người sáng tác ra nhiều tác phẩm để đời về các mặt văn hóa, sinh hoạt xã hội và tôn giáo, vân vân, đừng quên rằng cách nay trên một trăm năm, có một bậc kỳ tài, người đã đem một thứ chữ viết được các cố đạo dùng tại Việt Nam khiến cho việc giảng đạo của họ được dễ dàng và tiện lợi hơn(1), sáng chế và đặt quy luật khiến cho thứ chữ ấy trở thành chữ Quốc Ngữ của cả dân tộc Việt Nam. Nhờ vậy mà cho đến ngày nay, chữ Quốc ngữ đã hoàn toàn thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong mọi sinh hoạt của dân tộc Việt Nam, từ chính trị, giáo dục, đến văn hóa, biên khảo và trước tác, vân vân. Trong cú pháp văn phạm, ngày nay câu văn được viết theo văn xuôi thay cho lối văn biền ngẫu của các nhà Nho xưa. Bên cạnh đó, cụ Trương còn giúp xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật từ chương ngày trước của Nho gia. Và cuối cùng, qua tờ báo đầu tiên của Việt Nam là tờ Gia Định Báo, chính cụ Trương đã cho chúng ta có một khái niệm đúng về ý nghĩa của một tờ báo theo kiểu Tây phương để phổ biến trong đại chúng. Ngần ấy công lao của cụ Trương Vĩnh Ký không phải là nhỏ, không phải là ai cũng làm được. Phải thừa nhận rằng chính Trương Vĩnh Ký là người kế tục công trình biên soạn chữ quốc ngữ của những cố đạo đi trước, nhưng ông có công rất lớn trong việc gầy dựng và củng cố nền văn hóa Việt Nam bằng cách làm cho chữ viết này trở nên hoàn mỹ và đi đến hình thức chữ viết mà chúng ta đang sử dụng ngày nay.

Ngoài việc học chữ Hán, Quốc ngữ, La Tinh lúc nhỏ, ông còn học thêm tại Cao Miên các tiếng Thái, Miến, Lào, Cao Miên, Trung Hoa, vân vân. Rồi sau đó, tại Mã Lai, ông đã học thêm chữ Hy Lạp, Pháp, Anh, , Nhật, Ấn, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha...Ông có thể nói và viết thông thạo 15 sinh ngữ và tử ngữ(2). Sự nghiệp văn chương của Trương Vĩnh Ký rất vĩ đại. Trương Vĩnh Ký đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm chữ quốc ngữ và chữ Pháp(3), trong đó có bộ Văn Phạm Việt Nam (Grammaire de la Langue annamite)(4), Sử Ký An Nam (Histoire annamite), Sử Ký Trung Quốc, Địa Lý Nam Kỳ, Từ Điển Pháp-Việt (Petit Dictionaire francaise-annamite, viết năm 1884), Từ Điển Pháp-Hán-Việt, Từ Điển Địa Lý An Nam, Từ Điển Danh Nhân An Nam, Phân Tích Suy Luận Những Tiếng Nói Chính Trên Thế Giới(5), Truyện Đời Xưa (viết bằng quốc ngữ, viết năm 1866), và Học Vỡ Lòng Tiếng Việt (viết bằng chữ Pháp), Tứ Thư, Sơ Học Vấn Tâm, Tam Thiên Tự, Minh Tâm Bảo Giám, Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc. Năm 1875, ông phiên âm chữ Nôm ra chữ quốc ngữ bộ “Kim Vân Kiều”; và viết bộ “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca”. Ngoài ra, năm 1881 ông viết bộ “Truyện Đi Bắc Kỳ (Voyage au Tonkin en 1876)”. Năm 1882, ông viết các bộ “Truyện Khôi Hài”; “Bất Cượng Nhớ Cượng Làm Chi”; “Gia Huấn Ca của Trần Hy Tăng”; “Nữ Tắc”. Năm 1883 ông viết các bộ “Phép Lịch Sự Annam”. Năm 1885, ông viết bộ “Kiếp Phong Trần”. Năm 1887, ông viết bộ “Lục Súc Tranh Công”. Từ năm 1888 đến khi qua đời 1889, ông viết “Sách Dạy Chữ Quốc Ngữ”, “Sách Dạy Chữ Nho”; trong khoảng thời gian này, ông cũng dịch các sách chữ Nho ra quốc ngữ như “Phan Trần Truyện”, “Lục Vân Tiên Truyện”, “Đại Học”, “Trung Dung”, “Tam Tự Kinh”, “Minh Tâm Bửu Giám”, và viết bộ “Miscellanées”.

Như chúng ta đã biết, sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, cụ Trương Vĩnh Ký đã hợp tác với người Pháp tại Gia Định. Tuy nhiên, quan điểm của cụ trương là phải bằng mọi giá phổ biến chữ quốc ngữ, vì một khi chữ quốc ngữ được phổ biến cũng đồng nghĩa với việc dân trí trong đó có ý thức về tự do dân chủ được nâng cao, thì vấn đề người Pháp chiếm đóng đất Nam Kỳ không sớm cũng muộn cũng sẽ được con dân của chính vùng đất này đặt ra. Theo cụ Trương như vậy không sợ gì không lấy lại được chủ quyền, chẳng những vậy mà các mặt khác như văn hóa, khoa học, văn minh kỹ thuật Âu Tây rồi cũng sẽ được phát triển ngay trên mảnh đất này. Cụ cho rằng những người thủ cựu chỉ lấy lý thuyết Khổng Mạnh mà chưa mở rộng tầm nhìn để đón những luồn gió mới từ Âu Tây. Theo thiển ý của người viết tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam, thì cụ Trương hợp tác với Pháp với chỉ những điều kiện vừa nêu trên. Chính vì vậy mà trong suốt cuộc đời của cụ, cụ Trương chưa từng làm chuyện gì mất sĩ diện của cá nhân hay của dân tộc. Có lẽ cũng chính vì sự hợp tác này của cụ Trương mà các sĩ phu yêu nước đương thời đã tỏ ra khinh rẻ cụ. Nhưng cũng có lẽ chính người Pháp cũng biết được chủ ý và điều kiện chính của cụ Trương trong việc hợp tác với họ là về lâu về dài dân trí Việt Nam sẽ được mở mang, và sẽ vô cùng bất lợi cho họ. Chính vì thế mà sau một thời gian cụ Trương về làm chủ quản tờ Gia Định Báo, thực dân Pháp cũng ra mặt không tín nhiệm cụ Trương.

Có nhiều người cho rằng khi Trương Vĩnh Ký nói lên câu cách ngôn: “Ở với họ mà không theo họ (Sic vos Non Vobis)” chỉ là cách để tự biện hộ cho việc chính ông đã hợp tác với người Pháp. Người viết bài này thì nghĩ rằng, Sỉ Tải Tiên Sinh sanh ra vào thời đó, nếu muốn giúp cho dân ông mở mang kiến thức về chữ quốc ngữ, thì ông không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải ra hợp tác với Pháp. Tuy nhiên, Trương Vĩnh Ký là một sĩ phu Việt Nam đã biết kết hợp cách sống theo giáo lý Cơ Đốc giáo với lối sống Đông phương để tạo ra một môi trường sống dung hòa cho chính mình và phục vụ xứ sở và dân chúng một cách hữu hiệu. Hơn thế nữa, sau khi hoàn tất bộ Văn Phạm Việt Nam, chính ông đã đưa chữ quốc ngữ lên ngang hàng với các chữ viết có nguồn gốc mẫu tự La Tinh. Nhờ vậy mà trong gần một thế kỷ đô hộ Việt Nam, dầu cố gắng thế mấy người Pháp không thể nào xóa sổ chữ quốc ngữ tại Việt Nam như trường hợp người Mỹ đã buộc dân bản xứ Phi Luật Tân phải học tiếng Anh thay vì tiếng Tagal.

Tháng 8 năm 1869, Thủy Sư Đô Đốc Ohier ra nghị định bổ nhiệm ông trông coi tờ Gia Định Báo. Ban đầu thì tờ báo này là của chính quyền thuộc địa, nó chỉ được dùng để phổ biến những quy định và luật lệ, và đọc giả của nó chỉ hạn hẹp trong giới công chức của các ty sở ở các tỉnh lỵ hoặc một số thương gia giàu có mà thôi. Khi quản nhiệm tờ báo nầy, Trương Vĩnh Ký đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của nó với những tiêu đề cổ động tân học, truyền bá chữ quốc ngữ và giáo dục quốc âm. Đây là tờ báo quốc ngữ đầu tiên cho cả nước, từ đó đã sản sanh ra nhiều nhà báo nổi tiếng về sau nầy như Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của. Chủ ý chính của Trương Vĩnh Ký là cổ động cho dân chúng học chữ quốc ngữ. Phải thành thật mà nói, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở vùng đất phương Nam đã ra đời đến vài chục năm trước những tờ Nam Phong và Đông Dương ở Bắc Hà. Người viết tập sách này là hậu bối của những người đi mở cõi về phương Nam, cũng cùng quê hương Vĩnh Long với cụ Trương Vĩnh Ký, nhưng không phải cùng quê hương mà lại viết một cách thiên vị hàm hồ, thế nhưng thật tình mà nói, trong tâm của người con hậu bối này luôn xem cụ Trương là ông Tổ của ngành Báo Chí ở Việt Nam. Nhưng trớ trêu làm sao ấy, đa phần những người làm báo lại chỉ biết có một Phạm Quỳnh ở Bắc Hà, mà chẳng hề biết rằng vùng đất phương Nam này đã từng có một trong thập bát bác học thông thái của thể giới hồi cuối thế kỷ thứ XIX, đó là cụ Trương Vĩnh Ký, và con người đó mới chính là ông Tổ của ngành báo chí Việt Nam.

Lúc đầu khi mới đánh chiếm Việt Nam, người Pháp giao việc hành chánh luôn cho các võ quan như các thủy sư đô đốc đảm nhiệm. Về sau này, khi khắp các nơi đều nổi lên chống đối, Pháp lại thay đổi cách cai trị bằng cách giao việc hành chánh cho những chính trị gia dân sự bên Pháp qua đảm nhiệm. Paul Bert là tên toàn quyền dân sự đầu tiên của Pháp ở Việt Nam. Hắn đã khéo dùng một sách lược mềm dẻo nhưng thâm độc, bằng cách cho mở trường đào tạo một số công chức người Việt. Đây là chính sách “Dùng người Việt cai trị người Việt”. Có lẽ Trương Vĩnh Ký biết rõ sự thâm độc này hơn ai hết, vì trước đây, vào năm 1863, khi theo sứ đoàn Phan Thanh Giản đi Tây, Trương Vĩnh Ký đã từng quen biết với Paul Bert. Chính vì vậy mà Trương Vĩnh Ký càng có quyết tâm phải ở lại làm việc với Tây, phải làm bằng mọi cách nhằm giảm thiểu sự tàn hại của chính sách thực dân thuộc địa của Pháp.

                                                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn