Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000124
Số lượt truy cập
19980572
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-12-27 04:44:50

 

 35) Tú Dật Và Tú Đà

Không có tài liệu nào nói về quê quán và năm sanh của hai ông Tú Tàu Đà và Tú Tài Dật, nhưng cũng như hai ông Nhiêu Bá và Thông Phụng, hai ông tú Đà và tú Dật đều là khoa cử của triều đình, cùng thời hoặc nhỏ hơn Thiên Hộ Dương vài tuổi, và cả hai ông cùng gia nhập hàng ngũ kháng chiến của ngài Võ Duy Dương cùng một lúc. Như vậy có lẹ hai ông này cũng cùng là người Lục Tỉnh, hay gia đình từ miền Trung di cư vào đất Gia Định. Còn về tuổi tác, có lẽ hai ông cũng cùng lứa tuổi, hoặc nhỏ hơn ngài Thiên Hộ Dương một vài tuổi mà thôi. Hồi ngài Võ Duy Dương đang lập chiến khu ở Đồng Tháp, ngài đã truyền hịch khắp nơi, kêu gọi sĩ phu ra giúp nước, dưới trướng của ngài Thiên Hộ Dương là một bộ tham mưu toàn là những sĩ phu túc trí thâm nho, khoa cử của triều đình, như các ông Thủ Chiếu, Phòng Biểu, Nhiêu Bá, Nhiêu Chấn, Thông Phụng, và Tú Dật, vân vân.

Riêng hai ông Tú Đà và Tú Dật, Lúc nhỏ hai người là hàng xóm, lớn lên cùng học một thầy và cùng đậu tú tài một lượt. Thế nhưng ông Tú Dật ứng nghĩa theo về với ngài Thiên Hộ Dương đi vào chiến khu Đồng Tháp để kháng chiến chống Pháp. Trong khi đó, Tú Đà lại theo ra làm việc với người Pháp. Đến khi ngài Thiên Hộ Dương giao nhiệm vụ cho ông Tú Dật ra vùng Cao Lãnh để chiêu dụ nghĩa sĩ và dọ thám tình hình của giặc Pháp do tên Đội Cousy chỉ huy. Tuy nhiên công việc đang tiến hành thì ông bị giặc bắt. Khi hay tin người bạn mình bị bắt. Ông Tú Đà mới gặp viên Đội Cousy để ông khuyến dụ ông Tú Dật quy hàng. Tú Đà được tên Đội Cousy cho toàn quyền trong vụ này. Lúc này bọn Tây giam lỏng ông Tú Dật tại nhà ông Thông Trí, có người phục dịch cơm nước, rượu trà, và bất cứ thứ gì mà ông Dật cần.

Khi Tú Đà đến nơi thì ông ta làm như rất lo cho bạn và nói với bạn là ông chẳng hề hay biết việc này, nên mới để cho bạn phải bị những ngày lao lung như thế này. Tú Dật bèn khẳng khái nói với ông Tú Đà: “Đã là chí sĩ thì sự lao lung gian khổ, đó là thường, là phần thưởng danh dự, đâu phải đáng buồn.” Lúc này ông Tú Dật cũng chưa biết là ông Tú Đà đã theo Pháp nên hỏi: “Hồi này ông làm gì và ở đâu?” Liền ngay đó, Tú Đà ngâm một bài thơ vịnh cuộc đời:

“Lỡ làng chưa trọn phận làm trai, Tạm sống cho qua đoạn tháng ngày. Trái mắt cũng thôi đành ngậm miệng, Đau lòng chịu vậy đã nghiêng tai. Về Tào chi sá thân hèn mọn,

Ở Hán còn bao kẻ trí tài.

Này nước này nhà hai gánh nặng, Xốn xang lòng tớ có ai hay.”

Sau khi nghe bạn mình ngâm bài thơ là ông Tú Dật đã hiểu ra ngay, nên ông cũng ngâm trả lại một bài:

“Tai ngơ sao được phận làm trai,

Mấy thuở gây nên được những ngày. Thục nữ còn ra giành trách nhiệm, Tu mi sao để chịu nghiêng tai!

Biết Tào nên chẳng ra phò trợ, Gặp Hán sao không quyết trổ tài? Sóng gió rồi đây trời bể lặng, Gìn lòng đâu phải gọi rằng hay!”

Bài thơ của Tú Dật đã khiến Tú Đà cảm thấy hổ thẹn lắm, nhưng vì trót đã theo Tây bấy lâu nay ăn sung mặc sướng, một bài thơ làm sao đủ sức lôi kéo được ông ta. Đã vậy, mà hết ngày này qua ngày khác, Tú Đà luôn theo sát bên dụ dỗ Tú Dật theo về với Pháp. Tuy nhiên, lần nào cũng bị Tú Dật mắng cho một trận nên thân. Sau đó, Tú Đà gửi cho Tú Dật bài thơ “Vịnh Con Tôm” như sau:

“Ỷ mình lớn mắt với râu dài, Gan ruột nhà va nõ có đâu!

Chim chít khoe khoang tài mũi nhọn, Sụt sùi núp lén chốn dòng sâu. Đánh hơi thấy xác mùi ra miệnh, Nghe tiếng chài te cứt lộn đầu.

Càn giọng múa men cơn gặp nước. Cực gì ăn chạ mắc sa câu!

Sầm Giang là chốn rất cao kỳ, Danh tiếng vang lừng xóm phú thi. Chợ giữa nhiều trang văn Ngọc Diệp, Vĩnh Kim lắm kẻ học Liên Trì.

Tài ba đời cổ chưa nơi sánh, Lỗi lạc lối kim ít chỗ bì.

Kính tặng một bài lưu dấu để, Ai người đến đó mới tường tri.”

Nghe nói, sau đó ông Tú Đà đã sắp bày kế hoạch rồi thả ông Tú Dật đi êm, rồi từ đó không biết hai ông có còn gặp lại nữa hay không. Nhưng vào thời của hai ông Tú Đà và Tú Dật cũng còn rất nhiều trường hợp tương tự như trường hợp của hai ông, điển hình là hai ông Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị. Phải thành thật mà nói, ông bà ta ngày xưa có câu: “Cháy nhà mới lòi ra mặt chuột” là vậy đó. Đằng này chẳng những mặt chuộc đã lòi ra, mà còn trơ trẻn đi biện minh cho những việc xấu xa mà mình đang làm. Bây giờ thì lịch sử vong quốc đã sang trang, nhưng hình như bài học lịch sử của những người đi trước vẫn chưa được những người hậu bối tìm cách “Ôn cố tri tân”. Mà ngược lại, ngày nay có lắm kẻ núp dưới danh nghĩa yêu nước, nhưng trên thực tế, chính chúng lại là bọn đã bán đất bán biển cho ngoại bang bằng những văn kiện giấy trắng mực đen hẳn hòi. Than ôi! tội nghiệp quá cho thân phận một nước Việt Nam nhược tiểu, phải nằm trong vòng xoáy cay nghiệt của thế giới. Mong có một ngày nào đó, người Việt Nam sẽ có những sĩ phu dám nói dám làm hầu giúp được cho dân tộc Việt Nam có cơ hội ngẫng đầu lên cùng với năm châu bốn biển. Mong lắm thay!!!

 

Phần Mười Một

 

Hào Kiệt Đất Phương Nam Đầu Thế Kỷ XX

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM

Cuộc Kháng Chiến

Của Trương Công Định(1859-1864)

 

Về tiểu sử của anh hùng Trương Công Định (1820-1864) thì có rất nhiều tài liệu được ghi lại, nhưng trong tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam này, tác giả chỉ dựa vào hai tài liệu: một là của quan Đốc học Vĩnh Long thời đó là cụ Nguyễn Thông, và thứ hai là theo Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, quyển số 38. Trương Công Định là vị anh hùng chống Pháp hết sức kịch liệt từ khoảng những năm 1862 đến năm 1864 trong vùng từ Chợ Lớn xuống các vùng Tân An và Gò Công. Ông gốc người Quảng Ngãi, tộc danh là Trương Văn Định(1), sanh năm 1820 tại xã Tư Cung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là con của cụ Trương Cẩm, còn gọi là thị vệ Sâm, thuộc cơ binh triều Nguyễn. Đến năm 1844, đời vua Thiệu Trị năm thứ tư, cụ Cẩm được thuyên chuyển vào Gia Định và sau đó được thăng chức Vệ Úy Hữu Thủy Vệ. Trương Định vốn là con nhà Võ, nên từ lúc còn thanh niên đã có sức mạnh và tinh thông võ nghệ. Về sau, ông tập luyện thêm tài bắn súng. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã có một dung mạo khôi ngô đỉnh đạt, mới quen là đã có cảm tình. Điều này cũng rất tốt trong việc chiêu mộ nghĩa quân của ông về sau này.

Sau khi cha qua đời, Trương Định vẫn tiếp tục lưu lại đất Gia Định và lập gia đình với bà Lê thị Thưởng, con gái của một phú gia giàu có trong vùng Long An, phủ Tân An, thuộc tỉnh Định Tường thời đó. Có sách ghi là bà Lê thị Thưởng(2) quê ở huyện Tân Hòa Gò Công. Lúc này ông không theo binh nghiệp mà chỉ làm một nhà vườn cây kiểng và trồng tỉa các loại cây ăn trái. Năm 1854, thể theo lời kêu gọi của quan Kinh Lược Sứ Nguyễn Tri Phương, ông đứng ra chiêu mộ dân đi khai hoang và lập thêm dinh điền mới. Số người do ông chiêu mộ lên đến hàng vạn tráng đinh và thân hào trong việc giúp chỉnh đốn lại việc làm nông ở miền Nam thời đó. Vào khoảng những năm từ 1857 đến năm 1859, vùng Quảng Nam và Quảng Ngãi bị thất mùa, dân chúng bị nạn đói hoành hành vô cùng khốn khổ, Trương Định đã đứng ra kêu gọi và lạc quyên dân trong các điền do ông khai khẩn để cứu đói miền Trung. Nhân dịp này, năm 1859, ông cũng về lại Quảng Ngãi chiêu một thêm 50 gia đình đi vào Tân Hòa trong Namđể khẩn hoang lập ấp. Theo Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện, Trương Định lập nghiệp trước là cho mình, sau nữa là giúp cho bà con nông dân trong vùng được no cơm ấm áo. Sau khi xem xong tờ sớ của Nguyễn Tri Phương, vua Tự Đức bèn ban chiếu chỉ phong cho Trương Định Hàm Lục Phẩm, chức Quản Cơ. Chính vì vậy mà người đương thời thường gọi ông là Quản Định.

                                                                                  ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn