Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000086
Số lượt truy cập
21509304
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-04-19 08:50:03

 

 8) Phan Văn Hùm(1902-1945)

Phan Văn Hùm sanh trưởng tại vùng Búng, thuộc Thủ Dầu Một. Ông lớn lên trong một gia đình khá giả lại trọng học vấn, nên sau khi tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Chánh ở Hà Nội, cha mẹ ông đã cho ông sang Pháp du học. Ông đậu cử nhân Văn Khoa tại trường đại học Sorbonne của Pháp. Khi về nước, ông tích cực tham gia chính trị bên cạnh các nhà ái quốc khác như Nguyễn An Ninh. Năm 1928, ông bị bắt và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Trong dịp này ông đã viết thiên hồi ký “Ngồi Tù Khám Lớn.”

Sau khi ra tù, ông lại trở qua Pháp một thời gian. Ông trở về nước năm 1933 và làm nghề dạy học các trường tư thục. Ông thường viết sách báo để đấu tranh giành quyền độc lập tự chủ cho đất nước. Năm 1939, ông đắc cử vào chức vụ Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ. Vì làm bỉnh bút cho tờ báo “La Lutte” có khuynh hướng chống đối chính quyền thực dân, nên ông bị bắt và bị kêu án đi đày Côn Đảo. Ngoài tờ “La Lutte,” Phan Văn Hùm còn cộng tác với các báo “Phụ Nữ Tân Văn”, “Mai” và “Việt Thanh”. Phải nói cuộc đời tranh đấu của Phan Văn Hùm gắn liền với nhóm “La Lutte”. Nhóm này được thành lập từ năm 1933 tại Sài Gòn. Đây là một nhóm kết hợp nhiều nhà trí thức theo Tây học, lúc mới thành lập, “La Lutte” bao gồm mọi thành phần: Quốc Gia, CS Đệ Tam, CS Đệ Tứ, vân vân, nhằm dùng ngòi bút để tranh đấu chống thực dân Pháp đòi lại quyền tự do dân chủ cơ bản cho dân tộc. trong đó các nhà trí thức như Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh... thuộc nhóm CS Đệ Tứ. Tới năm 1937, theo lệnh nhóm Đệ Tam Quốc Tế tại Pháp, nhòm CS Đệ Tam tại Việt Nam ly khai khỏi nhóm “La Lutte,” và kể từ đó những cuộc tàn sát dã man những người đồng chủng mà khác chính kiến bắt đầu.

Phan Văn Hùm là một trong những nhà cách mạng quốc gia yêu nước nồng nàn và cương quyết chống đối việc đem bất cứ hình thức chủ thuyết ngoại lai nào áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy mà ông bị nhóm khủng bố của một đảng phái vọng ngoại ám sát vào năm 1945. Những tác phẩm mà Phan Văn Hùm để lại gồm có: “Ngồi Tù Khám Lớn”, do NXB Bảo Tồn xuất bản tại Sài Gòn năm 1928. “Biện Chứng Pháp Phổ Thông”; “Luận Tùng”; “Nỗi Lòng Đồ Chiểu”; “Vương Dương Minh” và “Phật Học”.

 

9) Nguyễn An Ninh(1900-1943)

Nguyễn An Ninh là con trai của ông Nguyễn An Khương, sanh năm 1900 tại vùng Quán Tre, Hốc Môn, tỉnh Gia Định. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha và chú của ông, ông Nguyễn An Khương và Nguyễn An Cư, là hai nhà nho có tiết tháo của một kẻ sĩ trong lúc quốc phá gia vong. Ông lại có cái may mắn là được học chữ Hán và đạo Nho với cha và chú ruộc của mình. Ngay từ lúc còn rất trẻ, khi còn đang cắp sách đến trường sơ trung tại làng quê của mình, ông đã luôn ôm ấp giấc mơ đánh đuổi giặc Tây ra khỏi bờ cõi và luôn trân trọng những hào kiệt đất phương Nam đã làm nên “Lửa Hồng Nhật Tảo” của Nguyễn Trung Trực vào tháng 10 năm 1861, cuộc khởi nghĩa của Trương Định dưới ngọn cờ “Bình Tây Đại Nguyên Soái” từ năm 1862 đến năm 1864, và về hào khí bất khuất của lãnh tụ Thủ Khoa Huân ở Mỹ Tho, cũng như lòng cang cường đánh Pháp của Thiên Hộ Vương, vân vân. Ngay từ nhỏ, ông đã sớm ý thức được tình cảnh của một đất nước bị trị và chứng kiến nhiều cuộc nổi dậy kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ đó ông luôn tỏ ra có chí khí muốn nối chí của cha mình tìm cách thu hồi nền độc lập cho xứ sở.

Sau đó, ông lại chứng kiến những cuộc nổi dậy do chí sĩ Nguyễn Hữu Trí cầm đầu, đánh phá Khám Lớn Sài Gòn vào đêm 14 rạng 15 tháng 2 năm 1916, cũng như cuộc khởi nghĩa tại Huế vào tháng 5 năm 1916 dưới sự chỉ huy của Thái Phiên và Trần Cao Vân. Tuy cả hai cuộc khởi nghĩa trên đều thất bại, nhưng đã để laị trong lòng ông những cảm xúc thật dạt dào về lòng yêu nước. Sau khi chứng kiến những cuộc nổi dậy bằng vũ trang bị thất bại, Nguyễn An Ninh suy nghĩ, muốn hành động thành công, trước hết phải trang bị cho chính mình và dân tộc mình những kiến thức cần thiết. Nên ông đã xin cha mình cho ra Hà Nội để theo học trường Cao Đẳng Luật. Sau khi tốt nghiệp, ông đã được cha cho đi Pháp tòng học tại trường đại học Sorbonne ở Ba Lê. Ông đã sớm hòa nhập với nhóm trí thức Việt Nam cũng đang du học tại Pháp. Tại đây ông có dịp làm quen với các cụ Phan Châu trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, vân vân. Khi còn du học bên Pháp, ông đã từng làm trợ bút cho nhiều tờ báo bên đó, lấy tiền để tự túc lo cho việc học của mình. Sau khi đỗ cử nhân Luật Khoa vào năm 1920, ông vẫn tiếp tục lưu lại Pháp để tiếp tục những hoạt động cách mạng, và lên đường về nước vào ngày 5 tháng 10 năm 1922.

Người Pháp đã nhiều lần chiêu dụ ông với quyền cao chức trọng, nhưng ông cương quyết khước từ. Dầu phải sống trong cảnh thanh bần, ông vẫn một lòng một dạ với đất nước và luôn giữ vững lập trường tranh đấu của mình vì dân vì nước. Ông là bạn rất thân với ông Trần Chánh Chiếu, người mở khách sạn Chiêu Nam Lầu, vừa làm kinh tế cho phong trào Minh Tân, vừa là nơi đi lại và hội họp của các nhà yêu nước đương thời. Đầu năm 1923, ông thành lập Đảng Thanh Niên Cao Vọng nhằm quy tụ đông đảo quần chúng. Bên cạnh đó, ông cũng phiên dịch những sách báo của J.J. Rousseau về Dân Ước, Dân Quyền và Dân Đạo... Ông đã cố gắng truyền bá rộng rãi tư tưởng tự do dân chủ của J.J. Rousseau: “Người ta sinh ra tự do, thế mà ở xứ nào con người cũng bị đóng gông cả, sống trong xiềng xích... Nhà nước là một tổ chức cai trị theo 'Khế Ước Xã Hội', vì thế nó phải phục tùng ý chí của người dân.” Tại quê nhà, ông có dịp ra mắt dân chúng và diễn thuyết tại Hội Khuyến Học Nam Kỳ vào đầu tháng giêng năm 1923 với đề tài “Chung đúc nền học thức cho dân An Nam (Une culture pour les Annamites)”. Đến tháng 10 năm 1923, ông lại diễn thuyết cho dân chúng đề tài “Lý Tưởng của thanh niên Việt Nam (L'ideal de la jeunesse Annamites)”.

Ngày 10 tháng 12 năm 1923, ông đã đứng ra chủ trương tờ báo tiếng Pháp tại Sài Gòn, đó là tờ “La Cloche Fêlée,” có nghĩa là Cái Chuông Nứt(1), đã lôi cuốn được cảm tình của đa số đồng bào miền Nam, nhờ những bài viết đả kích đường lối của thực dân Pháp tại Việt Nam. Và qua tờ báo, ông đã biểu lộ tư tưởng cách mạng yeu6 nước của mình. Tuy nhiên, sáu tháng sau, vì bênh vực cho nhà cách mạng Phan Bội Châu bị bắt ở Quảng Châu đưa về Hà Nội, Nguyễn An Ninh bị bắt, tờ báo bị đổi tên L'annam vào ngày 3 tháng 5 năm 1926. Trong vụ này, ông đã bị kết án 18 tháng tù. Sau đó Nguyễn An Ninh cùng bằng hữu đã nhanh chóng cho xuất bản tờ báo Đông Pháp sau đổi thành Thần Chung, nhằm khơi dậy lòng yêu nước trong giới thanh niên và giới trí thức. Tờ báo luôn nêu lên những yêu sách chính đáng của người lao động và hiện tình đất nước. Đến năm 1928, vì dính líu vào một vụ đánh lính Tây, Nguyễn An Ninh và người bạn ông là Phan Văn Hùm bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Chính trong thời gian này, phong trào Hội Kín Nguyễn An Ninh ra đời, thanh thế rất mạnh tại các vùng Hốc Môn Bà Điểm.

Đến năm 1930, sau khi ra tù, Nguyễn An Ninh đã hăng hái hoạt động luật pháp nhằm bênh vực cho giới lao động nghèo khổ. Năm 1932, ông viết cho tờ báo “Trung Lập” và tờ “La Lutte,” ký tên là Thông Reo. Sau đó tờ báo Trung Lập bị đóng cửa, ông quay sang nấu dầu cù là đem đi bán tại Sài Gòn và các vùng lục tỉnh(2). Hồi này, ông Nguyễn An Ninh thường lui tới các tỉnh miền Tây như Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh, Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, vân vân... nói là để tìm đại lý dầu cù là hiệu“An Ninh”, nhưng trên thực tế là để liên lạc với những người đồng chí hướng với mình. Có khi thì ông cùng mấy chú tiểu đồng(3) đi theo bày biện dầu cù là và thuốc cao đơn hoàn tán ra sạp ngoài bến xe để bán cho khách.

Lúc đó, người đồng chí hướng từng sát cánh, chia ngọt xẻ bùi với ông là ông Phan Văn Hùm, một nhà chí sĩ cách mạng trên khắp các vùng Hốc Môn, Bà Điểm, Bà Quẹo, Củ Chi, Bến Lức, vân vân. Sau vụ đánh Cai Nên và vụ biểu tình ở Xóm Lách (Sài Gòn), ông càng bị mật thám Pháp truy theo dõi gao hơn. Đã vậy, chính ông là người đã trở sang Pháp để rước cụ Phan Châu Trinh về nước và lo vận động cho cụ Phan đăng đàn diễn thuyết hai lần với hai để tài: Luân Lý và Đạo Đức Đông Tây & Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa. Sau đó, ông lại rước cụ Phạm Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền về nước, dự định vận động quần chúng cùng lên làm cách mạng. Quần chúng đất phương Nam thời bấy giờ rất thương mến ông, mỗi lần ông ra ứng cử vào Hội Đồng Thành Phố đều được mọi người ủng hộ tối đa. Nhưng đây cũng chính là cái gai mà thực dân Pháp muốn nhổ đi. Năm 1936, Thống Đốc Nam Kỳ ra lệnh bắt Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo và ông, lấy cớ là người này lãnh đạo cuộc đình công tại các vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Thủ Dầu Một. Sau gần một tháng bị giam giữ, ba người đã tuyệt thực 8 ngày, nên cuối cùng chính quyền thực dân phải nhượng bộ và trao trả tự do cho cả ba người. Nhìn lại chính quyền thực dân mà pháp trị của ngoại bang, thế mà trước sức ép nhân đạo của tuyệt thực, họ cũng đành phải nhượng bộ. Thế nhưng chua sót làm sao cho những người đồng chủng cai trị đồng chủng mà chẳng hề và chẳng bao giờ nao núng trước bất cứ tình huống nhân đạo nào. Đối với họ, ai muốn tuyệt thực đến chết thì cứ tuyệt thực, họ vẫn thản nhiên bắt bớ, giam giữ và tra tấn một cách tàn bạo những người đồng chủng với họ. Bằng phương tiện tàn bạo nào họ cũng sẵn sàng ra tay, miễn là quyền cao chức trọng nằm trong tay bè đảng của họ. Mà thật vậy, vì quyền lợi của băng đảng bè phái mà chuyện bán đất bán biển họ cũng không từ, huống chi là chuyện bắt bớ, giam cầm và đánh đập người đồng chủng, chỉ là chuyện nhỏ đối với họ mà thôi!

Thôi, đó là chuyện dài đau thương của cả dân tộc, bây giờ chúng ta hãy quay trở về nói chuyện về ông Nguyễn An Ninh. Sau khi được tha lần này, Nguyễn An Ninh lại tiếp tục tham gia hoạt động viết báo, nhưng đến đầu tháng 5 năm 1937, xảy ra một cuộc biểu tình ở Càng Long, thuộc tỉnh Trà Vinh, nhà cầm quyền kết tội ông Nguyễn An Ninh là người lãnh đạo, nên họ đã bắt Nguyễn An Ninh và kết án 5 năm biệt xứ. Mãi đến tháng giêng năm 1939, ông mới được ân xá, nhưng lại bị quản thúc tại Mỹ Tho. Khi đệ nhị thế chiến bắt đầu thì Nguyễn An Ninh lại bị bắt(4) đày ra Côn Đảo. Đến tháng 7 năm 1943 thì ông mất tại đó. Bên cạnh những hoạt động chính trị một cách tích cực, Nguyễn An Ninh còn là một nhà báo và nhà văn nổi tiếng. Tác phẩm viết bằng tiếng Việt của ông gồm có “Tôn Giáo,” “Hai Bà Trưng” và “Dân Ước(5)”.

Tóm lại, Nguyễn An Ninh là một nhà chí sĩ yêu nước, người đã dành trọn hơn nửa phần đời của mình cho những hoạt động nhằm đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước. Trong cơn quốc phá gia vong, ông đã nêu cao tấm gương nhiệt thành yêu nước của con dân đất phương Nam. Ngày nay, mỗi khi nói đến tên Nguyễn An Ninh, không ai là không biết, một con người tài hoa, đã đem cả tâm lực và ngay cả sinh mệnh của chính mình để phục vụ đồng bào và tổ quốc. Ông là một trong những người yêu nước hoạt động tích cực nhất ở Nam Kỳ vào đầu thế kỷ thứ XX, một trong những tấm gương sáng chói đáng được đàn hậu bối chúng ta luôn kính ngưỡng và noi theo.

Ghi Chú:

(1)          Tờ báo đề cập đến nhiều vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục. Riêng về giáo dục, ông Nguyễn An Ninh đã vạch rõ: “Toàn quyền Merlin đã ra một nghị định hủy bỏ quyền tự do giảng dạy. Chính phủ nói là bảo hộ, nhưng lại tước mất quyền đó của chúng tôi. Kết quả là hàng trăm ngàn người An Nam không biết đi học ở đâu vì không có trường.” Trong các bài viết của tờ báo Tiếng Chuông Nứt này, Nguyễn An Ninh còn nêu lên vấn đề: “Tiếng mẹ đẻ là cội nguồn chính để các dân tộc đánh đuổi ngoại xâm... Những ai hiểu biết vững chắc một nền văn hóa dân tộc, mới có đủ khả năng thưởng thức được nền văn hóa ngoại bang. Từ bỏ văn hóa cha ông và tiếng mẹ đẻ, phaỉ làm cho người An Nam lo lắng cho tương lai của nòi giống... Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng tự do, đã từng có một nền văn hóa vào cái thời mà ở Pháp người ta còn sống quần tụ quanh các đầm nước.” Ngày 3 tháng 5 năm 1926, tờ báo La Cloche Fêlée được đổi tên thành tờ L'annam từ số 63 trở đi cho đến số 182 ngày 2 tháng 2 năm 1928 thì bị đình bản.

(2)          Phải thành thật mà nói, Nguyễn An Ninh là một chí sĩ cách mạng yêu nước vô bờ bến. Dầu người Pháp đã nhiều lần khuyến dụ ông hợp tác để được vinh hoa phú quí, nhưng ông đều từ chối. Là một nhà trí thức, con nhà khá giả, thế mà ông quyết định đi bộ từ làng này qua làng nọ ở các vùng thân yêu của miền đất phương Nam để vừa bán dầu cù là, vừa hoạt động chống Pháp. Ông đến các bến xe, các phố chợ ở Sài Gòn để cổ động đồng bào chống lại sự thống trị của thực dân. Hồi này, ông Nguyễn An Ninh thường lui tới các tỉnh miền Tây như Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh, Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, vân vân... nói là để tìm đại lý dầu cù là hiệu “An Ninh”, nhưng trên thực tế là để liên lạc với những người đồng chí hướng với mình. Có khi thì ông cùng mấy chú tiểu đồng đi theo bày biện dầu cù là và thuốc cao đơn hoàn tán ra sạp ngoài bến xe để bán cho khách. Chính tác giả tập sách này đã từng nghe ông ngoại là ông Trần Văn Tiếng (1889-1963) kể lại là ông ngoại rất quen với Nguyễn An Ninh và mỗi lần ông Ninh về Sa Đéc hay Vĩnh Long đều có ghé qua nhà ông ngoại ở Vĩnh Long rủ đi uống cà phê, hoặc có khi cả hai người cùng qua thăm ông Hội Đồng Thu ở Tân Vĩnh Hòa, Sa Đéc, năm ba bữa mới trở về lại Vĩnh Long, nhưng ông ngoại không nói để làm gì và người viết lúc đó vào khoảng đầu thập niên 1960s thì còn quá nhỏ để biết mà hỏi thêm chi tiết về nhà chí sĩ yêu nước này. Tương truyền công thức nấu dầu cù là của một vị hoàng tử Miến Điện tên là Myngoon Min đã cho bà Xuyến, chủ khách sạn Chiêu Nam Lầu để đền ơn đã cho ông nương náu trong thời gian người Pháp ở Sài Gòn tịch thu căn nhà của ông. Về sau này bà Xuyến đã tặng lại cho nhà chí sĩ Nguyễn An Ninh, nhằm giúp cho ông có được phương tiện hoạt động đó đây để che mắt sự theo dõi của người Pháp. Người dân Sài Gòn thời đó kể lại rằng dầu cù là do Nguyễn An Ninh bào chế theo công thức của hoàng tử Miến Điện rất hay và làm ra không kịp bán vì nó quá hiệu nghiệm. Mãi đến ngày nay, dân vùng Hóc Môn Bà Điểm vẫn còn có bài thơ:

“Cù là hay lắm mấy ông ơi,

Dầu hiệu An Ninh thí nghiệm rồi. Quệt thử bên hông, chùm mật nhảy, Uống vào trong bụng, huyết tim dôi...”

(3)          Khoảng tháng 3 năm 2002, ông Nguyễn An Định là con trai lớn của ông Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn có tìm về Sa Đéc gặp ông Huỳnh Văn Gầm để nhận lại những kỷ vật của cha mình, gồm một chiếc áo dài và một cây gậy. Theo Nhất Thống trong quyển Hương Quê Thương Nhớ, tr. 137-143, ông Gầm là một trong những người làm trong nhà của ông Hội Đồng Thu, năm 11 tuổi ông Huỳnh Văn Gầm từ quê (Lai Vung) ra Sa Đéc để làm mướn cho gia đình ông Hội Đồng Thu, được nhà ông Hội Đồng cho phép đi theo ông Ninh. Từ đó, ông Gầm được ông Nguyễn An Ninh gửi cho đi học chữ và sau đó ông Gầm theo ông Ninh rày đây mai đó trên khắp các vùng Nam Kỳ. Cuối cùng, ông Nguyễn An Ninh đưa ông Gầm qua Nam Vang rồi giao hẳn công việc buôn bán ở đó cho ông Gầm, rồi ông Ninh trở về Sài Gòn. Sau đó, theo lời ông Gầm thì ông Ninh còn gửi lên nhiều tờ báo in tại Nam Kỳ lên Nam Vang cho ông cùng ông Nguyễn Văn Vạn cùng đi bán như tờ Trung Lập, Đuốc Nhà Nam, Phụ Nữ Tân Văn, Thần Chung...Nhưng đến năm ông Gầm được 22 tuổi và mọi chuyện ở Nam Vang đều đã ổn định, thì ông Nguyễn An Ninh bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, rồi mất tại Côn Đảo vào năm 1943.

(4)          Trong suốt gần 20 năm hoạt động nâng cao dân trí để chống sự cai trị của thực dân Pháp của ông Nguyễn An Ninh, thì hiền thê của ông là bà Trương thị Sáu cũng luôn cùng đồng hành và chia xẻ với nhá chí sĩ cách mạng yêu nước này, từ Khám Lớn Sài Gòn đến nhà tù Côn Đảo. Bên cạnh đó, bà đã thay chồng nuôi dạy 5 người con, 3 trai và 2 gái, đều thành đạt và trở thành những người hữu dụng sau này.

(5)          Dân Ước được dịch ra từ bộ Le Contrat Social của Jean-Jacques Rousseau.

                                     ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn