Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000090
Số lượt truy cập
21865041
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-02-03 08:00:36

 

 Vào tháng 9 năm 1863, nghĩa binh Trương Định di chuyển về phía biên giới Biên Hòa, trong vùng cù lao Lý Nhơn, lại bị quân Pháp truy kích. Trong trận này, Lãnh Binh Trương Định vượt thoát được khi quân Pháp do tên Gougéard và Béhie chỉ huy đột kích vào bản bộ của ông, ông bị một tên lính mã tà nắm vào vai, nhưng ông đã chém y và vùng ra thoát được. Sau đó, nghĩa binh Trương Định vẫn tiếp tục lên đánh phá ở các vùng Biên Hòa, Tân An, Mỹ Tho, Cần Giuộc và Chợ Lớn, khiến cho người Pháp không thể nào vãn hồi được trật tự trong những vùng chiếm đóng.

Đến năm 1864, Pháp quân lại cho xây đắp thêm đường bộ từ Gia Định xuống để

tiện việc di chuyển viện binh và cho Việt gian gia nhập vào hàng ngũ nghĩa quân để quấy phá(11). Tưởng cũng nên nhắc lại, trong lúc mọi người đang chung sức chiến đấu

chống Pháp thì tên Đội Trưởng Huỳnh Công Tấn lại đem lòng phản trắc. Tối 18 rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm Giáp Tý, 1864, nghĩa quân bị quân Pháp bao vây tại vùng “Đám Lá Tối Trời,” thuộc Kiểng Phước, Gia Thuận, bên bờ sông Soài Rạp. Chính

tên Đội Huỳnh Công Tấn đã quay súng lại bắn Lãnh binh Trương Công Định, ông bị thương và đền nợ nước trong trận này, lúc đó ông mới có 44 tuổi(12). Hiện còn một

ngôi mộ tại vùng “Đám Lá Tối Trời” này. Theo các bô lão địa phương thì hình như không có xác ngài Lãnh Binh trong ngôi mộ đó, mà chỉ là do dân chúng địa phương sùng kính một bậc anh hùng yêu nước thương dân nên mới lập mộ để tưởng nhớ ngài. Theo Gia Định Thành Thông Chí, có lẽ đây là vùng “Đầm Trang” mà người Pháp đã viết sai địa danh thành ra “Đồng Tranh.” Theo các bô lão trong vùng kể lại, vào khoảng năm 1947, sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, liên quân Anh-Pháp đổ vào chiếm đóng Nam Kỳ. Họ trú đóng ngay trước ngôi mộ “Gió(13)” của cụ Trương, đêm khuya lính canh thường trông thấy một bóng không đầu hiện về, cưỡi bạch mã, tay cầm gươm, rão quanh vùng. Không biết chuyện này hư thực thế nào, nhưng dầu sao đi nữa, thì đây cũng là tấm lòng kính ngưỡng của bô lão vùng “Đám Lá Tối Trời(14).”

Mặc dầu với lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù kẻ xâm lăng của dân tộc lên đến tột độ, nhưng vì sự chênh lệch cán cân sức mạnh giữa giặc Pháp và quân kháng chiến về mọi mặt, nhất là về mặt quân sự. Tuy người Pháp đã chiếm Nam Kỳ, nhưng chúng phải luôn khốn đốn với lối đánh du kích của quân kháng chiến. Và chính lối đánh này đã làm cho quân Pháp hao mòn lực lượng nhân sự cũng như sức chiến đấu. Hồi đó, trong hàng ngủ quân Pháp tại miền Nam đã bị bệnh thời khí rất nhiều như thương hàn, thổ tả, vân vân. Phải chi triều đình Huế chịu khó cho người nghiên cứu về mặt nầy, rồi tìm một phương thế vừa đánh vừa đàm nhằm tiêu hao sức chiến đấu của giặc. Phải chi triều đình Huế khéo léo phối hợp và vẫn tiếp tục hổ trợ kháng chiến quân một cách tích cực hơn, chắc chắn toàn dân sẽ đứng sau lưng vua làm thành một cuộc toàn quốc kháng chiến, thì dầu cho có lấn chiếm được Nam Kỳ Lục Tỉnh, cũng chưa chắc gì giặc Pháp đã có khả năng giữ được, và rất có thể sự thể đã đổi khác. Nhưng không, triều đình Huế đã ra lệnh bãi binh và thẳng tay với nghĩa binh chống Pháp thời đó, nên sau đó hầu hết các cuộc kháng chiến đều bị giặc Pháp dẹp tan. Vào thời đó, chiến thuyền của Pháp quân đã được trang bị bằng động cơ nổ, trong khi chiến thuyền của quân Nam vẫn còn sử dụng buồm nhờ vào sức gió và mái chèo sử dụng sức người; trong khi quân Pháp được trang bị súng ống và ngay cả súng liên thanh, thì quân ta vẫn còn sử dụng gươm giáo, và tầm vông vạt nhọn rất thô sơ. Thử hỏi làm sao mà có thể đương cự nổi, nhưng anh dũng thay, và đáng cảm phục thay, những nghĩa binh oai dũng, dám đứng lên thà chết, chứ không hàng giặc. Theo truyền thuyết từ các bô lão vùng Gò Công, trước khi chết, Lãnh Binh Trương Định đã quay sang mắng tên Huỳnh công Tấn như sau: “Mầy có thể lấy đầu tao giao nạp cho Tây để lãnh thưởng, nhưng mày nên thương quân lính của tao.” Thật ngậm ngùi cho thân phận một đấng mày râu anh hùng trong cơn quốc phá gia vong. Dầu cho ông hy sinh đã trên một trăm năm mươi năm nay, nhưng thanh danh của ông sẽ còn mãi rạng ngời trong lòng dân tộc và trong ngàn đời sử xanh.

Lãnh Binh Trương Định là một con dân ưu tú của đất nước Việt Nam, người đã giương ngọn cờ đầu trong các phong trào đấu tranh kháng chiến của dân tộc nói chung, và vùng đất phương Nam nói riêng. Chỉ trong vòng 5 năm, từ tháng 2 năm 1859 đến tháng 8 năm 1864, ông đã gây cho Pháp quân vô vàn tổn thất về cả nhân mạng lẫn tinh thần. Phải nói, trong tất cả các cuộc kháng chiến ở vùng đất phương Nam, thì cuộc kháng chiến của Trương Định luôn là hình ảnh tiêu biểu nhất về quy mô, hiệu quả, cũng như ảnh hưởng và ý nghĩa của nó. Chính cuộc kháng chiến Trương Định đã làm chất xúc tác cho nhiều cuộc kháng chiến cũng oanh liệt không kém về sau này do các thủ lãnh Đỗ Trình Thoại, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Phan Tôn, Phan Liêm, vân vân. Riêng đối với giặc Pháp, sau cuộc kháng chiến của Trương Định và liên tiếp nhiều cuộc kháng chiến nữa đã nổ ra trên vùng đất phương Nam, đã khiến cho chúng phải kiêng sợ chứ không còn thái độ khinh rẽ dân Nam như hồi chúng mới chiếm lấy 3 tỉnh Miền Đông trước đây nữa. Có lẽ trong lịch sử viễn chinh xâm lược của chúng trên khắp các vùng khác của địa cầu từ Phi Châu, qua Á Châu và Mỹ Châu, hào kiệt của xứ sở này đã khiến chúng phải thất điên bát đảo và mất ăn mất ngủ. Qua cuộc kháng chiến này, giặc Pháp đã thấy rõ tinh thần của dân Nam, dầu chỉ với vũ khí thô sơ tầm vông, giáo mác, nhưng tinh thần người dân Nam quá vững mạnh lại thêm lối đánh “xuất quỷ nhập thần”. Từ đó chúng biết rằng ngoại trừ một vài tên Việt gian sẵn sàng làm chó săn đưa đường dẫn lối cho chúng, còn thì đa phần người Việt Nam đều có ý chí bất khuất, lòng yêu nước nồng nàn, và trong cơn quốc phá gia vong họ sẵn sàng hy sinh thân mạng của chính mình cho sự sinh tồn của đất nước. Năm 1871, vua Tự Đức xem xét công trạng của cha con Trương Định và Trương Huệ đều có lòng trung nghĩa, nên sai dựng đền thờ ông tại xã Tư Cung, Quảng Ngãi, là nơi quê quán của ông và cấp một số tự điền để dùng vào việc thờ cúng cho hai cha con ông. Sau khi Trương Định đền nợ nước, bạn ông là cụ Đồ Chiểu có làm một bài thơ điếu như sau:

“Quân thần còn gánh nặng hai vai, Lở dở công trình hệ bởi ai? Trăm nấm mộ binh vầy lớn nhỏ, Một gò cô lũy chống hôm mai.

Lương tiền nhà ruộng ba mùa trước, Thuốc đạn, ghe buôn bốn biển ngoài. Hay dở phải chăng trời đất biết,

Một tay chống đỡ mấy năm dài.”

Ngoài ra, cụ Đồ Chiểu còn làm 12 bài liên hoàn thất ngôn tứ tuyệt, trong đó có những bài điển hình như bài thứ ba, thứ tư, và thứ chín sau đây:

“Gian truân kể xiết mấy nhiêu lần, Vì nước đành trao một tấm thân. Nghe chốn Lý Nhơn người sáng suốt,

Nhìn cồn Đa Phước, cảnh bâng khuâng.” 

“Đồng Nai, chợ Mỹ lo nhiều phía, Bến Nghé, Sài Gòn, kể mấy đông. Dẫu biết dùng binh nhờ đất hiển, Chẳng đành xa bỏ cõi Gò Công.”

“Tướng quân đâu hỡi, có nghe không?

Sáu tỉnh cơ đồ, nửa đã ngăn. Cám nỗi kiến ong ra sức dẹp,

Quản bao sâu mọt chịu lời chăng...”

Bên cạnh đó, cụ Đồ Chiểu còn làm một bài văn tế Trương Công Định rất hùng hồn mà vô cùng xúc tích và cảm động:

“Hỡi ôi! Giặc cỏ bò lan; Tướng quân mắc hại.

Ngọn khói Tây bang đóng đó, cõi biên còn trống đánh sơn lâm; Bóng sao Võ khúc về đâu, đêm thu vắng tiếng canh dinh trại. Nhớ tướng quân xưa: Gặp thuở bình cư; làm người chí đại.

Từ thuở ở hàng viên lữ, pháp binh trăm trận đã làu; Đến khi ra quản đồn điền, võ nghệ mấy ban cũng trải. Lối giặc đánh, tới theo quan tổng,

Trường thi, mô súng, trọn mấy năm ra sức tranh tiên; Lúc cuộc tan vỡ, về ở Tân Hòa,

Đắp lũy, đồn binh, giữ một góc, bày lòng địch khái.

Chợt mấy cánh buồm lai sứ, việc giảng hòa những tưởng rằng xong; Đã đành tấm giấy tựu phong, phận thần tử há đâu dám cãi.

Bởi lòng chúng chẳng nghe tiên tử chiếu, đón ngăn mấy dạm mã tiền; Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại. Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ xuôi theo;

Tóm muôn dân gầy sổ mộ binh, luật lệnh nào ai dám trái. Nhưng vậy mà: Vì nước tấm thân đã mấy, còn mất cũng cam; Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại.

Rạch Giá, Gò Công mấy trận, người thấy đã kinh; Cửa khâu, Trại cá khắp nơi, ai nghe chẳng hãi. Ôi! chí dốc đem về non nước cũ,

Ghe phen hoạn nạn, cây thương phá lỗ chưa lìa;

Nào hay trở lại cảnh quê xưa, tấm bảng phong thần vội quải. Chạnh lòng tướng sĩ, thương quan tướng,

Nhắc quan tướng, chíu chít như gà; Bực trí nhân dân, giận thằng tà, Mắng thằng tà, om sòm như nhái. Ôi! Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt,

Thương đấng anh hùng gặp lúc gian truân;

Đất Gò Công cây cỏ ủ ê cám niềm thần tử hết lòng trung ái. Xưa còn làm tướng, dốc rạng giồi hai chữ Bình Tây;

Nay thác theo thần, xin dựng hộ một câu phúc thái.”

Tại Gò Công, hiện tại vẫn còn di tích lăng mộ của ông trên đường Lý Thường Kiệt trong châu thành Gò Công, cách phía Nam khu chợ Gò Công khoảng 50 thước. Mộ được làm bằng đá vôi khá lớn, chung quanh có vòng thành thấp, nằm trong khu vườn của một ngôi nhà xưa, trên bia mộ có khắc dòng chữ: “Đại Nam Lãnh Binh kiêm Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Công Định Chi Mộ(3).” Tuy nhiên, sau khi người Pháp biết được ý nghĩa trên bia mộ, họ đã cho người đến phá nát chữ “Bình Tây” và chữ “Định.” Quả đúng là nỗi khiếp sợ của những kẻ cướp nước. Trong thời nội chiến Việt Nam từ năm 1954 đến 1975, khu mộ dầu không được trùng tu vì lý do chiến tranh, nhưng rất uy nghiêm và được mọi người tôn kính. Sau năm 1975, khi chiến tranh chấm dứt, người ta cho trùng tu khu lăng mộ lại như chúng ta thấy hiện nay. Ngoài ra, tại Biên Hòa, đồng bào ấp Núi Đất cũng tôn thờ ông trong một ngôi đình được xây dựng từ năm 1966. Ấp này thuộc xã Bình Trước, nằm giữa quốc lộ 1 và quốc lộ 15, từ Mũi Tàu Vườn Mít đến Tân Mai rồi lên cầu Bệnh Viện Tâm Trí Biên Hòa. Và còn một ngôi mộ Gió(13) ở tại “Đám Lá Tối Trời”, ngày nay thuộc xã Gia Thuận, mà theo các bô lão trong vùng kể lại thì hình như không có chôn xác Ngài Lãnh Binh, mà chỉ do các bậc tiền nhân ở đây sùng kính, lập ra để truy niệm vong linh của một bậc anh hùng đã đền nợ nước tại đây.

                                                                   ( Còn tiếp)

  

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn