Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000110
Số lượt truy cập
21508890
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-04-27 07:02:24

 

10) Trần Chánh Chiếu

Trần Chánh Chiếu, tức là Gilbert Chiếu, còn gọi là Phủ Chiếu vì ông được tặng hàm Tri Phủ danh dự. Ông sanh trưởng tại Sài Gòn, từng làm luật sư tại Tòa Án Sài Gòn. Ông là một trong những chí sĩ nổi tiếng ở miền Nam vào đầu thế kỷ thứ XX, rất có lòng với đất nước và rất nhiệt tâm trong việc tìm kiếm phương cách mang lại nền độc lập cho xứ sở. Có lần ông đã sang tận Hương Cảng để hội đàm với nhà cách mạng Phan Bội Châu về tình hình đất nước, rồi đem những bản hiệu triệu của cụ Phan về nước tìm cách phổ biến trong dân chúng.

Để hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ông đã cùng với nhà chí sĩ Nguyễn Thành Út thành lập “Minh Tân Công Nghệ Xã” ở Chợ Lớn và “Minh Tân Khách Sạn” ở Sài Gòn, ngay trước nhà ga xe lửa ngày trước để làm cơ quan kinh tài để phát triển công cuộc cách mạng và liên lạc với các nhà ái quốc khác. Trong mục đích cải tiến đất nước, ông đã viết nhiều bài báo phê bình và đả kích chính sách của thực dân Pháp ở Đông Dương, đồng thời ông kêu gọi việc khuếch trương kinh tế, khuyến khích việc sử dụng hàng hóa nội địa, và xây dựng một nền văn hóa mới. Từ những tư tưởng canh tân của ông đã gây dựng được một phong trào chống Pháp khá mãnh liệt vào hồi đầu thế kỷ thứ XX tại Việt Nam, nhất là tại miền Nam. 

Năm 1913, sau những cố gắng hòa dịu với người Pháp trong việ yêu cầu họ cải tiến đất nước và dân sinh, nhưng người Pháp chẳng những làm ngơ trước những yeu6 cầu nầy mà còn tìm cách bắt bớ những người có những bài viết chỉ trích họ. Vì vậy, ông đứng ra chủ xướng một cuộc bạo động tại Sài Gòn, nhưng âm mưu bạo động bị bại lộ; các nhà aí quốc bị đàn áp và truy bắt gắt gao. Cũng vào năm đó, ông qua đời tại Sài Gòn. Ngoài việc bôn ba tổ chức những phong trào giành độc lập cho xứ sở, ông Trần Chánh Chiếu còn viết rất nhiều bài báo cổ võ tinh thần yêu nước. Ông cũng là tác giả của tập sách “Hương Cảng Nhân Vật,” một tập sách có tính cách tuyên truyền cách mạng trong đó ông kể lại cuộc du lịch của mình sang Hương Cảng. Ngoài ra, lúc sinh thời, ông còn làm chủ bút tờ “Lục Tỉnh Tân Văn” và tờ “Le Moniteur des Provinces.” Trong đó ông đã viết rất nhiều bài nghị luận rất có giá trị. Ông có một người con tên là Jules Tiến, cũng nối chí cha, bôn ba ra hải ngoại, theo giúp các nhà cách mạng lão thành khác như Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. 

 

11) Trần Văn Thạch(1905-1945)

Trần Văn Thạch sanh truởng tại Phú Lâm, Chợ Lớn. Ông là một trong những chiến sĩ cách mạng nổi tiếng ở miền Nam vào đầu thế kỷ thứ XX. Vì sanh ra trong một gia đình khá giả nên lớn lên ông được cha mẹ cho sang Pháp du học. Tại Pháp, ông có dịp tiếp xúc với một số nhà cách mạng nên tư tưởng cách mạng giành lại nền độc lập cho dân tộc Việt Nam ngày càng lớn dần trong ông. Tại Pháp, ông viết báo cho tờ “Le Journal des Etudiants Annamites” bày tỏ nguyện vọng của nhóm thanh niên thiết tha mong thấy nước nhà được độc lập.

Sau khi về nước, ông bắt tay ngay vào những hoạt động chính trị, và trở thành bạn đồng chí hướng với các ông Tạ Thu Thâu và Phan Văn Hùm, và thường dùng tờ báo “La Lutte” làm cơ quan ngôn luận nêu rõ lập trường đấu tranh của mình. Năm 1937, ông đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn. Nhưng sau đó, ông bị nhà cầm quyền thực dân Pháp bắt giam vì mấy bài báo đả kích chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương. Nhưng rồi ít lâu sau họ cũng phải thả ông ra vì áp lực của những nhóm bảo vệ nhân quyền bên chính quốc.

Năm 1945, ông bị một đảng phái chính trị khác ám hại tại miền Đông Nam Kỳ. Tóm lại, ông Trần Văn Thạch là một chí sĩ cách mạng yêu nước, ông đã dùng chính ngòi bút của mình để chống cường quyền thuộc địa Pháp. Về sau này, hậu duệ của ông Trần Văn Thạch là bà Trần Mỹ Châu đã cùng với Phan Thị Trọng Tuyến viết lại về cuộc đời chiến đấu chống cường quyền của Trần Văn Thạch trong quyển “Trần Văn Thạch (1905-1945) Cây Bút Chống Bạo Quyền Áp Bức” đã nói lên được phần nào tội lỗi của một bè đảng đã vì tư lợi mà sát hại những nhà hoạt động cách mạng chân chính thời đó.

 

12) Lý Liễu

Lý Liễu sanh tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình phú nông. Năm 1907, ông được gia đình cho qua Hương Cảng học trong trường Trung-Anh Học Hiệu. Ít lâu sau ông bị nhà cầm quyền Anh ở Hương Cảng bắt giữ về tội tích trử tạc đạn và giấy tờ chính trị, rồi bị bị dẫn độ về Hà Nội để chịu án lưu đày sang đảo Guyane ở vùng Nam Mỹ Châu.

Năm 1917, ông vượt ngục, trốn sang đảo Trinidad, lấy quốc tịch Trung Hoa, rồi cùng với một số bạn khác là Nguyễn Quang Diêu và Đinh Hữu Thuật định cư lập nghiệp. Giữa năm 1920, các nhà yêu nước quyết chí tìm đường về nước để tiếp tục đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Sau đó Lý Liễu bỏ lại người vợ quốc tịch Anh và các con mà trở về Việt Nam. Nhưng vận mạng đất nước chưa đến hồi quang phục, nên chẳng bao lâu sau đó ông lại bị bắt và bị đày ra Công Đảo rồi mất tại đó.

 

13) Tạ Thu Thâu(1905-1945)

Tạ Thu Thâu sanh trưởng trong quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên trong một gia đình khá giả. Sau khi học xong bậc trung học, ông được cha mẹ cho sang Pháp du học. Vì sách động sinh viên Việt Nam và Pháp tham dự vào cuộc biểu tình trước điện Elysée ở Ba Lê, để phản đối nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đã lên án tử hình 13 nhà ái quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong việc lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái vào năm 1930, ông cùng một số người Việt Nam khác bị trục xuất khỏi nước Pháp.

Sau khi về nước, ông lập tờ báo “La Lutte” với mục đích tranh thủ cho nền độc lập cho Việt Nam, bênh vực quyền lợi của thợ thuyền lao động, và chống thực dân đế quốc. Ông và bằng hữu trong nhóm “La Lutte” đã nhiều lần đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn. Ông luôn hăng hái hoạt động và theo đuổi mục đích làm cách mạng đem lại độc lập cho xứ sở, nên đã nhiều lần ông bị chính quyền thực dân bắt giam, trong tù ông lại phản đối chính sách của Pháp ở Đông Dương. Khoảng tháng 7 năm 1937, nhân viên Hỏa Xa đình công, ông và hai người bạn khác lại bị bắt. Ông lại tuyệt thực để phản đối. Lần này thực dân Pháp đã cho người chích thuốc khiến ông bị bại liệt. Rồi mãi đến tháng giêng năm 1939 ông mới được ân xá.

Sau đó ông lại đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn, nhưng ngay khi thế giới đại chiến lần thứ hai nổ ra, thì ông lại bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, mãi đến khi quân đội Nhật đảo chánh Pháp vào tháng 3 năm 1945 thì ông mới được thả ra. Cũng vào năm này, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và tại Việt Nam thì Việt Minh cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, ông lại bị bắt. Sau đó vào đêm 13 tháng 8 năm Ất Dậu 1945, ông bị bắn chết tại thôn Xuân Phổ, xã Tư Thuận, quận Tư Nghĩa, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi khoảng 10 cây số. Đây cũng chính là tội lỗi của một bè đảng đã vì tư lợi mà sát hại những nhà hoạt động cách mạng chân chính thời đó.

Người viết tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam này không phải là một sử gia, nên không thể viết hết hay nói hết một cách chính xác ai là thủ phạm, trong việc sát hại gần như toàn bộ nhóm “La Lutte”. Thôi thì hãy để cho những nhà làm sử thật chân chính về sau này phơi bày ra ánh sáng cho cả dân tộc Việt Nam thấy được bộ mặt dã man của một nhóm người đồng chủng, mặt người lòng thú!

 

14) Hồ Văn Ngà(?-1946)

Hồ Văn Ngà sinh quán vùng Cần Đước, Long An. Từ nhỏ, ông đã tỏ ra là một thanh niên thông minh đỉnh đạt. Sau khi học xong bậc Trung học, gia đình cho ông sang Pháp du học. Tuy là đang sống trong chăn êm nệm ấm, nhưng ông là một nhà chí sĩ luôn có khuynh hướng quốc gia và luôn kịch liệt đấu tranh chống ác đô hộ của ngoại bang. Trong khi đang du học tại Pháp, ông đã cùng Tạ Thu Thâu tổ chức cuộc biểu tình phản đối việc nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương lên án xử tử hình 13 nhà ái quốc Việt Nam Quốc Dân Đảng, những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, nên ông bị chính quyền Pháp trục xuất ông về nước.

Trở lại quê hương, ông bắt đầu đi dạy học cho trường tư thục, đồng thời tích cực hoạt động chính trị. Năm 1945, ông thành lập đảng Việt Nam Quốc Gia Độc Lập và tạm dựa vào sức mạnh của quân đội Nhật Bản để đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà. Đến tháng 8 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim cử ông quyền Khâm Sai Đại Thần tại Nam Kỳ trong khi Khâm Sai Nguyễn Văn Sâm còn ở Huế. Đến năm 1946, chiến tranh Việt-Pháp bùng nỗ. Trong tình trạng hỗn loạn này, vào cuối năm 1946, ông bị thủ tiêu tại vùng Cà Mau. Có thể nói đây là một trong những giai đoạn đen tối nhất của đất nước. Trong khi hầu hết các quốc gia Á Phi bị trị khác đã thâu hồi nền độc lập của họ mà không phải tốn nhiều máu xương tiền của của đồng bào, thế mà tại Việt Nam vào năm 1946, có một đảng phái ngoại nhập, vì muốn thâu tóm hết quyền lực trong tay mình, nên họ đã kêu gọi các đảng phái liên kết lại với nhau, do họ làm chủ tịch, rồi họ lại âm thầm nhưng thẳng tay thủ tiêu tất cả các lãnh tụ của các đảng phái khác. Và chính họ đã làm nên hai cuộc chiến tranh đẫm máu: một là từ năm 1946 đến 1954, và hai là từ năm 1960 đến 1975. Kết quả là chính những toan tính tàn độc này của họ đã đưa cả dân tộc vào một thứ ách thực dân mới, hoàn toàn lệ thuộc Bắc phương, và hậu quả của nó vẫn còn rỉ máu cho mãi đến ngày nay.

                                                                             ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn