Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000187
Số lượt truy cập
21869336
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-02-16 05:27:15

 Hôm nay kẻ hậu bối viết bài này để tưởng nhớ đến ngày sinh nhật lần thứ 197 của “Đức Trung Thiên Đại Nam Lãnh Binh kiêm Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Công Định”. Dầu cho lịch sử Việt Nam đã in đậm vết nhơ 90 năm Pháp Thuộc, nhưng sự hy sinh cao cả của ngài sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho đàn hậu bối chúng con. Tấm lòng dũng cảm hy sinh và vị quốc vong thân của ngài sẽ được dân tộc này mãi mãi tôn vinh, đất nước này mãi mãi ghi ơn, và ngài sẽ mãi mãi là một bậc công thần trong lòng dân tộc. Chính công cuộc kháng chiến của ngài là một bài học vô cùng quí báu cho chúng con bây giờ và mãi mãi về sau này. bên cạnh đó, cái cách mà triều đình nhà vua đã cư xử với các lãnh tụ kháng chiến cũng là một bài học giúp cho chúng con, nhất là những người có trách nhiệm với việc cai trị đất nước, thấy được để làm thế nào tránh khỏi vết xe đổ năm xưa của tiền nhân mà tìm con đường tốt đẹp hơn cho dân tộc. Lãnh binh Trương Công Định là một người yêu nước nồng nàn, làm thân trai thời loạn gánh trên vai trách nhiệm với non sông. Mặc dầu sống và làm quan trong thời phong kiến, nhưng ông có tư tưởng khá cấp tiến. Ngay khi triều đình chỉ một bề chủ hòa hay chủ bại, đã hèn yếu trao ba tỉnh miền Đông cho Pháp, dầu được thăng chức Lãnh binh và được cử về An Giang, ông vẫn cương quyết không tuân theo chỉ dụ, mà vẫn ở lại Gia Định chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp, nêu chí quật cường của người trai đất Việt, làm rạng rỡ trời Nam. Thật là một tấm gương nồng nàn yêu nước đáng cho hậu thế chúng ta noi theo!

Ghi Chú:

(1)          Tên 2 chữ của Trương Định là do tập tục miền Trung không dùng chữ lót. Hiện nay trong đền thờ của ông ghi: “Trương Công, húy Văn Định”, còn Trương Công, hay Ông Trương là do dân chúng Gò Công hay dân chúng Nam Kỳ kính ngưỡng ông mà gọi như vậy khi ông làm “Bình Tây Đại Nguyên Soái” trong quân cơ thì gọi chủ tướng là Tướng Công để tỏ lòng tôn kính ông. Chính vì vậy mà cả dân chúng vùng đất phương Nam đều chính thức dùng tên Trương Công Định để thờ phụng ông. Tóm lại, Trương Định, Trương Văn Định hay Trương Công Định đều là tên của vị anh hùng kháng chiến chống Pháp trứ danh của miền nam vào giữa thế kỷ thứ XIX. Trương Định có vóc dáng cao ráo, nhưng mảnh mai, gương mặt đầy đặn, da trắng, có vẻ phong lưu công tử, nhưng tính tình lại rất cương nghị và điềm tĩnh, can đảm và hào phóng, quyết đoán và đa mưu. Lại là người rất am hiểu về binh pháp và tinh thông võ nghệ, cũng như thuật bắn súng tài tình. Bên cạnh đó, ông lại có lòng yêu nước rất nồng nàn... Đây là những nhân tố chính khiến ông trở thành một lãnh tụ kháng chiến lừng danh khi Pháp mới lấn chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh.

(2)          Sau khi lập gia đình với Lãnh Binh Trương Công Định, đôi trai tài gái sắc Trương Định-Lê thị Thưởng sống trong hạnh phúc và sung túc. Họ làm chủ những nhà vườn rộng lớn chạy dài từ Gia Định xuống tới Gò Công. Nhưng là một tướng lãnh yêu nước, Trương Định nhất định đánh Tây tới cùng. Trong công cuộc kháng chiến này, bà Lê thị Thưởng có vai trò rất lớn với quân lương và quân nhu của nghĩa binh. Bà đã giúp Trương Định khai khẩn vùng Tân Hòa, Gia Thuận để canh tác giúp cho quân lương và quân nhu. Bà cũng phái người đi các nơi từ Tân Phước, Giồng Tháp, đến tận vùng Tháp Mười để tuyển mộ quân binh. Đến khi cuộc kháng chiến thất bại, bà và gia đình phải phiêu bạt khắp nơi để tránh sự dòm ngó và trả thù của Tây.

(3)          Bà Trần thị Sanh là vợ thứ hai của ông Trương Định; bà là con của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm thị Phụng (cô ruột của bà Từ Dụ Thái Hậu). Trước đó, bà Sanh đã từng lập gia đình với ông Dương Tấn Bộ, một văn sĩ địa phương, và bà góa chồng năm mới 21 tuổi. Khi nghĩa binh Trương Định còn đóng ở Cần Giuộc, ông có đến hỏi cưới bà, nhưng bà từ chối, đến khi Trương Định đem nghĩa binh về Gò Công thì bà Sanh chấp nhận làm vợ hai của ông. Có tài liệu cho rằng cuộc hôn nhân này là do sự sắp xếp của bà Từ Dụ Thái Hậu, chị em cô cậu ruột với bà Sanh. Như vậy, sau khi thành hôn với bà Trần thị Sanh, Trương Định trở thành dượng rể của vua Tự Đức (vì bà Sanh và bà Từ Dụ Thái Hậu là chị em cô cậu ruột, hơn nữa ngay từ lúc 12 tuổi bà Từ Dụ Thái Hậu đã mồ côi mẹ và đã sống với cô dượng là ông Trần Văn Đồ và bà Phạm thị Phụng, nên bà rất thương bà Sanh). Có lẽ chính vì vậy mà vua Tự Đức phong cho ông làm Định Công Hầu Bình Tây Đại Tướng Quân, nhưng vì lúc này triều đình đã ký hòa ước 1862 với Pháp, nên vua Tự Đức không thể công khai ủng hộ ông Trương Định, mà chỉ có thể âm thầm khuyến khích mà thôi. Có rất nhiều giả thuyết được đặt ra về cuộc hôn nhân này, nhưng theo thiển ý của người viết tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam, có lẽ Lãnh Binh Trương Định cưới bà Trần thị Sanh vì gia đình họ Trần của bà đã giúp quá nhiều tiền của và trong tương lai của cuộc kháng chiến này còn sẽ phải nhờ nhiều vào tiền của của gia đình bà Sanh. Tưởng cũng nên nhắc lại, dòng họ Trần của bà Sanh thời đó chẳng những giúp tiền, giúp gạo thóc, giúp quân lương, mà còn đầu quân vào nghĩa binh Trương Định để đánh Tây. Một việc khác cũng rất quan trọng là lúc đó, lúa đầy những lẫm của nhà họ Trần quyết không bán cho giặc Pháp và tay sai, dầu họ có trả cao thế mấy. Trong thời gian này, nghĩa binh của Trương Định đi đâu đếu đâu trong vùng Gò Công đều được nhà họ Trần che dấu chỗ an toàn. Và trong suốt cuộc kháng chiến của Trương Định trên vùng đất Gò Công, bà Sanh đã đi khắp nơi kêu gọi dân chúng và sĩ phu ủng hộ tiền của để phát triển và duy trì lực lượng kháng chiến. Chính bà Sanh là người đã vận động xin cho Đội Sơn và 200 dũng sĩ Gò Công thành lập đội dân chúng tự vệ. Vì công cuộc kháng chiến của chồng mà bà không từ nan bất cứ hoạt động nào nhằm giúp chồng mình. Có lần đích thân bà đã đi ra Huế, vận động bà Từ Dụ Thái Hậu để Trương Định ở lại Gò Công lãnh đạo nhân dân chống Pháp. Đến khi công cuộc kháng chiến thất bại, Trương Định tuẫn tiết, không ai dám đến nhận xác vì sợ liên lụy, thì bà Sanh đã can đảm đứng ra vận động lãnh binh Tấn đem thi hài Trương Định về chôn ở phần đất nhà của mình, và cũng chính bà đứng ra lập mộ. Bà sanh là một Phật tử thuần thành, có pháp danh là Diệu Quy, bà mất năm 1882. Thời của Trương Định hãy còn là thời đại phong kiến, nên người nam có quyền cưới nhiều vợ, nên Trương Định cũng có hai bà vợ. Cuộc đời và sự nghiệp của Trương Định được sử sách ghi lại ngàn đời. Người ta xây dựng lăng mộ của ông tại Gò Công và rất nhiều đồng bào khắp nơi để thăm viếng cũng như tưởng nhớ đến công đức của ông. Nhưng phải thành thật mà nói, cả hai bà vợ của ông là bà Lê thị Thưởng và bà Trần thị Sanh, đều đã đóng góp rất nhiều trong sự nghiệp kháng chiến của Trương Định. Hai bà chẳng những lo tròn đạo vợ, mà còn đắc lực giúp chồng lo việc nước. Cả hai bà đều là con nhà dòng giỏi trâm anh thế phiệt, và thời đó cả hai bà đều biết rằng chấp nhận lấy Lãnh Binh Trương Định là chấp nhận những thương đau đang chực chờ, nhưng cả hai đều chấp nhận gian truân cùng chồng, chỉ mong có một điều là đánh đuổi được giặc Pháp ra khỏi bở cõi. Lúc Lãnh Binh Trương Định tuẫn tiết, bà Lê thị Thưởng đã bị giặc Pháp bắt đi, không nghe nói chúng có thả bà ra hay không, nên một mình bà Trần thị Sanh đã đem xác chồng về an táng, làm lăng mộ trên khu đất nhà của mình (có lẽ thời đó giặc Pháp cũng vị nể vì bà là bà con cô cậu ruột với bà Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức), làm bia khắc rõ ràng dòng chữ: “Đại Nam--An Hà Lãnh Binh kiêm Bình Tây Đại Tướng Quân.” Tưởng cũng nên nhắc lại là lúc đó quân Pháp đã chiếm cứ Gò Công, thế mà bà vẫn tự hào ghi laị những dòng chữ trên bia mộ chồng, quả không hổ thẹn là những bậc nữ nhi anh thư của vùng đất phương Nam.

(4)          Trần Xuân Hòa gốc người Quảng Trị, đậu cử nhân, làm tri phủ ở Gò Công. Lúc Trương Định kéo quân về Gò Công, ông mang quân trong phủ mình đến hợp lực cùng Trương Định đánh Tây. Trong một trận cùng Trương Định đánh Mỹ Tho, ông bị Pháp bắt ngày 7 tháng 1 năm 1862, trước khi bị Pháp hành hình, ông cắn lưỡi tự tử.

(5)          Theo Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, quyển 31, khoảng cuối tháng 5 năm 1862, tướng Bonard phái một tàu chiến ra kinh đô Huế yêu cầu triều đình cử toàn quyền đại thần vào Gia Định để hội nghị hòa ước. Triều đình Huế chấp thuận và đã cử cụ Phan vào Nam hội nghị. Hiệp ước 1862 được ký kết vào ngày 5 tháng 6. Triều đình ra lệnh bãi binh, Trương Định thu xếp cho vợ con tản cư trước, riêng mình ở lại kiểm điểm quân binh rồi mới rút đi. Khi đó các nghĩa hào không muốn giải tán nên cố giữ ông ở lại. Họ bàn rằng quân Tây thường bị chúng ta đánh bại. Vả lại cuộc hòa này chúng lấy binh lực ăn hiếp triều đình, chứ không có thực bụng. Nay hòa ước đã định, chúng ta còn biết trông cậy vào đâu? Chi bằng cứ tiếp tục kháng cự, cố thủ lấy một miếng đất để mà đùm bọc lấy nhau. Ai nấy đều cho là phải, rồi mọi người đồng yêu cầu ông Định ở lại chỉ huy. Trong lúc ông Định chưa quyết định thì tiếp được thư của Phạm Tuấn Phát ở Tân Long, đaị ý cũng suy tôn ông làm Chủ Soái và thề quyết sống chết với giặc chứ không chịu hòa. Liền sau đó, dân chúng trong vùng tổ chức một cái đàn suy tôn ông làm Chủ Soái. Ông xưng là Bình Tây Đại Nguyên Soái, và phong cho Đỗ Quang cùng con ông là Trương Quyền làm Tham Tán Quân Vụ. Sau đó, ông ra lệnh cho nghĩa binh chia nhau đi chiếm đóng các yếu điểm trên một địa bàn rộng lớn từ phía đông nam ra đến biển. Còn ông mang quân ra đóng trong rừng Trát Tước. Cứ cách một khoảng chừng vài cây số là lập một đồn lũy để ngăn cản bước tiến của giặc. Ông cho đúc thêm đại pháo, một thêm nghĩa binh, phòng bị lâu dài trong vùng Tân Hòa. Đồng thời, ông gửi thư đi khắp nơi báo cáo rằng nghĩa binh ở đây không chống trái với lệnh triều đình mà là giúp cho triều đình. Vì thế các nơi đều tuân thủ theo mệnh lệnh của ông. Các phủ huyện đều ngấm ngầm giúp đỡ tài chánh và lương thực. Tuy nhiên, chỉ những đạo của Tuấn Phát ở Hổ Khâu (Gò Đen), đạo binh của Bùi Huy Diệu ở Cần Đước và đạo binh của Nguyễn Văn Trung ở Tân Thạnh là có kỷ cương, còn những nhóm khác, nghĩa quân số tuy đông lại là một nhóm ô hợp, không được huấn luyện, không có kỷ cương, và cũng không có gì để ráng buộc họ, khi muốn ở thì họ ở, khi muốn đi thì họ đi.

(6)          Cũng theo Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, quyển 31, tháng 5 năm 1861, cuộc nghị hòa đã xong, triều đình đã phải cắt đất nhượng cho Tây. Vua Tự Đức triệu Đỗ Quang về kinh để bổ đi làm tuần phủ Nam Định, nhưng Quang khẩn khoản xin từ, trong sớ tâu lên có viết: Khi thần bỏ Gia Định về, dân sĩ đón đường bảo rằng: “Nay cha bỏ con quan bỏ dân, quan về thì laị làm quan, còn dân thì từ đây không được làm dân của triều đình nữa!” Lúc ấy tiếng khóc vang đường vang sá mà thần cũng đành gạt lệ mà từ biệt! Thiết nghĩ thần đây vốn dĩ tầm thường, nhưng từ khi gặp biến, với dân sớm hôm có nhau, chẳng bao giờ lại nghĩ sống thừa trở lại. Thế mà ngày nay bỗng phải triệu hồi, nghĩa sĩ nghĩa dân trước kia đã vì triều đình xuất công góp của, nay họ biết tựa vào đâu? Như vậy trên phụ triều đình, dưới phụ trăm họ, tội ấy không lẽ chối từ, nếu nay lại giữ chức ở Nam Định, thì đối với dân sĩ Gia Định sẽ như thế nào? Đối với công luận của thiên hạ sẽ như thế nào? Thần đây là kẻ có nhân tâm, sao không hổ thẹn! Thêm nữa, thần lại là kẻ kiến thức thô thiển, nếu miễn cưỡng vâng lời, sự thực chỉ là ăn hại lộc nước, chẳng bổ ích gì? Vậy nay cúi xin thâu hồi lệnh trước, bãi chức về vườn, họa may có nhẹ bớt tấm lòng căm phẫn của dân Gia Định, và trọn được tiết liêm sĩ cho kẻ hạ thần... Vua Tự Đức xem xong tờ tấu liền cho triệu Quang vào phán hỏi: “Trẫm đây đã biết lòng Đỗ Quang, vậy thì Đỗ Quang nhà ngươi cũng nên hiểu lòng của trẫm, đừng nên như thế mới phải.”

(7)          Sở dĩ Trương Định quyết định chọn Gò Công làm căn cứ địa cho quân kháng chiến vì vị trí thuận lợi của rừng và biển, dễ dàng cho sự tiến thoái của quân kháng chiến. Bên cạnh đó, Gò Công còn là nơi mà Trương Định xem như quê hương thứ hai của mình kể từ sau khi được Nguyễn tri Phương cho phép về đây khẩn hoang lập ấp. Chính vì vậy mà nơi đây ông có gia đình, thân nhân và rất nhiều những người đồng chí hướng với mình. Do đó người Gò Công đối với ông như người nhà, họ sẵn sàng đứng ra che chở và bảo vệ ông cũng như những nghĩa binh ngoài mặt trận. Bên cạnh đó, từ sau chuyến kinh lý của vua Tự Đức về Nam Kỳ Lục Tỉnh vào năm 1850, Nguyễn Tri Phương đề nghị lên nhà vua kế hoạch “họp dân lập đồn điền tạo sinh kế” và đã được vua Tự Đức phê chuẩn. Nên Đồn điền Gia Thuận của Lãnh Binh Trương Định cũng ra đời sau đó. Ban đầu mộ dân lập ấp Trương Định đã có ngay 500 người, đến khi Gia Định hữu sự, Trương Định đứng ra triệu tập ứng nghĩa, chỉ trong vòng vài ngày là đã có hơn 6.000 người tụ về. Trong đạo quân này, thành phần không chỉ là nông dân, mà bao gồm đủ các giai cấp như quan lại của triều đình và sĩ phu không chịu ra hợp tác với Tây, cũng như rất nhiều thân hào nhân sĩ địa phương. Thành ra, căn cứ kháng chiến được tổ chức rất chu đáo về các mặt xã hội, hành chánh và quân sự. Trong số sĩ phu và quan lại ứng nghĩa với Trương Định còn ghi nhận lại được vài người như Đỗ Quang, Lưu Tấn Thiện, Lê Quang Quyền, Đặng Văn Duy, Phạm Tiến, vân vân. Khi kéo quân về Gò Công, nghĩa binh Trương Định đã sẵn là một đạo quân đồn điền, nên đi đâu đến họ cũng có ưu thế vừa đánh giặc vừa tự trồng trọt canh tác sản xuất ra lương thực thực phẩm. Chính vì vậy mà Trương Định vừa mới rút về Gò Công là nghĩa sĩ và nông dân cùng tới lập doanh trại với ông.

(8)          Căn cứ Tân Hòa của Trương Định ngày càng thu hút sự chú ý của dân chúng các vùng khác và chẳng bao lâu sau đó Tân Hòa đã trở thành trung tâm hội quân của nhiều lực lượng kháng chiến chống Pháp. Sử triều Nguyễn cũng xác nhận: “Trương Định đóng đồn ở Xứ Gò Thượng thuộc huyện Tân Hòa, thường ra đánh úp lính Tây dương, nghĩa sĩ nhiều người đi theo. Ảnh hưởng ban đầu của nghĩa quân Trương Định lan nhanh khắp lục tỉnh..” Trước khi người Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây, nhiều quan chức triều đình ở miền này đã khẩn thiết xin gửi quân đến phối hợp với Trương Định như Đốc Phủ Long Tường, An Hà là Trương Văn Uyển, Đỗ Thúc Tinh, Phan Khắc Thận đều tâu xin viện binh ở quân thứ hoặc đi ngay đến Gia Định cùng với Trương Định hợp quân. Rõ ràng căn cứ Tân Hòa ở Gò Công ngay từ những ngày đầu tụ nghĩa đã đáp ứng ý chí chống Pháp của toàn dân vùng đất phương Nam, kể cả các quan chứ của triều đình. bên cạnh đó, các lực lượng kháng chiến khác như Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hòa, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương... đều có liên hệ mật thiết với cánh của nghĩa binh Trương Định. Chíng cụ Nguyễn Thông, một vị quan Đốc Học của tỉnh Vĩnh Long thời đó đã ghi lại như sau: “Khi trương Định đóng quân ở Tân Hòa, hội mọi người để bàn định kế hoạch kháng chiến lâu dài... hào kiệt các nơi kéo đến như mây.”

(9)          Theo Sử gia Phạm văn Sơn trong Việt Sử Tân Biên, quyển 5, trang 192-195, vua Tự Đức từ trước đã mật ngầm phong cất Trương Định lên ngôi vị này, nên mặc dầu đã bãi chức của ông, nhà vua có nói với thị thần rằng “Lòng dân được như vậy, cũng là giúp một phần vào mưu đồ của ta, có lẽ nào ta lại áp bức họ?” Tuy nhiên, kể từ sau hòa ước Nhâm Tuất 1862, nghĩa binh Trương Định phải chiến đấu cùng một lúc với hai thế lực: thứ nhất là đối ngoại phải đánh Pháp; thứ nhì là đối nội, nghĩa binh phải đối mặt với lệnh bãi binh của triều đình, nên công cuộc kháng chiến vô cùng vất vả. Tưởng cũng nên nhắc lại, trong số những sĩ phu đồng chí hướng với Trương Định và cũ Đồ Chiểu thời bấy giờ có cụ Đồ Phú Kiết, còn gọi là cụ Đồ Thang Trông. Sau khi hòa ước Nhâm Tuất được ký kết, Trần Bá Lộc muốn khai thác tin tức kháng chiến nên bất ngờ nhận cụ Đồ Phú Kiết vào làm bí thư cho ông ta; trong khi bên nghĩa binh cũng muốn khai thác tin tức của địch nên chấp nhận cho cụ Đồ Phú Kiết vào làm với Trần Bá Lộc. Đến lúc thấy không còn khai thác tin tức gì được ở Trần Bá Lộc và có thể bị baị lộ thân phận, nên cụ Đồ Phú Kiết xin về quê ở vùng Nam Ngãi Bình Phú bằng đường biển, nhưng khi đến Bình Thuận thì ông quay trở vô Nam bằng đường bộ và trở laị tiếp tục kháng chiến với quan Lãnh Binh Trương Định tại vùng Phước Tuy, nhưng ít lâu sau đó thì cụ Đồ Phú Kiết tử trận. Quả là một sĩ phu yêu nước, hết lòng vì nước vì dân, đánh Tây bằng mọi cách, ngay cả việc đi vào hàng ngũ của Tây.

(10)     Sau khi Pháp chiếm xong thành Mỹ Tho, giới sĩ phu theo Nho học ở vùng Gò Công đã đứng lên phản kháng kịch liệt. Theo Bulletin Administratif de la Cochinchine 1862-1945Bulletin Officiel de la Cochinchine Francaise 1862-1945, giới sĩ phu Gò Công đã bày tỏ thái độ qua bức thư gửi cho chính phủ Pháp vào năm 1862. Đây là một bức thư quan trọng trong lịch sử kháng Pháp của dân chúng vùng đất phương Nam, đặc biệt là dân chúng vùng Gò Công. Sau đây là bản dịch ra Việt ngữ của ông Georges Garros như sau: Cùng nhà đương quyền Pháp: “Mất chính phủ của bản quốc Hoàng Đế, chúng tôi đau đớn như con mất cha, mất mẹ. Quý quốc ở Tây phương, bản quốc ở Đông Hải, chẳng khác gì con ngựa và con trâu vậy. Chúng ta khác nhau từ ngôn ngữ, từ văn tự đến phong hóa. Tạo hóa sinh ra loài người mỗi giống mỗi khác. Khắp trong vũ trụ loaì người như nhau, nhưng không chung một bản tánh. Vì mang ơn quốc vương của chúng tôi, chúng tôi quyết báo thù kẻ nào 'xúc phạm đến Ngài' và chúng tôi sẽ chết vì Ngài. Vậy sự xung đột sẽ phải dài, nhưng chúng tôi phaỉ làm thuận lòng Trời và quyết nhiên chúng tôi phải thắng. Nếu các ông muốn hòa bình, hãy trả lại đất cho Quốc Vương chúng tôi. Chúng tôi có phải chiến đấu cũng vì mục đích ấy. Các ông chiếm xứ của chúng tôi để tăng cường nền phong phú của các ông và để đề cao thanh danh của các ông. Các ông có muốn một số tiền chuộc đất đai ấy không? Chúng tôi sẽ trả các ông, nhưng các ông đừng gây chiến nữa. Các ông hãy đem quân đội về xứ các ông đi! Chúng tôi sẽ mang ơn, các ông cũng sẽ được tiếng vang đối với hoàn vũ. Các ông muốn có thị trường để mở mang thương mãi ư? Chúng tôi sẽ nhân nhượng cho các ông. Nhưng trái lại, nếu các ông không khứng chịu, chúng tôi sẽ chiến đấu mãi để thuận lòng người. Chúng tôi cũng gớm khả năng của các ông đấy, nhưng chúng tôi còn sợ Trời hơn là sợ sức mạnh của các ông. Chúng tôi thề sẽ chiến đấu vô cùng vô tận, không ngừng. Ngày mà chúng tôi không còn gì nữa, chúng tôi sẽ bẻ cành lá làm cờ và võ trang, binh bị bằng đòn, bằng gậy. Đến ngày ấy, liệu các ông có còn ở chung với chúng tôi được không? Chúng tôi yêu cầu các ông chú ý xét lại thơ này và chấm dứt tình trạng tai hại cho quyền lợi của các ông và quyền lợi của chúng tôi.” Bức thư này rõ ràng nói lên nguyện vọng và chí cương quyết của sĩ phu Gò Công nói riêng, vùng đất phương Nam nói chung. Dầu triều đình Huế có nhân nhượng, nhưng Hào kiệt vùng đất phương Nam quyết không nhân nhượng, quyết tử chiến với giặc Pháp đến hơi thở cuối cùng. Lời lẽ trong thơ, vừa khiêm tốn nhưng vừa hăm dọa về một cuộc trường kỳ kháng chiến. Quả là tấm lòng yên nước vô bờ bến của con dân vùng đất phương Nam!

(11)     Sau khi chiếm xong 3 tỉnh miền Đông và Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 đã được ký kết, quân Pháp bắt tay ngay vào việc bình định trong 3 tỉnh này. Ở vùng Thị Vải, thuộc huyện Long Thành, Pháp quân cho dựng một đồn binh trú đóng khoảng 100 lính. Ở huyện Bình An cũng có một đồn khác với khoảng 100 lính đồn trú, và ngay dưới mé sông lúc nào cũng có một chiếc thuyền bọc sắt túc trực. Khi ổn định được tình thế, người Pháp bắt đầu đắp đường, mở rộng giao thông đến Phước Tuy, cũng như những con đường có thể chuyển viện binh đến Gò Công một cách nhanh chóng để đối phó với kháng chiến quân của Trương Định. Người Pháp còn bắt buộc mỗi xã phải cung cấp cho họ từ 3 đến 10 thanh niên để sung vào đội lính mã tà.

(12)     Huỳnh Công Tấn, mà theo quan Đốc học Vĩnh Long là Nguyễn Thông, tên thật là Đỗ Tấn. Theo Công Báo của chính quyền thuộc địa Nam Kỳ Bulletin Administratif de la Cochinchine 1862-1945 và Bulletin Officiel de la Cochinchine Francaise 1862-1945, số ra vào năm 1864, ông Paulin Vial có chép rõ trường hợp ông Định tử trận như sau: “Đêm 19 rạng 20 tháng 8 năm 1864, người cầm đầu thổ binh của ta (tức là tên Huỳnh Công Tấn, lúc đó đã quay mặt theo Tây làm phản) đem quân bao vây ngôi nhà mà ông Định và 25 đồng chí khác đang trú đóng. Họ núp trong cỏ cho đến hừng sáng. Mặt trời ló dạng thì mới ra lệnh cho quan quân chận hết các đường lối ra vào của nhà ấy. Trong khi một nhóm ở trong nhà hy sinh tánh mạng chống cự, phần lớn vừa đánh vừa tháo lui ra ngoài. Ông Định đã ra khỏi nhà, dùng gươm chém đứt làm hai cái nón của một người lính mã tà, ông hất làm rớt cây súng của một người khác. Ông không bị thương tích gì cả và sắp chạy thoát vào trong bụi. Khi ấy, Tấn mới rút súng lục ra bắn ông Định và hô lên cho lính mã tà nhắm bắn vào ông ta. Nhưng ông Định đã dùng gươm tuẫn tiết trước khi chúng bắn mình. Rốt cuộc họ bắt được vài tù binh và thâu nhặt được vài tử thi, trong ấy có tử thi của ông Định, cùng khí giới và giấy tờ của ông.”

(13)     Mộ gió là một không có xác, thường những chiến binh không tìm được xác, hay những thủy thủ chết ngoài biển.

(14)     Sau trận tấn công của Pháp vào cuối tháng 2 năm 1863, Trương Định thấy rõ những bất lợi của địa thế Gò Công vì là một vùng đồng bằng, không có chỗ an toàn cho nghĩa binh trú ẩn. Vì thế Trương Định quyết định di chuyển đại bản doanh đến vùng Lý Nhơn, một vùng đất phù sa được bao bọc và che kín bởi những đám rừng dừa nước, một phần đất bị ngập nước khi thủy triều lên. Nhưng quân Pháp đã bắt dân chúng Gò Công đi tiên phong làm đường và phá hủy doanh trại của quân kháng chiến. Bên cạnh đó, lúc này gặp hồi hạn hán mất mùa, quân Pháp bèn tung tiền ra cho dân chúng vay không lấy lời, và chúng lại còn tung tiền ra cho quan chức địa phương mỗi người vài ngàn quan tiền, nên bọn này sẵn sàng đứng ra làm tay sai chỉ điểm vị trí nghĩa binh cho giặc. Ngày 25 tháng 9 năm 1863, giặc Pháp đột kích vào căn cứ Lý Nhơn. Vì bị điềm chỉ và bị đột kích bất thần nên nghĩa binh không kịp trở tay, chỉ cố phá vòng vây thoát chạy. Một tên lính mã tà chụp lấy vai Trương Định, bị ông xô ngã ra rồi ông thoát thân vào vụi rậm. Vợ của Trương Định và một số nghĩa binh bị giặc bắt trong trận này. Sau đó, Trương Định rút toàn bộ nghĩa binh khỏi Lý Nhơn, trở về Gò Công, nhưng lần này ông chọn một địa điểm hiểm yếu trong các vùng Tân Phước, Kiểng Phước và Gia Thuận, nằm bên bờ sông Soài Rạp, rồi phân tán lực lượng nghĩa binh thành từng toán nhỏ và cất liều trại trong vùng mà dân chúng gọi là “Đám Lá Tối Trời”. Có người cho rằng địa điểm Đám Lá Tối trời chính là vùng Đầm Trang của Gò Công hiện nay; tuy nhiên, địa điểm chính xác cho tới nay vẫn chưa được xác định. Nhưng thời đó dọc theo hai bên bờ sông Soài Rạp cây cối rập rạp, thật là thâm u, rất thuận tiện cho nghĩa binh ẩn núp. Ngày đó dân địa phương gọi bản doanh ông Định là “Xóm Trại”, và ngày nay các bô lão địa phương vẫn còn những ký ức về “Xóm Trại” do ông bà kể lại. Từ bản doanh “Xóm Lá Tối Trời”, nghĩa binh tung ra những đợt phục kích đồn bót khiến cho giặc Pháp vô cùng sợ hãi với đạo quân “Xuất quỷ nhập thần” khi ẩn khi hiện này. Nhưng khoảng một năm sau, thì bản doanh bị tấn công vì có nội gián. Sáng sớm ngày 20 tháng 8 năm 1864, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn vì lòng oán hận Lãnh Binh Trương Định đã xử phạt đánh bằng trượng khi y hãm hiếp một phụ nữ trong vùng kháng chiến Lý Nhơn ngày trước, nên y đã làm nội gián dẫn đường cho Tây đột nhập vào căn nhà Trương Định đang ở cùng với 25 nghĩa binh khác tại vùng Ao Dinh, xã Tân Phước. Lãnh Binh Trương Định cùng nghĩa binh đánh trả quyết liệt và giết được một số giặc. Lúc này Trương Định chỉ thẳng vào mặt tên Tấn mà mắng rằng: “Thằng Tấn, mầy phản bộ

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn