Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000112
Số lượt truy cập
19981139
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-12-26 12:09:12

 

 32) Đỗ Thừa Luông--Đỗ Thừa Tự

Đất phương Nam tuy là vùng đất mới, chỉ khoảng 300 năm trong chiều dài lịch sử gần năm ngàn năm của đất nước, nhưng vùng đất mới này không thiếu anh hùng hào kiệt sẵn sàng hy sinh thân mạng mình để bảo vệ tổ quốc. Ngoài các hào kiệt theo Nguyễn Ánh thời Nguyễn trung hưng, vì vào thời đó Nguyễn Ánh đã chạy về vùng đất này để lẩn trốn Tây Sơn, nên nghĩa binh Tây Sơn đã vào đây truy kích ông và kết quả là vùng đất phương Nam biến thành bãi chiến trường trong cuộc thư hùng giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Đến thời kỳ người Pháp xâm lăng Việt Nam, vùng đất này cũng đã sản sinh ra không thiếu gì những anh hùng hào kiệt đã đứng lên tụ nghĩa chống ngoại xâm.

Năm 1867, sau khi người Pháp đã chiếm xong 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, cuối năm đó chúng bắt đầu thiết lập guồng máy thống trị, và cũng từ đó, hào kiệt trong ba tỉnh này đã theo chân hào kiệt ba tỉnh miền Đông, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc bằng những cuộc khởi nghĩa chống xam6 lăng, đem chính xương máu mình viết nên trang sử oai hùng của dân tộc. Tại Vĩnh Long thì có các ông Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Giao, Cai Cơ Dõng; tại Trà Vinh thì có ông Lê Tấn Kế; tại Hà Tiên Rạch Giá thì có các ông Nguyễn Trung Trực, Phó Cơ Điều; tại An Giang có ông Trần Văn Thành; tại Cần Thơ có ông Đinh Sâm, vân vân. Riêng tại Cà Mau, vào đầu năm 1872, có hai anh em ông Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự, đã tụ nghĩa khởi binh tại vùng Cái Tàu, làng Khánh An. Không biết hai anh em này sanh ra vào năm nào, chỉ biết vào thời đó, hai ông hãy còn rất trẻ, là hai trang thanh niên đầy nhiệt huyết. Hai ông là con của cụ cử nhân Đỗ Văn Nhân.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, nghĩa binh của hai ông đã đánh cho Pháp binh những trận tơi bời trong vùng đầm lầy Cà Mau. Đến giữa năm 1872, số vũ khí tịch thu được của địch có thể trang bị cho cả tiểu đoàn kể cả những khẩu đại bác tối tân của Tây thời đó. Tuy nhiên, đạn dược không có, nhân lực không được bổ sung, lại thêm đám Việt gian tay sai ngày càng nhiều, nên dầu hồi đó lực lượng kháng chiến của nghĩa binh có mạnh thế mấy cũng không cứu vãn được tình thế. Cuối cùng, nghĩa binh dần dần ta rã. Dầu cuộc kháng chiến không thành công, danh tiếng của hai ông vẫn muôn đời lưu danh hậu thế.

 

33) Đỗ Trình Thoại

Đỗ Trình Thoại còn được gọi là Huyện Thoại, gốc người thôn Long An, huyện Tân Hòa, Gò Công, thuộc tỉnh Gia Định thời đó, ngày nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Ông sanh ra trong một gia đình nho giáo nế nếp. Năm 1843, ông đỗ cử nhân và được bổ làm Tri Huyện Long Thành dưới thời vua Thiệu trị (1841-1847). Dưới thời vua Tự Đức (1847-1883), vào tháng 7 năm 1858, trung tướng Pháp là Rigault de Genouilly chỉ huy liên quân Pháp và Y Pha Nho đến đánh Đà Nẳng, chiếm thành An Hải và Tôn Hải. Sau đó, Pháp lại đem quân vào Nam đánh chiếm thành Gia Định vào đêm 15 rạng 16 tháng 2 năm 1859. Đến năm 1861, Pháp tiến đánh vùng Định Tường bằng hai hướng: cánh quân thứ nhất do thiếu tướng Page từ hướng cửa Đại của sông Cửu Long, và cánh thứ hai do trung tá Bourdais đem tàu chạy dọc theo các sông rạch bên trong tiến chiếm thành Mỹ Tho một cách rất dễ dàng. Lúc này quan Hộ Đốc là Nguyễn Công Nhân phải bỏ thành mà chạy. Sau khi chiếm thành Mỹ Tho, giặc Pháp cho lập đồn lũy ở các nơi trọng yếu chạy dài từ Mỹ Tho ra tận biển Tân Thành của Gò Công. Tuy nhiên, họ vẫn chưa tức thời tổ chức hành chánh để cai trị. Đến tháng 11 năm 1861, Pháp quân lại tiến chiếm luôn tỉnh Biên Hòa, bắt buộc triều đình Huế phải ký Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 với chúng(1).

Ngay khi Pháp quân đánh chiếm Định Tường, ông Huyện Thoại đã gom góp binh lính trong huyện của mình được khoảng 600 người. Đến ngày 22 tháng 6 năm 1861, vào lúc 5 giờ sáng, ông đã điều động nghĩa binh tiến đánh thành Mỹ Tho và đụng độ với cánh quân của tên trung úy Paulin Vial. Tuy nhiên, vì nghĩa binh chỉ được trang bị với giáo mác, nên đợt đại bát đầu tiên của Pháp đã giết chết ngay tại trận 14 nghĩa binh, trong đó có ông Huyện Thoại và phó tướng của ông. Số nghĩa binh còn lại phải kéo về hợp với cánh quân của Lãnh Binh Trương Công Định. Trong trận này, tên trung úy Paulin Vial cũng bị thương nặng. Dầu không thành công trong việc công thành Mỹ Tho, quan Huyện Đỗ Trình Thoại và Phó Tướng đã anh dũng hy sinh đền nợ nước, dám đem gươm giáo ra đối đầu với thần công đại pháo của Tây, quả là một tấm gương hy sinh cao cả đánh cho đàn hậu bối đất phương Nam phải luôn nghiêng mình kình ngưỡng và đời đời nhớ ơn!

Ghi Chú:

(1)          Theo Hòa Ước Nhâm Tuất 1862, triều đình Huế phải nhượng đứt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp và phải để cho chiến thuyền của Pháp tự do ra vào các cửa sông Cửu Long.

 

34) Nhiêu Bá Và Thông Phụng

Không có tài liệu nào nói về quê quán và năm sanh của hai ông Nhiêu Bá và Thông Phụng, nhưng hai ông đều là khoa cử của triều đình, cùng thời, và gia nhập hàng ngũ kháng chiến của ngài Võ Duy Dương cùng một lúc. Như vậy có lẽ hai ông này cũng cùng là người Lục Tỉnh, hay gia đình từ miền Trung di cư vào đất Gia Định. Còn về tuổi tác, có lẽ hai ông cũng cùng lứa tuổi, hoặc nhỏ hơn ngài Thiên Hộ Dương một vài tuổi mà thôi. Hồi ngài Võ Duy Dương đang lập chiến khu ở Đồng Tháp, dưới trướng của ngài Thiên Hộ Dương là một bộ tham mưu toàn là những sĩ phu túc trí thâm nho, khoa cử của triều đình, như các ông Thủ Chiếu, Phòng Biểu, Nhiêu Bá, Nhiêu Chấn, và Thông Phụng, vân vân. Trong số này, ông Thông Phụng tuy là tài nho học kém hơn những vị kia, nhưng lại thao lược về võ nghệ và đa mưu túc trí, nên rất được ngài Thiên Hộ Dương nể vì. Chính vì vậy mà ngay trong bộ tham mưu laị có sự ganh ghét nhau, nhưng nhờ tài năng khéo léo của Thiên Hộ Dương mà mọi người đều nhất tề một lòng quyết chiến với giặc Pháp.

Sau khi biết có chuyện ganh tỵ và bất hòa trong bộ tham mưu của mấy ông Phòng Biểu và Nhiêu Bá đối với ông Thông Phụng. Ngài Thiên Hộ Dương làm tiệc rượu rồi mời ngũ tướng cùng lai rai với mình. Rồi ngài bảo ông Thông Phụng đàn bản “Trường Tương Tư”, nhưng Nhiêu Bá mỉa mai nói: “Đây chỉ là loại Trịnh Vệ Chi Phong” mà thôi. Ngài Thiên Hộ đã nhìn thấy rõ ràng sự bất hòa giữa đôi bên, nên không nói gì mà chỉ rót rượu trao cho ông Phụng và ông Bá rồi nói: “Thôi để tôi nói một câu chuyện Tàu trong lúc mình lai rai. Số là hồi thời Đông Châu Liệt Quốc, có bảy nước tranh hùng, trong đó nước Tần là mạnh nhất. Nghe tin Triệu quốc có Ngọc Bạch Bích rất quí, Tần vương đưa thư xin đổi 15 thành trì để lấy viên ngọc. Triệu vương nghe rồi sợ hãi, vì nếu không khéo thì thành đã không được mà còn mất luôn cả ngọc. Triệu vương bèn nhóm họp triều thần hội ý. Lạn Tương Như đứng ra xin đem viên ngọc đến cho Tần vương xem. Diện kiến Tần vương, Lạn Tương Như tâu: 'Nếu Triệu được thành thì tôi để ngọc ở Tần, bằng không, tôi xin giữ viên ngọc đem về Triệu.' Nhưng Tần vương thì muốn lấy ngọc mà không phải giao thành, nên ra lệnh cho tướng sĩ cướp lấy viên ngọc từ trong tay Tương Như. Lạn Tương Như biết rất rõ dã tâm của Tần vương, nên tâu: 'Viên ngọc có chút vết, tôi sẽ chỉ cho đaị vương xem.' Nghe vậy Tần vương bèn ra lệnh trao viên ngọc lại cho Tương Như. Vừ cầm được viên ngọc trong tay, Tương Như bèn đứng tựa vào cột và quát lớn: 'Đaị vương đã thư cho Triệu vương đem Ngọc Bạch Bích mà đổi lấy thành, nay định cướp thì cái đầu tôi đây sẽ đập nát viên ngọc vào cây cột. Tôi thà chết chứ không để cho Đại vương làm chuyện tước đoạt như vậy.' Kết cuộc là Tần vương chấp nhận đổi thành mà trước khi nhận ngọc còn phải trai giới đủ 5 ngày. Từ sau vụ này, Tương Như về nước và rất được sự kính nể của Triệu vương, và được phong làm Thượng Đại Phu, nghĩa là trên đaị tướng Liêm Pha một bậc. Thấy vậy đại tướng Liêm Pha đem lòng ganh ghét. Hăm rằng khi gặp Tương Như ở đâu là giết ở đó. Từ đó Tương Như thoái thác ít khi vào triều. Một hôm, có việc ra ngoài, tình cờ thấy toán lính của Liêm Pha, nên Tương Như vội lách mình vào ngỏ, đợi cho toán lính qua rồi mới ra. Những người đi theo Tương Như thấy vậy tỏ ý chê Tương Như là hèn nhát. Tương Như bèn họp bọn xá nhân lại và hỏi: 'Các ông xem Tần mạnh hay lục quốc mạnh? Họ đáp: 'Tần mạnh.' Tương Như laị hỏi: 'Liêm tướng mạnh hay Tần mạnh?' Họ đáp: 'Liêm tướng làm sao có thể so được với Tần?' Tương Như bèn giải thích: 'Ta đã không sợ Tần thì làm gì phải sợ một Liêm tướng chứ! Sở dĩ Tần không dám đánh Triệu là vì e có cả Tương Như lẫn Liêm Tướng, nay hai con hổ này cùng đánh nhau. Tần chắc chắn sẽ thừa cơ hội này mà đánh Triệu. Nên ta coi việc nước làm trọng mà việc nhà làm khinh là vậy đó!' Sau đó, quân của Tương Như cùng nói chuyện này với quân của Liêm Pha. Và chuyện này đã thấu đến tai của Liêm Pha. Khi biết được chủ tâm cao thượng của Tương Như, vì nước mà phải tránh mặt mình, Liêm Pha vô cùng hối hận, liền một mình chạy đến trướng phủ Lạn Tương Như, ôm chầm lấy Tương Như mà khóc tạ lỗi. Cả hai đại tướng nước Triệu đều ôm chầm lấy nhau mà khóc trong niềm vui sướng. Từ đó hai ông trở thành hai anh em rất thân thích, và cũng chính nhờ vậy mà Tần không đánh nổi Triệu” Sau khi nghe Thiên Hộ Dương kể chuyện Lạn Tương Như và Liêm Pha, ông Nhiêu Bá vô cùng hối hận.

Trong bữa tiệc ngày hôm đó, khi biết Nhiêu Bá đã hối hận, ngài Thiên Hộ bèn nói: “Hôm nay trời trong sáng tỏ, thôi mấy ông hãy ra đề tài làm mấy bài thưởng nguyệt đi.” Nói xong, ngaì Thiên Hộ bảo ông Phòng Biểu ra đề. Biết hai ông Thông Phụng và Nhiêu Bá có xích mích nhau, nên Phòng Biểu bèn lấy sự tích Quách Tử Nghi đời Hán làm đầu đề. Nguyên vua Đại Tôn gả con gái mình cho con trai Quách Tử Nghi tên là Quách Ải. Ỷ mính con vua, cô dâu không chịu làm tròn tam tòng tứ đức trong gia đình nên bị chồng mắng đuổi về và nói: “Cô đừng ỷ cha cô làm vua, cha tôi vì khinh ngôi vua mà không thèm làm ấy thôi!” Đến chứng Quách Tử Nghi hay chuyện bèn đến xin lỗi Đại Tôn. Sau khi ra đề xong, Nhiêu Bá làm trước một bài thơ:

“Ngai vàng cất mão dám tâu qua: Lỗi ở con làm tội đến cha?

Trẻ dại chẳng kiêng bề lớn bé, Già cam chịu lỗi phận sui gia. Cháy da chưa đủ đền ơn nước,

Dại miệng khôn kiêng lỗi việc nhà. Cái nghĩa quân thần là đạo trọng, Muôn ơn rộng lượng giết cùng tha.”

Quả tình ông Nhiêu Bá xứng danh là ngũ tướng của ngài Thiên Hộ Dương. Nhieu6 Bá vừa xong bài thơ, thì ông Thông Phụng cũng làm một bài họa lại ngay:

“Thần vương nghĩ lại chuyện hôm qua, Lỗi ở con làm há trách cha!

Dại miệng khoe khoang tài chú rể, Nghiêng tai giả điếc phận ông gia. Người khôn ngõ đặng đền giềng nước, Đứa dại xui cho rối việc nhà:

Khó nhọc dễ quên công mấy thuở, Quân thần đạo trọng, trẫm ban tha!”

Qua bài họa lại, chúng ta thấy rõ, ông Thông Phụng đã tỏ ra là một bậc chính nhân quân tử, bỏ qua tất cả những tranh chấp giữa hai người trước đây. Và cũng chính từ đó bộ tham mưu của Thiên Hộ Dương là một khối đoàn kết keo sơn, quyết chỉ một lòng đánh đuổi giặc Pháp. Đến năm 1865, sau khi ngài Thiên Hộ Dương bị bệnh mà mất trong chiến khu Đồng Tháp, có người nói cả hai ông Nhiêu Bá và Thông Phụng đều hy sinh đền nợ nước, nhưng có người nói hai ông về vùng Rạch Giá tham gia với quân kháng chiến của Nguyễn Trung Trực, sau khi Nguyễn Trung Trực đền nợ nước vào năm 1868, không còn tin tức gì về hai vị anh hùng này nữa.

                                                                                             ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn