Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000143
Số lượt truy cập
21865852
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-02-21 06:08:44


 CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU

Cuộc Kháng Chiến

CủaNguyễn Trung Trực

 

Nguyễn Trung Trực (?-1868) tên thật là Nguyễn văn Lịch, tục gọi là Quản Lịch hay Quản Chơn. Ông vốn người miền Trung, không biết ông sanh ra năm nào, theo gia đình vào Nam sinh sống ở vùng Long An. Ông và gia đình chuyên nghề chài lưới, nhưng cha ông mất sớm, ông hết lòng phụng dưỡng mẹ già. Ông là một thanh niên lực lưỡng và tính tình khẳng khái. Khi Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông, ông đã chứng kiến cảnh giặc Pháp bắt bớ, hãm hiếp và chém giết đồng bào vô tội, nên ông đã xin mẹ cho phép mình đi theo nghĩa binh chống giặc hầu đem lại thanh bình cho xứ sở. Cũng như bao nhiêu thanh niên khác và các thân hào nhân sĩ trong vùng, Nguyễn Trung Trực đã hưởng ứng phong trào “Bình Tây Sát Tả.” Không riêng gì Nguyễn Trung Trực, mà quan quân khắp nơi đã tự động đứng lên hiệu triệu quần chúng, chiêu mộ nghĩa dũng, quyết tâm phất cờ chống giặc Pháp xâm lăng.

Hưởng ứng lời kêu gọi kháng Pháp của vua Tự Đức, ông đứng lên tụ nghĩa và khởi binh ở Long An cùng lúc với Lãnh Binh Trương Định đang dựng cờ khởi nghĩa trên đất Gò Công hồi hậu bán thế kỷ thứ XIX. Ở Mỹ Tho thì có Nguyễn Hữu Huân, tức Thủ Khoa Huân, ở vùng Đồng Tháp Mười thì có Võ Duy Dương tức Thiên Hộ Dương đứng lên lập chiến khu Tháp Mười. Phải nói Nguyễn Trung Trực là một trong những anh hùng kháng Pháp nổi bật nhất vào hậu bán thế kỷ thứ XIX. Ông đã cùng người bạn thân là ông Nguyễn Văn Cầm dựng cờ khởi nghĩa đánh Tây dưới danh hiệu “Dân Chúng Tự Vệ” và đặt căn cứ tại vùng Thủ Thừa, thuộc tỉnh Long An. Đây là vùng có nhiều sông rạch, Pháp thường cho những chiếc tàu nhỏ đi tuần tiểu và truy kích nghĩa binh. Lúc này triều đình Huế vẫn còn ngấm ngầm ủng hộ nghĩa quân chống Pháp, nên vua Tự Đức đã phong cho ông chức Quản Cơ, nên người đương thời còn gọi ông là Quản Lịch hay Quản Chơn. Còn cái tên Nguyễn trung Trực có lẽ là do triều đình hoặc dân chúng vì cảm phục lòng trung trực báo quốc mà đặt cho ông. Và cũng kể từ đó nghĩa binh của ông hoạt động mạnh và đánh phá nhiều đồn bót của Tây trong vùng.

Ông đã chứng tỏ cho mọi người thấy ông là một con người thao lược và dũng cảm lạ thường. Ông đã đánh nhiều trận thần tốc, khiến cho giặc Pháp và bọn tay sai mãi quốc cầu vinh phải kinh hồn bạt vía. Ngày 10 tháng 4 năm 1861, biết được thói quen của Pháp là thường cho những chiếc tàu sắt đi lẻ tẻ trên sông rạch, và thường hay đâu lại những chỗ mà chúng cho là an toàn, nên ông đã phục kích chiến thuyền của Pháp và giết chết tên thuyền trưởng Bourdais cùng 30 mươi thủy thủ khi họ định đổ bộ lên ruồng bố vùng hạ nguồn kinh Bảo Định. Sau đó, ngay tại vùng sông Vàm Cỏ Tây ở Long An, ông đã khiến cho thủy quân Pháp phải bạt vía kinh hồn với những trận đánh chớp nhoáng trên sông, nhất là trận “Hỏa Hồng Nhật Tảo” vào ngày 11 tháng 12, năm 1861. Khi giặc Pháp chiếm Long An, để chặn đường giao thông của quân ta, thủy quân Pháp đã đem chiến hạm Espérance neo tại vàm sông Nhật Tảo, thuộc Long An. Nguyễn Trung Trực cà khoảng 30 nghĩa binh đã giả dạng một đoàn ghe đưa đám cưới. Ngay giữa ban ngày, thừa lúc đám thủy thủ Tây đang ngủ trưa trong đó có tên trung úy Parfait, ông cho đoàn ghe áp sát vào tàu giặc, rồi tấn công chớp nhoáng, giết hết thủy thủ và đốt cháy con tàu Espérance trước khi đoàn quân tiếp viện Pháp kéo đến. Nguyễn Trung Trực và nghĩa binh của ông đã ghi được một chiến công oanh liệt nhất cho quân Nam kể từ khi Pháp quân lấn chiếm thành Gia Định. Đây cũng là trận đánh lừng danh nhất của quân Nam từ trước đến nay đã khiến cho tiếng tăm của Nguyễn Trung Trực vang dội nơi nơi. Sau chiến công này, triều đình Huế đã thăng chức Đốc Binh kiêm chức Lãnh Binh cho ông. Sau trận Nhật Tảo, nghĩa binh Nguyễn Trung Trực mở rộng địa bàn hoạt động đến các vùng Thuộc Nhiêu, Nhựt Tảo, Thủ Thừa, Bến Lức, Cần Giuộc, Mỹ Hạnh, Phước Lý, Long Thành, Phú Lâm, Bà Hom, Tân Uyên (Biên Hòa ngày nay), vân vân. Sau đó, vào năm 1862, nghĩa binh của ông còn liên tiếp thắng Pháp nhiều trận trong vùng Thủ Thừa và Tân Uyên.

Tuy nhiên, sau khi triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) vào tháng 6 năm 1862, quân Pháp tăng viện và đánh phá nghĩa quân dữ dội trong vùng Long An, Nguyễn Trung Trực vâng mệnh triều đình Huế kéo quân về Hà Tiên làm Thành Thú Ủy dưới quyền của quan Tổng Đốc Nguyễn Đình. Sau đó vào khoảng tháng 8 năm 1867, trước áp lực mạnh mẽ của giặc Pháp với vũ khí tối tân, tàu chiến và súng đồng đủ loại, biết thế mình chống không lại, mà không muốn cảnh núi xương sông máu xảy ra cho dân chúng trong thành Vĩnh Long, nên cụ Phan Thanh Giản, lúc đó đang là quan Kinh Lược Sứ Miền Tây, đã giao nộp thành trì cho Pháp rồi uống thuốc độc tự vận. Thế là kể từ đó ba tỉnh miền Tây lại lọt vào tay quân Pháp. Lúc này, Nguyễn Trung Trực bắt đầu một cuộc kháng chiến mới. Ông cho người đi một quân khắp các vùng Hà Tiên, Rạch Giá và Phú Quốc và lương thực cũng được nghĩa binh dự trữ khắc các nơi này.

Sau đó, Nguyễn Trung Trực rút quân về vùng Tà Niên, đóng quân tại vùng sân chim bên dòng sông Cái Lớn, quận An Biên, thuộc tỉnh Kiên Giang. Rồi sau đó rút quân ra Hòn Chông, rồi lại rút toàn bộ lực lượng ra Phú Quốc dưỡng quân và tìm phương cách đánh Tây. Ngày 16 tháng 6 năm 1868, ông đã bất thần tấn công đánh úp thành Kiên Giang (đây là một trong những thành mà người Pháp cho phòng thủ kiên cố nhất vì nó nằm sát bờ biển trên Vịnh Thái Lan, họ sợ rất có thể nghĩa binh sẽ tấn công từ mặt biển Tây đánh vào, mặt Miệt Thứ từ phía Nam đánh lên, và mặt Hòn Đất từ phía Bắc đánh xuống). Trong trận này, với vũ khí thô sơ mà nghĩa binh đã ghi được một chiến công hiển hách, dám đột nhập vào thành lũy kiên cố của giặc Pháp, đánh cho giặc không kịp trở tay và tan tành thành bình địa. Trong trận này, nghĩa binh đã giết chết 5 sĩ quan Pháp cùng trên 100 binh sĩ, đoạt được 100 khẩu súng, và làm chủ thành Kiên Giang trong gần một tuần lễ, tịch thu rất nhiều quân lương, quân trang, và quân dụng. Nhưng không lâu sau đó Pháp cho viện binh ồ ạt từ Gia Định và Cần Thơ xuống với hỏa lực mạnh mẽ nhằm tái chiếm thành Kiên Giang và chúng định tiêu diệt toàn bô quân kháng chiến. Nguyễn Trung Trực nhận thấy tình hình và thế quân ta yếu hơn địch về mọi mặt, nên ông ra lệnh cho nghĩa quân rút ra đảo Phú Quốc và đóng quân tại Cửa Cạn. Sau đó quân Pháp do sự hướng dẫn của tên Việt gian Huỳnh Công Tấn, đã dồn quân ra Phú Quốc bao vây nghĩa quân trên đảo, nhưng vây mãi mà vẫn không đánh được nghĩa quân, nên chúng quay sang sai tên Việt gian Huỳnh Công Tấn lập mưu bắt mẹ của ông về Kiên Giang tra tấn và hành hạ (kỳ thật đây chính là mưu kế của tên Việt gian Huỳnh công Tấn. Họ Huỳnh biết bản chất của người Việt là chí hiếu với cha mẹ, và nhất là những lãnh tụ kháng chiến rất thương dân, nên y đã dùng kế sách này). Đồng thời giặc Pháp cũng bắt bớ dân chúng và tra tấn họ một cách vô cớ và hèn hạ. Giặc Pháp lại gửi tối hậu thư cho ông rằng nếu ông không ra hàng thì chúng sẽ chặt đầu cả mẹ ông lẫn những người dân mà chúng đang bắt giữ. Thấy thế không thắng nỗi giặc Pháp, bên cạnh đó triều đình chủ bại đã nhiều lần ra lệnh giải tán nghĩa quân, nên ông đành buông vũ khí, thứ nhất là để cứu mẹ, thứ nhì là để cứu anh em nghĩa binh đã từng sát cánh chiến đấu với ông, và thứ ba là không để cho người Pháp tiếp tục bắt bớ đồng bào vô tội để hỏi cung và tra tấn để tìm ra manh mối về ông. Ông ra lệnh cho tất cả nghĩa binh giải tán về những nơi an toàn trước khi ông ra nạp mình cho giặc Pháp tại vùng Dương Đông. Người Pháp đã đưa ông về giam tại Kiên Giang trước khi giải về Sài Gòn. Họ đã dùng mọi thứ mưu chước để chiêu dụ ông ra hợp tác với chúng. Ông đã khẳng khái nói với Pháp: “Tôi ra nạp mình đây là vì mẹ tôi và vì những người dân vô tội kia, và tôi chịu chết để trải lòng trung quân ái quốc, chứ đâu phải để nghe những lời khuyến dụ của mấy ông?” Lời nói khẳng khái và dũng cảm của một nông dân đất phương Nam nào kém chi lời quyết tử của một Trần Bình Trọng đời Trần năm xưa, người đã hiên ngang thét vào mặt tên Thái Tử Thoát Hoan của quân Mông Cổ khi giặc cố ra sức dụ hàng ông: “Ta thà làm quỷ nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc.” Thế là vào ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhằm ngày 28 tháng 8 năm Mậu Thìn, Pháp đã ra lệnh xử tử hình ông và họ đã đem ông về xử chém tại Rạch Giá.

Tương truyền trước khi bị xử chém, Nguyễn Trung Trực có làm một bài thơ tuyệt mệnh như sau:

“Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên, Yêu gian đảm khí hữu Long Tuyền. Anh hùng nhược ngộ vô dung địa, Bảo hận thâm cừu bất đới thiên.

Thi sĩ Đông Hồ đã dịch sang chữ nôm như sau:

“Theo việc binh nhung thuở trẻ trai, Phong trần hăng hái tuốt gươm mài. Anh hùng gặp phải thời không đất, Thù hận chang chang chẳng đội trời.”

Thế rồi anh hùng Nguyễn trung Trực đã hiên ngang bước ra pháp trường, ngưỡng cổ vén tóc, và bảo tên đao phủ người Miên hãy chém một nhác cho ngọt. Tương truyền của dân chúng địa phương vùng Rạch giá, khi lưỡi đao vừa chém bay qua, đầu vừa rơi, thì hai tay ông đã chụp lấy đấu mình lên ngay cổ như cũ, rồi thân mới từ từ ngã xuống. Chính cái khí phách ấy đã làm người dân thêm cảm kích và làm cho cả bọn Tây nơi pháp trường phải kinh hồn bạt vía. Sau cái chết anh dũng của ngài đã có rất nhiều nghĩa binh tự sát theo để tỏ lòng tận trung tận nghĩa với vị thủ lãnh anh hùng đánh kính của mình. Các bô lão cho rằng sở dĩ người Pháp không dùng đao phủ người Việt, mà phải dùng người Miên vì oai dũng của những vị võ tướng Việt Nam quá lớn khiến cho không một đao phủ Việt Nam nào dám xuống tay hạ đao.

Dầu Trận Nhật Tảo chỉ là một trận đánh không làm tổn thất vật chất nhiều lắm cho Pháp, nhưng về mặt tinh thần, tiếng vang của nó đã làm cho giặc Pháp phải bạt vía kinh hồn. Rồi kế đến là trận đánh úp thành Kiên Giang một cách vẻ vang khiến toàn bộ Pháp quân ở miền Nam không còn dám coi thường những người nông dân vùng đất phương Nam nữa. Phải nói những trận đánh này đã xoáy mạnh vào tâm lý của những tên lính viễn chinh Pháp. Dân chúng khắp Nam Kỳ thời đó ca ngợi chiến công oanh liệt này với hai câu thơ điếu bạn của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt như sau:

“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa, Kiếm bạt Kiên Giang khắp quỉ thần.” (Lửa thiêu Nhật Tảo vang trời dậy đất Kiếm tuốt Kiên Giang khiếp quỉ thần)

Chỉ hai câu thơ mà gói trọn cả sự nghiệp cứu nước của người anh hùng Nguyễn Trung Trực. Người dân chài của vùng đất phương Nam Nguyễn Trung Trực đã đưa hào khí chiến đấu dân Nam lên ngất trời với những chiến công oanh liệt vừa kể. Con người hiên ngang và kiêu dũng ấy đã mãi mãi được dân chúng miền Nam biểu tỏ qua hai câu thơ trên. Người bạn Huỳnh Mẫn Đạt của ông còn điếu tiễn ông hai câu thơ nữa như sau:

“Anh hùng cường cảnh phương danh thọ, Tu sát đê đầu vị tử nhân.”

Tạm dịch sang quốc ngữ như sau:

“Anh hùng cứng cổ danh còn mãi, Thẹn chết bao nhiêu lũ cúi đầu.”

Phải thành thật mà nói, lúc đó người Pháp khinh thường triều đình Huế bao nhiêu thì họ lại e dè kính sợ người dân miền Nam bấy nhiêu, ví chính những người nông dân bình thường ấy đã làm cho giặc phải khiếp đảm và luôn phập phồng lo sợ không biết sẽ bị họ tấn công lúc nào và ở đâu, vì đâu đâu cũng là những nông dân bình thường, nhưng khi đất nước cần họ, thì họ lại là những nghĩa binh anh dũng, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để bảo vệ đất nước. Sau khi ông bị giặc Pháp xử chém tại Rạch Giá, chính như vua Tự Đức, một ông vua chủ hòa chủ bại, mà phải còn dạy cho quần thần làm một lễ truy điệu ông với chính bài truy điệu do nhà vua sáng tác như sau:

“Úy bỉ ngư nhân, Hùng tài quốc sĩ.

Hỏa Nhựt Tảo thuyền, Đồ Kiên Giang lũy, Định khai đồng cừu. Thân tiêm tự thi, Huyết thực thiên thu,

Chương ngã trung nghĩa.”

Và sau đó nhà vua sắc phong cho ngài làm “Thượng Đẳng Đại Thần.” Mặc dầu thời đó người Pháp đã nghiêm cấm việc thờ phụng Nguyễn Trung Trực, nhưng dân chúng vẫn lập đền thờ của ngài tại Kiên Giang và thường xuyên đến nhang khói và lễ bái ngài. Hiện ngôi mộ của ngài vẫn còn tại thành phố Rạch Giá, phía bên kia Cầu Quay.

Đa số dân chúng trong nước chỉ biết Nguyễn Trung Trực là một bậc anh hùng hào kiệt của vùng đất phương Nam, đã đứng lên khởi nghĩa đánh Tây và làm tròn nhiệm vụ của người trai thời loạn. Thời đó, ngoại trừ một số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, ít ai biết được ông còn là một tín đồ rất ngoan đạo của đức Phật Thầy Tây An. Theo bô lão trong vùng Long Kiến, và nhất là theo lời kể của ông Cả Mười, một trong những người thuộc gia đình họ Lâm kể lại, rồi sau này học giả Vương Kim cũng nói trong quyển “Bửu Sơn Kỳ Hương” như sau: “Lúc thế cô sức yếu, Quản Lịch hay Nguyễn

Trung Trực đã rút quân về miền Tây và đóng quân trong vùng Tà Niên, thuộc tỉnh Rạch Giá. Riêng Nguyễn Trung Trực thì đóng tại nhà một thân hào họ Lâm, những tín đồ thuần thành của đức Phật Thầy Tây An. Trong thời gian ông lưu lại đây, đức Phật Thầy đã thường đến Xẻo Môn (thuộc vùng Long Kiến) để truyền đạo. Có lẽ trong khoảng thời gian này, ông Nguyễn trung Trực đã quy ngưỡng với đức Phật Thầy và tu tập theo pháp 'Tu Nhân Học Phật.' Ngoài ra, dân địa phương cũng thường thấy ông mặc đồ nâu đi thuyền đến viếng đức Cố Quản Trần văn Thành, một trng những đại đệ tử của đức Phật Thầy.” Thật vậy, người dân địa phương thường thấy từ ngày ông Quản Lịch về vùng Long Kiến, người ta thường thấy ông hay mặc đồ nâu, có lẽ thứ nhất là ông ăn mặc theo như tín đồ, thứ nhì là để tránh sự dòm ngó của những tên Việt gian đang rình mò tìm cách bắt ông trong vùng. Có lẽ sự phục sức của ông cũng như sự liên lạc mật thiết của ông với các đại đệ tử của đức Phật Thầy cho thấy trong thời gian đi kháng chiến, Nguyễn Trung Trực đã biểu lộ ý hướng của mình nghiêng về hệ phái “Bửu Sơn Kỳ Hương.” Chính vì vậy mà cho mãi tới ngày nay, thường trong các khóa lễ, trong bài nguyện trước ngôi Tam Bảo, các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đều khấn: “Nam Mô Phật Tổ Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần...” Quan Thượng Đẳng Đại Thần trong lời khấn ở đây chính là phẩm trật cao cấp nhất mà triều đình Huế đã phong cho anh hùng Nguyễn Trung Trực. Ngày nay hàng năm đến ngày 28 tháng 8 âm lịch, tất cả tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nơi nơi đều tổ chức lễ tưởng niệm anh hùng Nguyễn Trung Trực.

Tính đến nay đã hơn 156 năm kể từ ngày vị anh hùng Nguyễn trung Trực của vùng đất phương Nam bước lên đoạn đầu đài. Ngày nay trang sử vong quốc đã sang trang, đàn hậu bối chúng ta mỗi khi giở lại trang sử cũ không thể không ngậm ngùi thương cảm cho một đấng hùng anh đã oanh liệt vị quốc vong thân, nhưng chúng ta ai ai cũng phải vô cùng hãnh diện được làm hậu bối của ngài, được truyền thừa khí khái của ngài. Chúng ta nguyện luôn noi theo gương hạnh trung hiếu vẹn toàn của ngài, dầu trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng quyết noi theo gương của ngài, nếu không lập được chiến công hiển hách như ngài, ít nhất cũng luôn nghĩ tới dân tộc và đất nước, quyết tâm chống lại chẳng những bọn thực dân xâm lăng mà luôn cương quyết chống lại bọn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, vì miếng mồi chung đỉnh hay vì quyền lợi cho gia tộc và bè phái mà cam tâm bán nước, bán đất, bán biển cho ngoại bang.

                                                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn