Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000047
Số lượt truy cập
22362749
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-01-19 05:57:51

 Đến ngày 16 tháng 12 năm 1862, nghĩa quân chặn đánh chiến thuyền của Pháp trên sông Vàm Cỏ. Dầu có khoảng 15 hoặc 20 nghĩa binh hy sinh, nhưng trong trận này tên thuyền trưởng bị giết chết và nghĩa binh đã tịch thu toàn bộ vũ khí và quân lương trên tàu. Cùng ngày với trận đánh trên sông Vàm Cỏ, nghĩa binh tiến về hướng Sài Gòn và bất ngờ tấn công và đánh phá khắp nơi kể từ ngày 16 đến ngày 31 tháng 12 năm 1862, hầu hết các đồn trại của Pháp trong các vùng Sài Gòn và Biên Hòa đều bị đồng loạt tấn công. Riêng ngày 17 tháng 12 năm 1862, nghĩa binh đánh chiếm đồn Rạch Tra, cắt đứt huyết mạch giao thông giữa Gia Định và Tây Ninh. Khoảng 4 giờ sáng, gần 500 nghĩa binh tấn công đồn do tên đại úy Thouroude chỉ huy 74 tên lính thủy. Trong đợt tấn công đầu tiên, nghĩa binh đã giết chết đại úy Thouroude, nên binh sĩ của ông ta bị rối loạn hàng ngũ. Nghĩa binh đã chiếm đồn một thời gian trước khi rút đi. Cùng ngày 17 tháng 12 năm 1862, Nguyễn trung Trực chỉ huy đánh hai chiến thuyền nhỏ trên sôn Bến Lức. Đồng thời khoảng 100 nghĩa binh kéo tới vây đồn Phước Hòa, 50 lính Pháp và lính mã tà trong đồn không chống lại nên phải kêu viện binh Y Pha Nho đến cứu viện sau khi nghĩa binh đã rút lui. Đêm 17 rạng sáng ngày 18 tháng 12 năm 1862, khoảng 1.200 nghĩa binh chia làm hai hướng tấn công và chiếm đồn Long Thành. Đô đốc Bonard phải huy động thêm 50 lính bộ binh, 40 kỵ binh và 2 khầu pháo mới đẩy lui được nghĩa binh. Cũng cùng đêm 17 rạng sáng ngày 18 tháng 12 năm 1862, nghĩa quân tập kích pháo thuyền Alarme trên Rạch Gò Công cùng những địa pháo trên bờ nhằm bảo vệ pháo thuyền này. Sáu thuyền phóng lửa của nghĩa binh đã bắn lửa vào thuyền giặc. Cùng lúc, khoảng 400 nghĩa binh tấn công các vị trí quan sát của Tây trước căn cứ Tân Hòa. Sáng ngày 18 tháng 12 năm 1862, khoảng 1.200 nghĩa binh tấn công chiếm đồn Thuộc Nhiêu do tên đại úy Taboulet chỉ huy. Đến đêm 18 tháng 12 năm 1862, khoảng 2.000 nghĩa binh đột kích vào đồn Rạch Kiến, nghĩa binh dùng 12 súng đại bác bắn đá, gây cho giặc thiệt hại rất nặng. Ngày 1 tháng 1 năm 1863, một toán quân của Pháp gồm 25 bộ binh, 12 pháo thủ, 13 kỵ binh, trang bị một khẩu dã pháo do tiểu đoàn trưởng thủy quân lục chiến Coquet chỉ huy, đã bị lọt vào ổ phục kích của nghĩa binh. Nghĩa binh đã giết tại trận 2 kỵ binh, nhiều thương binh được giặc tải đi. Trong 3 ngày 5,6, và 7 tháng 1 năm 1863, Pháp kéo đại quân vào đánh đồn Gia Thạnh của Trương Định. Đây là nơi chế tạo vũ khí và đạn dược của nghĩa binh. Tuy nhiên sau 3 ngày càn quét, giặc Tây phải rút lui sau khi chúng phá hủy của nghĩa binh một xưởng chế tạo đạn chì và một xưởng chế tạo khiên (một loại áo giáp được đan bằng tre và phủ da trâu). Tứ ngày 9 đến ngày 11 tháng 1 năm 1863, giặc Pháp dưới quyền chỉ huy của đại úy Lepres, tấn công căn cứ của nghĩa binh ở Gò Công. Từ hướng Gò Đen quân Pháp tấn công các tiền đồn bảo vệ Gò Công, nhưng bị nghĩa binh do Phạm Tuấn Phát chỉ huy phục kích khiến giặc không thể tiến vào Gò Công như dự tính được. Sau những đợt tấn công dữ dội này, chính báo cáo của đô đốc Bonard gửi cho bộ Ngoại Giao Pháp vào ngày 14 tháng 1 năm 1863 cũng cho thấy người Việt Nam (ý nói nghĩa binh của Trương Định) đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò. Giờ đây họ tấn công chúng ta ở ngay tại những vị trí của chúng ta. Chính vì thế mà đô đốc Bonard đã nghi ngờ Trương Định, và nghĩ rằng ở thế bên ngoài thì Trương Định chống triều đình Huế, nhưng bên trong vẫn được triều đình ngầm ủng hộ, nên cho giữ ấn tín chứ không thu hồi.

Nói gì thì nói, kể từ ngày bất tuân chiếu dụ của triều đình, dưới cờ hiệu “Bình Tây Đại nguyên Soái”, Trương Định chiến đấu chống Pháp mà không còn chịu sự chi phối bởi mệnh lệnh của triều đình Huế nữa. Lúc này là lúc mà nghĩa binh của ông hoạt động mạnh mẽ và gây cho địch quân nhiều thiệt hại nặng nề nhất, nhất là tại các vùng Rạch Tra, Thuộc Nhiêu ở giữa Mỹ Tho và đồn Cây Mai ở Chợ Lớn. Theo sử gia Phạm văn Sơn, mặc dầu vua Tự Đức không chính thức chấp thuận để cho Trương Định đánh pháp trên danh nghĩa quân triều đình, nhưng nhà vua vẫn ngầm đồng thuận với ngôi vị này của ông. Chính vua Tự Đức đã nói: “Nếu lòng dân đã như vậy, cũng là một phần giúp cho mưu đồ của trẫm, lẽ nào trẫm lại áp bức họ!” Hơn nữa, lòng của vua Tự Đức đối với nghĩa binh còn thể hiện qua chuyện triệu hồi Đỗ Quang về kinh để bổ đi làm Tuần Phủ Nam Định, nhưng Quang đã viết sớ xin từ, và đã ở lại làm Tham Tán Quân Vụ cho trương Định cho đến khi nghĩa binh tan rã, ông mới chạy về kinh, thế mà vua chẳng những không trách phạt, mà còn triệu vào kinh để nói chuyện gần như tâm sự với một người bạn về nỗi lòng của mình trong cơn quốc phá gia vong(6).

Lúc này thì nghĩa binh khắp nơi đã đồng tôn xưng ông lên làm Chủ Soái để cầm đầu cuộc chiến đấu chống Pháp. Ông đã lui quân bản bộ của mình về Biên Hòa để thừa dịp tiến xuống đánh phá các vùng Chợ Lớn và Gò Công. Tuy nhiên, lúc này Trương Định phải chiến đấu với cả quân Pháp trên mặt quân sự, và với triều đình Huế trên mặt chính trị, vì lệnh bãi binh vẫn còn đó. Vào tháng 10, năm 1862, nghĩa quân lớn mạnh và thiết lập căn cứ địa tại xã Thuận Thành, Cần Giuộc, và bắt đầu tấn công vào các đồn binh Pháp đóng ở Bà Hom, Phú Lâm, Bến Lức, Tân An và Cái Bè. Khi việc thương thuyết với nhà Mãn Thanh đã xong, quân Pháp chi viện tối đa cho đoàn quân viễn chinh đang trú đóng tại ba tỉnh miền Đông và bắt đầu tấn công căn cứ địa Thuận Thành của nghĩa binh ông Định. Vì thế mà ông Trương Công Định quyết định kéo nghĩa quân về Gò Công(7), nơi có một số lớn quân Pháp trú đóng mà đường sá lại khó khăn cho quân tiếp viện vì vị thế biệt lập của nó. Tại đây Trương Định vừa cho khẩn hoang xây dựng căn cứ, vừa bố trí phục kích các đồn nhỏ để làm cho địch tiêu hao lực lượng, cướp vũ khí của giặc để trang bị cho nghĩa binh. Lợi dụng thời điểm này giặc Tây chưa quen đường sá, nên ông phục kích và tạo được nhiều chiến thắng bất ngờ. Tại đây trương Định cho nghĩa binh phối hợp với dân để vừa sản xuất lương thực mà cũng vừa chế tạo vũ khí. Sau đó nghĩa binh liên tiếp chiến thắng trong các trận ở Giồng Sơn Qui và Cửa Khâu, khiến cho quân Pháp phải rút khỏi Gò Công và kéo quân về Gia Định(8). Tháng 2 năm Quí Hợi, 1863, Đô Đốc thủy quân Pháp là tướng Jaurès đem 10 tàu chiến tới đánh Gò Công. Để bảo toàn lực lượng, Trương Công Định cho quân sĩ rút lui ra ngoại thành Gò Công, trú ẩn trong các làng ven biển để đánh Pháp bằng chiến thuật du kích.

Theo Công Báo của chính quyền thuộc địa Nam Kỳ Bulletin Administratif de la Cochinchine 1862-1945 và Bulletin Officiel de la Cochinchine Francaise 1862-1945, vào khoảng đầu năm 1863, Trương Định được nghĩa binh tôn xưng là “Trung Thiên Tướng Quân” thống lãnh chức Tổng Tư Lệnh Nghĩa Quân, kiêm “Bình Tây Đại Nguyên Soái Thống Tướng(9).” Ngài đã cùng ba quân tướng sĩ ban truyền tuyên cáo với quan lại tỉnh Vĩnh Long như sau: “Năm Tự Đức thứ 12, 1858, bọn dị chủng Tây Dương đã xâm nhập xứ này. Chúng gây hấn và lần lượt chiếm cứ ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Dân chúng trong ba tỉnh này đã phải nếm trải biết bao tai ương; nhưng lời than trách của họ vô hiệu và trạng huống của họ không hề được cải thiện. Sau đó, một hòa ước đã được Tây Dương ký kết với Nguyễn triều, và hòa ước này chỉ gây thêm lòng phẫn nộ và niềm thất vọng của nhân dân trong ba tỉnh này mà thôi. Chúng tôi kêu gọi tất cả cựu quan chức gia nhập hàng ngũ của chúng tôi và hô hào ai nấy mộ binh trong khắp các địa phương. Nhờ vậy mà chúng tôi đã tập hợp được dân chúng và sĩ phu thành một đạo dân quân nhiều ngàn người với số tiền tự nguyện đóng góp lên tới bạc triệu. Khắp nơi, ai nấy đều rất hoan hỷ được góp phần, hoặc bằng của cải hoặc bằng công lao vào việc diệt giặc. Ngoài ra, sĩ phu Gò Công còn gửi thư kiến nghị lên chính quyền thuộc địa thời đó yêu cầu họ phải trả lại đất đai mà họ đã chiếm được của Nam Triều(10). Mỗi lần chạm trán với giặc, cả hai bên đều có người tử trận, chứ không riêng gì bên ta, vì vậy đạo dân quân này chẳng hề nao núng sợ sệt. Kể từ khi hai vị đại thần Nam Triều theo lệnh triều đình đã ký hòa ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho giặc, dân chúng trong ba tỉnh này lúc nào cũng tha thiết muốn khôi phục lại chủ quyền như xưa, bèn tôn chúng tôi lên làm lãnh tụ. Vì vậy mà chúng tôi không thể không làm điều mà chúng tôi đang làm, và chúng tôi sẵn sàng chiến đấu ở cả miền Đông lẫn miền Tây, chúng tôi sẽ đề kháng, sẽ xông pha và sẽ phá tan lực lượng của giặc. Dân chúng trong ba tỉnh miền Đông đã bàn bạc và tâm sự với nhau rằng nếu giặc muốn chúng ta chuộc ba tỉnh miền Đông bằng tiền, thì họ cứ cho biết bao nhiêu tiền, rồi chúng ta sẽ cùng góp tay nhau mà trả cho họ. Ví bằng họ cứ muốn lấy đứt ba tỉnh ấy, thì như lời dân chúng thường nói: chúng ta thà chết chứ không chịu làm tôi tớ cho giặc. Nếu trên đường giao liên giữa các trạm mà có sứ giả từ Kinh thành tới hoặc là người của quí vị có gửi thông báo về việc quy hoàn ba tỉnh miền Đông, thì chúng tôi sẽ cho phép giao thông. Nhưng nếu quí vị ngỏ ý muốn duy trì sự đã rồi bằng cách nhượng một phần đất nước cho giặc và giúp đỡ cho chúng, thì chúng tôi sẽ chống lại triều đình và chắc chắn sẽ chẳng còn có hòa giải hoặc hưu chiến giữa quí vị và chúng tôi; trong trường hợp này, quí vị chớ lấy làm ngạc nhiên về các biến cố sẽ xảy ra. Nhằm mục đích ấy, chúng tôi gửi tới quí vị bản tuyên ngôn này. Năm thứ 15, triều vua Tự Đức, ngày 28 tháng 11, nhằm ngày 17 tháng 1, năm 1863. Bình Tây Đại Nguyên Soái cùng Bình Tây Phó Soái đồng ấn ký.”

                                                                ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn