Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000131
Số lượt truy cập
21865918
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-03-12 08:33:46

 

 4)Nguyễn An Khương & Nguyễn An Cư

Nguyễn An Khương là một nhà văn nổi tiếng của vùng đất phương Nam hồi đầu thế kỷ thứ XX, cũng là một sĩ phu yêu nước, thủ lãnh phong trào Duy Tân ở miền Nam. Ngay từ nhỏ, Nguyễn An Khương đã tỏ ra thông minh đĩnh đạt, thâm thông Hán học, lại có lòng yêu nước nồng nàn, lúc nào cũng muốn đem thân mình ra phụng sự cho quốc gia dân tộc. Ông cũng là một trong những sĩ phu Nam Kỳ đầu tiên hưởng ứng phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục.

Ông sanh ra và lớn lên tại vùng Gia Định trong một gia đình trung lưu. Ngay từ lúc còn đi học, ông đã tỏ ra rất lưu tâm đến vận mệnh của đất nước. Tuy nhiên, ông rất dè dặt và khéo léo trong mọi hoạt động của mình. Để che mắt thực dân Pháp và bọn tay sai, ông đã ra làm trợ bút cho tờ báo “Nông Cổ Mín Đàm” ở Sài Gòn và thản nhiên ngồi dịch truyện Tàu như các bộ “Tam Quốc Chí,” “Phấn Trang Lầu,” “Thủy Hử,” vân vân, làm như không có chuyện gì hết. Nhưng bên trong, ông là một trng những người hoạt động chống thực dân Pháp rất hăng say. Chính ông đã thành lập khách sạn “Chiêu Nam Lầu” ở Sài Gòn, nhằm làm cơ sở làm ra tài chánh cho những nhà hoạt động cách mạng khác. Chiêu Nam Lầu cũng chính là trụ sở kín để các lãnh tụ chống Pháp thời đó đến hội họp bàn thảo kế hoạch. Ông cũng là một trong những sĩ phu tích cực yểm trợ cho phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu đề xướng bằng cách cho nhiều người thân tín đi về các miền lục tỉnh tiì kiếm những học sinh giỏi ở các trường tỉnh, rồi khuyến khích gia đình tiếp tục chuẩn bị cho những học sinh hoàn tất chương trình trung học. Sau đó, những người trong phong trào Đông Du sẽ hoàn tất thủ tục đưa những học sinh này đi du học, tất cả chi phí ăn ở và du học đều do nhóm của ông đài thọ, nghĩa là gia đình không tốn kém tiền bạc chi cả. Để giúp phương tiện đưa rước các thanh niên xuất dương du học, ông đã dành hết tiền thâu được từ khách sạn Chiêu Nam Lầu ở vùng Chợ Lớn Cũ, tức vùng Sài Gòn ngày nay.

Nguyễn An Khương là một người có chí hướng rất mạnh mẽ, ngay cả đối với con mình. Tương truyền, trước khi con trai ông là Nguyễn An Ninh lên đường du học, ông đã đưa con lên Lăng Ông Bà Chiểu và bắt con phải thề trước đức Tả Quân là không bao giờ vì bả vinh hoa phú quí mà thay đổi chí hướng. Mà thật vậy, về sau này, Nguyễn An Ninh đã giữ đúng lời thề, dầu thực dân Pháp có chiêu dụ thế mấy, đem quyền cao chức trọng ra chiêu dụ, ông vẫn một mực khước từ, dầu phải đi bán dầu cù là dạo khắp các miền lục tỉnh.

Người em ruột của Nguyễn An Khương là ông Nguyễn An Cư cũng đồng chí hướng với ông. Chính ông Nguyễn An Cư cũng đã hiến cả đời mình làm thầy thuốc giúp đỡ dân nghèo, nổi tiếng là Hoa Đà Hốc Môn. Bên cạnh đó, Nguyễn An Cư cũng hết lòng giúp đỡ các tổ chức chống Pháp bằng hết cả tâm huyết lẫn tài sản. Nguyễn An Cư là một thầy thuốc lúc nào cũng tận tâm, hễ nơi nào có bệnh gọi đến ông là ông đến nơi. Cuộc đời của hai anh em nhà chí sĩ Nguyễn An Khương và Nguyễn An Cư quả là những tấm gương sáng đáng cho hậu thế noi theo. Mỗi khi nhắc đến những chí sĩ yêu nước của vùng đất phương Nam hồi đầu thế kỷ thứ XX, ai trong chúng ta cũng đều nghiêng mình tưởng nhớ đến hai ông, những người đã góp phần điểm tô cho những trang sử đẹp, thật đẹp của vùng đất phương Nam.

 

5) LêVăn Trung(1875-1934)

Lê Văn Trung sanh tại vùng Chợ Lớn. Sau khi học xong ban Trung học Pháp, ông được bổ làm thư ký tại Súy Phủ Nam Kỳ. Vào năm 1906, ông đắc cử Hội Đồng Quản Hạt. Vì chống đối lại với bản dự thảo thuế “Lục Hạng Điền” của quan Quyền Thống Đốc Nam Kỳ là Outrey, nên ông cùng với 5 nghị viên Việt Nam từ chức. Sau đó ông lại ra tranh cử và lại đắc cử. Từ đó thế lực chính trị của ông rất mạnh. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1911 ông bắt đầu hoạt động xã hội. Ông cùng một nhóm trí thức đương thời thành lập trường Áo Tím, dưới thời VNCH là trường Nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn.

Năm 1925, ông lại từ chức nghị viên. Từ năm 1926, ông gia nhập đạo Cao Đài và hoạt động tích cực để phổ biến nền đạo tại miền Nam. Khoảng tháng 9 năm 1926, ông đã đứng đơn xin khai đạo cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Từ đó, đạo Cao Đài được chính thức hoạt động. Năm 1930, ông được hàng giáo phẩm cao cấp phong cho Quyền Giáo Tông. Ngay sau đó, Thống Đốc Nam muốn hạ uy tín của ông nên vịn vào một cái cớ nhỏ nhặt để tìm cách bắt ông, nhưng hàng trăm ngàn tín đồ đã cực lực phản đối, nên cuối cùng viên Thồng Đốc người Pháp đành phải nhường bộ thả ông ra và cho phép ông tự do hành đạo. Kể từ đó, ông quyết chí tu tập và phát triển nền đạo ngày càng một phổ biến rộng rãi hơn. Ông qua đời tại Tây Ninh vào ngày 19 tháng 11 năm 1934.

 

6)Phan Xích Long và Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1913

Phan Xích Long tên thật là Phan Phát Sanh, lại có một tên khác nữa là Phan Lạc, sanh năm 1893, là con của một người lính cảnh sát trong Chợ Lớn tên là Phan Núi. Lúc nhỏ Phan Phát Sanh không ham học và rất nghịch ngợm, nên hay bị chính quyền địa phương theo dõi. Chính vì vậy mà ông bị cha đuổi đi khỏi nhà. Từ năm 1908 đến năm 1910, Sanh đi về miền Thất Sơn, lên núi Tà Lơn, rồi qua Miên và Xiêm theo học nghề Thầy Pháp, biết nói các thứ tiếng Lào, Miên, Thái, và Trung Hoa, cũng như rành các thứ pháp thuật.

Khoảng năm 1911, khi cảm thấy có đủ lực lôi cuốn được quần chúng, ông bèn trở về Sài Gòn, sống bằng nghề thầy bói, gần như ngoài vòng pháp luật. Đến tháng 7 năm 1911, ông cùng Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp tổ chức Hội Kín, và cả ba cùng mở một cửa hàng bán xe đạp với số vốn khoảng 400 đồng bạc Đông Dương, rồi giao cho Tư Phát làm quản lý, để lấy tiền làm kinh phí cho những sinh hoạt của Hội. Theo sự phân công thì Phan Phát Sanh phải mạo nhận mình là dòng dõi hoàng tộc thuộc hệ Hàm Nghi, trong mình bao giờ cũng đeo một chiếc khánh có khắc chữ “Đông Cung Thái Tử”.

Trong giai đoạn chuẩn bị, Phan Phát Long phải giả danh làm nhà sư, mặc đồ tu đi khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Còn Trí và Hiệp thì đi tìm người để tôn lên làm Phật sống. người đó chính là ông Nguyễn Văn Kế, một cụ già mà hai ông Trí và Hiệp gặp tại sở Bưu Điện Chợ Lớn. Hiệp và Trí đón ông Kế về làng Đa Phước, tạm trú tại nhà của Trí, rồi tung tin đồn rằng ông cụ này chính là Phật sống, làm cho thiên hạ tin theo mà kéo đến sùng bái. Kỳ thật, ông Kế có hai người con trai, một tên là Ba Mùa làm nghề đánh xe trong toàn bố tỉnh Gia Định và một tên là Tư Màng làm thợ trong xưởng Ba Son, cả hai đều theo cha gia nhập Hội Kín. Nhưng ít lâu sau đó thì quan lại địa phương sinh nghi, bèn bắt cả Trí và Hiệp cùng với ông Phật sống tên Kế giải lên quan Tham Biện Gia Định, nhưng viên Tham Biện không có chứng cứ đâu để buộc tội buộc lòng phải thả họ ra. Sau khi được thả ra, ngày 15 tháng 11 năm 1911, ông Kế, tức là người giả làm Phật sống, phải dời về đường Thuận Kiều ở Chợ Lớn (gần nhà thương Chợ Rẫy). Tại đây vẫn có nhiều người lui tới vì tin tưởng sự linh thiêng của vị Phật sống này, họ tiếp tục dâng cúng tiền của và vàng bạc. Đây cũng chính là địa điểm nhóm họp của các thành viên trong Hội Kín, bàn họp về phương cách đánh Pháp.

Theo thứ bậc trong Hội thì sau Trí và Hiệp là ông hương chủ Phước, tức là ông Trương Văn Chước, cha của ông Tư Phát làm nghề cho thuê xe đạp. Sau đó là những ông Nguyễn Văn Của, Nguyễn Văn Ngọ gia nhập vào Hội. Về sau này ông Ngọ đóng vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa ở Chợ Lớn. Ngoài ra, Hội Kín còn móc nối đuợc ông Nguyễn Văn Tám, tức ông Tám Tâm, đang làm lính tập lưu hậu, đứng làm quản lý một tiệm do Hội mở ra ở Cần Vọt. Trong nhà của Tư Phát có một quyển dổ biên tên những món tiền xuất nhập do nhiều người quyên góp cho Hội. Mọi chuyện đang diễn tiến tốt đẹp thì ông Kế, tức người giả làm Phật sống, qua đời vào tháng 2 năm 1912. Hai Trí bèn nhân cơ hội này tự đặt ra chuyện di ngôn của ông Kế như sau: “Trước khi chết, đức Phật sống có trối lại rằng sau khi ngài chết, phải tôn Phan Phát Sanh lên làm hoàng đế.” Sau khi ông Kế qua đời, con trai thứ của ông là Tư Màng đem linh vị của ông về nhà, đặt lên bàn thờ để cho thiên hạ đến viếng lạy. Trong khi đó, Hiệp và Trí đi sang Battambong, Cao Miên, để đón Phan Phát Sanh. Tháng 9 năm 1912, Sanh cùng Hiệp và Trí trở về Chợ Lớn, ngụ tại đường Thuận Kiều, trong tiệm bán và cho thuê xe đạp do Tư Phát làm quản lý, và cũng là nơi thờ linh vị của đức Phật sống. Tại đây Phan Phát Sanh thường đi thăm hương chủ Phước. Sau đó Sanh lại dời về một tửu quán trên đường Bourdais tại Sài Gòn. Nguyên tiệm rượu này là tiệm Nam Hòa Hiệp do hương chủ Phước cùng con trai Trương Văn Chi lập ra để cho Sanh ở và lên ngôi hoàng đế. Ngày 14 tháng 10 năm 1912, Phan Phát Sanh mở tiệc khoản đãi ra mắt mọi người là ông chính thức lên ngôi hoàng đế, nên từ đó mọi người tôn kính Sanh như một vị vua. Sanh được gọi là Phan Xích Long hoàng đế. Hội Kín cho Phan Xích Long ăn mặc trang phục như một vị vua. Long có một chiếc khánh có khắc năm chữ “Phan Xích Long Hoàng Đế” do một bà già đem tới dâng tặng. Phan Xích Long lại có chiếc ấn khắc những chữ: “Đại Minh Quốc, Phan Xích Long Hoàng Đế, Thiên Tử Ngọc Tỷ.” Ngoài ra, Phan Xích Long còn có một thanh gươm có đề: “Tiên đả hôn quân, hậu đả loạn thần”; và một chiếc vòng đeo tay có khắc chữ: “Dân Cống”. Tất cả những đồ trang sức này có tổng trị giá lên đến ba bốn ngànđồng bạc Đông Dương. Mỗi lần Phan Xích Long bước vào ghế ngự, hội còn tổ chức lễ nhạc. Khi lên ngồi trên ngai, Long cũng đeo ngọc đai, tức dạy đeo lưng của vua, có hình rồng lộn quanh.

Tháng 10 năm 1912, sau khi Phan Xích Long chính thức lên ngôi hoàng đế tại tửu quán Nam Hòa Hiệp ở Sài Gòn, nhiều người quyên góp tiền làm chùa ở Cần Vọt, Phan Xích Long bèn dời về chùa ở Cần Vọt. Chùa này nằm trên triền núi vùng Thất Sơn, Châu Đốc, giáp với biên giới Việt-Miên. Ngày 19 tháng 12 năm 1912, một thanh niên tên Lạc tới xin khẩn một khu đất rộng gần chùa. Sau đó rất nhiều người theo tới để khẩn đất. Hồi này, hội kín của Phan Xích Long đứng dưới danh nghĩa hội khẩn đất và giúp nhau cất nhà. Long, Hiệp và Trí đã biến nơi này thành căn cứ Thất Sơn, một căn cứ địa của phong trào. Cảnh chùa tuyệt đẹp trên lưng chừng Núi Tượng, cách Cần Vọt khoảng 800 thước, rất khó cho người khác lui tới. Tại Cần Vọt thì Hội cho mở một quán làm nơi liên lạc lên chùa. Ai muốn lên chùa đều phải qua quán này, vì lúc này chùa chính là nơi hội họp của các kháng chiến quân dưới lốt Tăng Ni. Trong chùa có kho chức lương thực và tiền bạc có thể nuôi khoảng một trung đoàn quân kháng chiến trên một năm. Ông Trí đã lưu lại ngôi chùa này trong 3 năm trước khi cầm đầu nghĩa binh về đánh phá Khám Lớn Sài Gòn.

Khoảng đầu năm 1913, Phan Xích Long liên lạc với Tư Màng để cùng thảo luận việc mướn xưởng thợ của Tám Giàu ở Sài Gòn làm trái phá do Long vẽ kiểu(1). Ngoài ra, Long còn giao cho Hai Trí đi mướn thợ rèn Ngô Văn Đặng ở Rạch Cát làm 80 thanh gươm, toàn bộ những thanh gươm này được gói trong vải, chia làm 4 bó. Hai Trí, hương chủ Phước, hương trưởng Ngọ và Tư Phát, mỗi người giữ một bó. Trước khi hành động, Long giao cho hương chủ Phước việc in và dán bố cáo các nơi. Bố cáo viết rằng: “Sẽ có một người là chánh vì vương tên là Phan Xích Long; sẽ ra đánh nhau với Pháp, khuyên những người dân buôn bán ngoại quốc cùng dân ở chợ phải trốn theo họ, đem bạc giấy mà đổi ra bạc đồng.”

Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 3 năm 1913, Hai Trí ra lệnh cho Đặng Tấn Sao chở 5 trái phá thẳng đến Sài Gòn, đậu xe tại Cầu Ông Lãnh. Từ 9 đến 11 giờ khuya, Trí ra lệnh cho 5 người khác đến cầu Ông Lãnh lấy trái phá. Trương Văn Chi đặt một trái ở đường Kinh Lấp, hương sư Tài đặt một trái ở ngả đường cắt ngang đường rầy xe lửa, Huỳnh Văn Tính đặt một trái ở dinh Chánh Soái, Nguyễn Văn Thạnh là một lính cựu pháo thủ coi việc bắn súng đại thương sẽ mang vào tận trong dinh Nguyên Soái Nam Kỳ mà đặt một trái, còn trái thứ năm thì đích thân Tư Màng sẽ đem vào đặt trong Sở Ba Son. Khắp đô thành Sài Gòn, hễ nơi nào có đặt trái phá thì tại đó đều có dán cáo thị của Hội. Việc đặt trái phá ở Chợ Lớn do hương trưởng Ngọ phụ trách. Ngọ cũng phụ trách việc biệt phái Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Văn Huân, Nguyễn Đăng Hộ, và Nguyễn Văn Cầu đem trái phá đặt tại những nơi như Chợ Gạo, Chợ Bình Tây, chân cột đèn trên đường quan lộ. Đâu đâu cũng đều có dán cáo thị từ đường quan lộ, nhà hội đồng của làng, thậm chí ngay tại dinh tổng đốc ở Chợ Lớn cũng có dán cáo thị. Phan Xích Long lại cho người đem cáo thị về niêm yết tận các tỉnh như Tân An, Gò Công, Sóc Trăng... Trong khi đó Nguyễn Văn Đông giao cho một người phu trạm Cao Miên tên là Khuôn, mang cáo thị lên niêm yết trên tận Nam Vang.

Tổ chức xong xuôi mọi việc, bốn ngày sau, tức ngày 28 tháng 3 năm 1913, 600 người ở Chợ Lớn và Tân An ùa vào châu thành, họ mặc toàn y phục màu trắng, đầu chít khăn xéo, bỏ mối lòng thòng giữa trán làm dấu hiệu. Người ta nói rằng truớc khi khởi hành những người này đã uống bùa của hương trưởng Ngọ, nên họ tin rằng có thể thay hình đổi dạng hay tàng hình với phép lăng ba di bộ, không ai có thể trông thấy họ được. Họ đến từ những nơi cách Chợ Lớn từ 20 đến 30 cây số, có người đi bộ, có người đi bằng xe lửa ban đêm. Khi trời vừa hừng sáng thì họ kéo vào châu thành. Nhưng tất cả đều bị lính Pháp và mả tà chận bắt đem về những bót gần đó.

Khi bị hỏi cung thì họ khai là họ nghe nói có Hoàng Đế Phan Xích Long về kinh lý vùng Sài Gòn Chợ Lớn, nên muốn kéo về đây để thấy mặt Hoàng đế vậy thôi!

Trong khi đó, tại các nơi, trước khi trái phá được kích hỏa thì phần lớn đều bị bắt tại các khu Tòa Bố, kho bạc, hay dinh Tổng Đốc. Trong số những người bị bắt có cả Phan Xích Long, Hai trí, Nguyễn Văn Hiệp, Tư Phát(2), vân vân. Điểm đặc biệt là lúc bị bắt, những người cầm đầu như Phan Xích Long(3), Nguyễn Văn Hiệp, Hai Trí... đều có thái độ cứng cỏi và kiên cường. Dầu bị tra hỏi thế nào họ cũng chẳng khai gì cả. Ngược lại, họ luôn giữ thái độ bình tĩnh. Nguyễn Văn Hiệp và nói thẳng rằng: “Rất ghét Tây cai trị Việt Nam, nếu có ai phát hỏa lôi cho chúng tôi, là chúng tôi sẽ đem ném vào đầy tụi Tây; nếu có bị băm vằm mà chết chúng tôi cũng cam.” trong khi đó, thái độ của hương trưởng Ngọ cũng bình tĩnh và kiên cường không kém. ngọ tuyên bố rằng: “Chẳng quản thân này mất còn, mai đây khởi nghĩa sẵn tâm.” Bản thân Phan Xích Long đã oai nghiêm nhận rằng chính mình đã ra lệnh cho chư quân đem trái phá mà ném cho nổ nay không thấy nổ, thì rất buồn phiền. Phan Xích Long nói tiếp: “Sở dĩ tôi làm vậy là để phản đối chính sách thuế khóa của người Pháp quá nặng. Tôi chỉ muốn cho những trái phá nổ để lấy tiếng vang, chứ không cố ý làm chết người, với hy vọng người Pháp sẽ sửa đổi chính sách cai trị và thuế khóa trên xứ sở này.” Khi hỏi về nguồn gốc các loại vũ khí và trái phá, thì Phan Xích Long cho biết là do chính ông đã học được từ lúc còn ở bên Xiêm.

Mặc dầu cuộc khởi nghĩa chưa gây ra thiệt hại, nhưng tòa án(4) đã kết án Phan Xích Long tù chung thân, còn những người khác mỗi người 20 năm tù. Tưởng cũng nên nhắc lại, trong số 111 người bị kết án trong vụ này với 2 thành phần nông dân và người buôn bán, có 20 người dưới tuổi 20, 93 người từ 20 đến 49, và 10 người trên 50 tuổi. Phải thành thật mà nói, Phan Xích Long là một thanh niên sanh ra trong thời nhiễu nhương loạn lạc của đất nước, lại thêm tánh khí ngang bướng, nên bị gia đình từ bỏ, nên gia nhập vào giới giang hồ rày đây mai đó. Nay Sài Gòn, mai Nam Vang, sống đời buông thả không có định hướng. Rồi sau đó lại gặp Hai Trí và Nguyễn Văn Hiệp bốc ông lên tận mây xanh, cho làm đứa con ngang xương của Vua Hàm Nghi, được ăn mặc lộng lẫy với những chiếc long bào, được ăn sung mặc sướng và ở nhà đẹp. Tự thân Phan Xích Long cũng không biết là mình đang đánh giặc theo kiểu học gồng của Hai Trí và Nguyễn Văn Hiệp. Ban đầu, sau khi lần giở lại những trang tài liệu về biến cố Phan Xích Long vào năm 1913, người viết bài này cảm thấy vô cùng khó chịu, vì nghĩ rằng tại sao lại có những có thể suy nghĩ lạ lùng đến như thế(5). Nhưng thôi, lịch sử Pháp thuộc đã sang trang, bây giờ mình có nói gì hay viết gì thì diễn tiến vụ việc Phan Xích Long đã xảy ra cách nay 104 năm rồi. Có một điều, sau khi đã bị Tây bắt, hầu hết những người cầm đầu trong nhóm Phan Xích Long, nhất là tự thân Phan Xích Long đều tỏ ra có đầy đủ chí khí của một bậc trượng phu anh hùng, rất đáng khâm phục. Theo thiển ý, bỏ qua những phương cách tổ chức hay những dụng ý của người tổ chức(6), vào những giây phút cuối cùng trước phiên xử tại tòa Đại Hình Sài Gòn, Phan Xích Long, Nguyễn Văn Hiệp, Hai Trí, Ba Mùa, Tư Màng, vân vân, đều cho thấy ai cũng có tấm lòng yêu nước nồng nàn và nhận trách nhiệm về việc mình đã làm, khiến cho chúng ta không khỏi ngậm ngùi thương cảm cho những hào kiệt đất phương Nam, biết rõ trong tay mình chẳng có gì để đánh được Tây, nhưng họ vẫn cứ làm. Cuộc kháng chiến tuy thất bại, nhưng gương anh dũng của những hào kiệt đất phương Nam luôn ngời sáng.

Ghi Chú:

(1)          Tám Giàu là một nhân viên Sở Ba Son thời đó, ông ta có một xưởng thợ khá lớn ở Bình Hòa, Gia Định, nhận của Long 330 đồng bạc Đông Dương cho việc làm trái phá. Trái phá nặng khoảng từ 14 đến 16 kí lô, mỗi quả có khoảng 6 cân thuốc súng, gồm than trộn với diêm hoàng, nhét vào bên trong một cân đạn, vỏ bên ngoài được ghép lại bởi hai mảnh. Hễ động mạnh vào là thuốc cháy, vỏ nổ vỡ ra và đạn tung ra.

(2)          Khi khám nhà Tư Phát, nhà cầm quyền Pháp đương thời còn tìm thấy 15 cây gươm, 1 cây cờ đại sắc xanh, có hình rồng đỏ, nhiều áo lễ, bằng cấp và sổ sách. Trong sổ sách có ghi rằng khi khởi nghĩa mỗi tỉnh phải dùng cờ sắc riêng; cờ đen thì treo trên đỉnh núi, còn ngoài ra là cờ đủ màu sắc; cờ đỏ có hình ngôi sao trắng, cờ vàng có hình 7 ngôi sao đề 3 chữ Đaị Minh Quốc.

(3)          Gần đến ngày khởi nghĩa, Phan Xích Long cho dán bố cáo và rải truyền đơn khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, như thể là muốn báo cho Pháp biết vậy! Truyền đơn xuất hiện đầu tiên hồi 3 giờ khuya ngày 23 rạng 24 tháng 3 năm 1913. Trong tập thơ xưa, Hoàng Đế Phan Xích Long lúc bị bắt có đoạn như sau:

“Tháng hai, mười bảy, bình minh, Trái phá, văn hịch, châu thành bỏ rơi. Nghe ra rơi bỏ nhiều nơi,

Nhịp nhàng kỳ hạn, kịp thời cũng hay. Đều y một buổi một ngày,

Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây cũng là, Nhiều nơi, tờ hịch dán ra...”

(4)          Sáng sớm ngày thứ tư mồng 5 tháng 11 năm 1913, tòa đại hình Sài Gòn đã xử vụ 104 người bị bắt, trong đó có 89 người bị bắt ngay trong ngày 28 tháng 3 năm 1913 tại Chợ Lớn.

(5)          Nếu muốn làm một cuộc khởi nghĩa, thì phải lấy yếu tố bất ngờ làm trọng, hà cớ gì phải dán bố cáo và rải truyền đơn khắp nơi cho người Pháp biết trước? Còn nếu như muốn phản đối chánh sách thuế khóa của người Pháp trong bất bạo động, ông Phan Xích Long có thể sách động công nhân và dân chúng biểu tình.

(6)          Lúc đó có dư luận cho rằng những người cầm đầu trong nhóm Phan Xích Long đã lợi dụng danh nghĩa kháng chiến để lừa dối tiền bạc của dân chúng.

                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn