Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000347
Số lượt truy cập
19981033
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-12-10 08:36:18

 

29) Đoàn Văn Cự(1835-1905)

Đoàn Văn Cự, tục danh “Ông Thầy Cự” sanh năm 1835. tại tổng Bình An, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, trong một gia đình khá giả. Thân sinh ra ông ra một nhà Nho uyên thâm, nhưng gặp thời loạn lạc nên đành bỏ vùng quê Thủ Đức để tha hương. Khi liên quân Pháp-Y Pha Nho lấn chiếm vùng Gia Định, ông và gia đình đã lẫn trốn vào những vùng rừng sâu(1), rồi tham gia nhiều phong trào kháng chiến chống Pháp. Để che dấu sự theo dõi của Pháp, ông Cự đã hành nghề dạy học, xem bói, và hốt thuốc Nam gia truyền, để được dễ gần gũi và lôi cuốn đồng bào. Chẳng bao lâu sau đó, ông đã qui tụ được rất đông nghĩa sĩ trong vùng, đa số là nông dân và một số sĩ phu. Tổ chức kháng chiến của ông Cự lúc này cũng giống như tổ chức trại ruộng của ông Quản Cơ Trần Văn Thành ở miền Thất Sơn. Tuy nhiên, vì đây là vùng rừng chồi, nên nông dân chỉ có thể làm rẫy mà thôi, nên thời đó có nhiều người gọi đó là những “Trại Rẫy”, vừa canh tác nương rẫy, tự túc về lương thực, và vừa chiến đấu. Những lúc rảnh rỗi về đêm, ông Cự thường hay tổ chức những khóa học về đạo đức cho nghĩa sĩ, nông dân và đồng bào, nhằm nâng cao tinh thần yêu nước của họ.

Đồng bào miền Đông Nam Kỳ thời đó luôn xem ông như một vị Đạo Sĩ, và số tín đồ theo về với ông ngày càng đông, nhất là các vùng Bình Đa, Chợ Chiếu (Hiệp Hòa), chạy dài đến vùng Núi Nứa ở Bà Rịa. Trong vòng ba năm, nhóm nghĩa sĩ của cụ đã tích trữ số lương thực và khí giới cho hàng sư đoàn dùng trong cả năm trời. Bên cạnh đó, ông Cự luôn cho nghĩa binh tập dợt cũng như tuyển mộ thêm rất nhiều nghĩa sĩ. Đến khi lực lượng đã đủ mạnh, ông Cụ ra lệnh cho lực lượng của mình bắt đầu hoạt trong những khu vực quanh rừng chồi hay các bưng biền vùng Bưng Kiêu ở Vĩnh Cửu. Nhưng có lẽ bị nội gián, nên quân Pháp đã biết rõ địa điểm trú đóng của nghĩa binh, nên ngày mừng 8 tháng 4 âm lịch năm 1905, chính quyền Pháp cho đội lính mã tà với võ trang đầy đủ từ Biên Hòa kéo đến căn cứ nghĩa binh trong thôn Vĩnh Cửu. Nhưng ông Cự cũng luôn cảnh giác, nên đã cho hàng trăm nghĩa binh dưới sự chỉ huy của các ông Hoàng Mè và Hoàng Giáp chỉ huy chuẩn bị nghênh chiến. Đợi mãi tới chiều tối vẫn không thấy địch xuất hiện, nghĩa sĩ được lệnh tản ra đi ăn buổi chiều, nhưng nghĩa binh vừa rút thì quân Pháp dưới sự chỉ huy của một tên đại úy đã rầm rộ kéo đến. Giặc Pháp mai phục dọc theo bờ Suối Linh và Suối Cầu Khỉ để bao vây nhà ông Cự. Sau khi siết chặt vòng vây, viên đại úy cùng 3 tên lính đã xông vào nhà ông Cự. Đến ngay trước ngạch cửa, viên sĩ quan Pháp gặp ngay ông Cự trong bộ trang phục oai nghi, đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắc lưng màu hồng, giắt đoản đao đứng trước bàn thờ Tổ. Khi quân Pháp vừa xông vào, ông Cự liền rút đoản đao ra chém vào đầu tên sĩ quan Pháp, nhưng y né khỏi, chỉ đứt một mép tai và bị thương nơi tay trái. Tên sĩ quan Pháp bèn rút súng ra bắn ông Cự chết ngay trước bàn thờ Tổ.

Lúc này ông Cự đã ngoài 70 tuổi, mà tướng mạo hãy còn rất phương phi, nằm chết hiên ngang như một võ tướng.

Sau khi giết ông Cự, quân Pháp cho đốt phá trại rẫy và tất cả lương thực. Sau khi đốt phá suốt đêm, quân Pháp lại cho viện binh đến canh giữ địa điểm. Trong khi đó, một toán nghĩa binh ở phía sau trại rẫy nhân lúc quân Pháp đang thay phiên gát, đã tấn công bất ngờ và hạ được một số địch quân, nhưng trước khi rút vào rừng chồi bằng ngả phía sau nghĩa binh chỉ còn lại chừng 20 người, và sau cái chết của ông Cự, phong trào này coi như bị Pháp tiêu diệt. Sáng ngày hôm sau, mùng 9 tháng 4, quân Pháp đã cho gom xác tất cả nghĩa binh và chôn chung vào một chỗ. Di tích nấm mộ chung của Đoàn Văn Cự và 16 liệt sĩ vẫn còn trên bờ Suối Linh Truyền tại ấp Vĩnh Cửu, xã Tam Hiệp, cách về phía Bắc chỗ ngã ba xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, ngang quốc lộ 15, chừng 90 thước. Năm 1956, chánh quyền VNCH cho xây dựng đền thờ ngay bên cạnh khu mộ. Hằng năm đến ngày mùng tám tháng 4 dân chúng địa phương về đây làm lễ cúng tế và tưởng niệm anh hùng Đoàn Văn Cự cùng 16 liệt sĩ đã cùng nhau chống Pháp đến hơi thở cuối cùng. Chánh quyền VNCH cũng đặt tên một con đường nối liền Quốc Lộ 1 đến liên tỉnh lộ 24 tại ấp Thánh Tâm, xã Hố Nai mang tên Đoàn Văn Cự. Và đến năm 1960, khi xây cất một cư xá cho công chức trên đại lộ Nguyễn Hữu Cảng, thành phố Biên Hòa, chánh quyền cũng cho đặt tên là khu cư xá Đoàn Văn Cự. Đến khoảng năm 1965, khi quân đội Mỹ bắt đầu xây dựng căn cứ Long Thành, toàn khu mộ nằm lọt trong khu căn cứ, nhưng người Mỹ đã để nguyên không hề động chạm gì tới. Không biết sau năm 1975 thì chánh quyền mới có cho để nguyên khu mộ trong căn cứ quân sự như vậy hay không?

Phải thành thật mà nói, tất cả những bậc tiền bối của đất phương Nam sanh vào giữa và hậu bán thế kỷ thứ XIX đều phải gánh chịu chung một hoàn cảnh bi thương của đất nước khi mà gót giày xâm lăng của người Pháp dày xéo trên khắp những miền đất thân yêu của tổ quốc. Ngoại trừ một số những tên tay sai bán nước, sẵn sàng cam tâm làm tay sai cho giặc và bán đất bán biển cho ngoại bang, còn thì đa số dân chúng và những sĩ phu yêu nước đều sẵn sàng hy sinh thân mạng mình để bảo vệ tổ quốc thân yêu. Dầu thân xác của những vị anh hùng liệt sĩ đã tan mất theo dòng thời gian, nhưng anh linh oai dũng của cụ Đoàn Văn Cự và 16 liệt sĩ sẽ sống mãi trong lòng dân tộc, nhất là trong lòng con dân đất phương Nam. Ngày nay những ai đi ngang qua khu rừng chồi Long Bình đều có thể mường tượng được cách đây khoảng 120 năm về trước, chính tại nơi đây là căn cứ của những hào kiệt đất phương Nam vô cùng oai dũng, đã dám sử dụng đoản đao để đương đầu với súng đạn của giặc Tây, dầu biết chắc chắn phaỉ lãnh lấy cái chết, nhưng các ngài vẫn làm, những mong góp phần dóng lên tiếng nói giành độc lập tự chủ cho dân tộc.

Ghi Chú:

(1)          Khi người Pháp chiếm miền Nam, ông Cự đã đưa vợ là bà Một và ba con là Đoàn Văn Hiền, Đoàn thị Ngoạn và Đoàn thị Kiển vào khu rừng chồi trong Bưng Kiêu, thuộc vùng Vĩnh Cửu.

 

30) Đinh Sâm

Đinh Sâm là tên của lãnh tụ kháng chiến chống Pháp vào lúc liên quân Pháp-Y Pha Nho vừa mới đánh chiếm xong Nam Kỳ. Theo sách Monographie de Can Tho, Đinh Sâm còn có tên là Võ Đình Sâm(1) là tên của một vị lãnh tụ kháng chiến chống Pháp lừng danh tại vùng Trà Niềng, thuộc Cần Thơ. Ngay khi tiếng súng đầu tiên của quân Pháp bắt đầu nổ trên vùng đất phương Nam, và dầu hòa ước 1862 đã ký nhượng 3 tỉnh miền Đông, rồi sau đó mất luôn 3 tỉnh miền Tây, và triều đình đã ra lệnh bãi binh tất cả quân đội triều đình trên 6 tỉnh phương Nam, nhân dân và hào kiệt của vùng đất này không cam tâm khuất phục, nên họ đã nhất tề đứng lên đánh Tây ở khắp nơi.

Tại Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh thì có hai người con của cụ Phan là Phan Thanh Tôn và Phan Thanh Liêm. Tại Mỹ Tho có Thủ Khoa Huân; tại Rạch Giác có Nguyễn Trung Trực; tại Đồng Tháp có Thiên Hộ Dương; tại Gò Công có Trương Định, vân vân. Riêng tại vùng Phong Phú, vào khoảng năm 1868, có cuộc khởi nghĩa của Đinh Sâm. Ngay khi người Pháp vừa chiếm xong Nam Kỳ Lục Tỉnh, họ liền cho người mua chuộc đám quan lại hợp tác với chúng, với ý định dùng người bản xứ cai trị người bản xứ, còn họ thì ngư ông đắc lợi, tha hồ vơ vét hết tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Mà thật vậy, lúc đó đám người cam tâm làm tay sai cho giặc không từ nan bất cứ hành động nào, dầu dã man thế mấy họ vẫn làm, để được lòng ông chủ Tây. Thật sự mà nói, đám tay sai đã góp phần không nhỏ trong nỗi nhục nhã đớn đau của đất nước thời đó. Chúng tha hồ đàn áp đồng bào của chính chúng để tâng công. Trong số những tên tay sai này có tên Cai Tổng Định Bảo Nguyễn Văn Vĩnh, một hung thần đối với lương dân(2). Trong tình thế đó, tại vùng Trà Niềng (3), một thanh niên yêu nước tên Đinh Sâm đã đứng lên khởi nghĩa, được dân chúng trong vùng nức lòng ca tụng. Nghĩa binh Đinh Sâm đã phục kích đánh Tây lừng lẫy nhất là tại vùng Ba Láng, vì Đinh Sâm đã đáp ứng đúng nguyện vọng của tuyệt đại đa số dân chúng thời đó đang căm hờn bọn xâm lặng và bọn mãi quốc cầu vinh, nên ông được ngay sự ủng hộ mãnh liệt của dân chúng trong ngay buổi đầu tụ nghĩa.

Cai Tổng Vĩnh thấy cơ nguy lan rộng của cuộc khởi nghĩa, nhưng chưa biết phải làm thế nào thì y đã nhận được thư cảnh cáo của Đinh Sâm, khuyên y nên hồi tâm, bỏ việc làm tay sai cho giặc mà trở về làm dân, nếu không sẽ không toàn mạng. Nguyễn văn Vĩnh tuy có sợ lời cảnh cáo nhưng y lại ỷ vào súng ống sẵn có và thế lực của Tây, nên y lại càng thẳng tay đàn áp, khiến dân chúng trong vùng căm phẫn tột độ, nên sức đề kháng của họ càng quyết liệt hơn trước rất nhiều. Thấy không thể cảm hóa tên Cai Tổng Vĩnh được, nên Đinh Sâm quyết định ra lệnh cho nghĩa binh tấn công vào tư thất của viên Cai Tổng này, bắt y và giết đi, rồi phóng hỏa đốt nhà. Khi quân tiếp viện tới nơi thì nghĩa binh Đinh Sâm đã rút đi. Để trả thù, quân Pháp đã cho tăng viện thêm binh lính và mua chuộc thêm đám tay sai, chúng quyết dập tắt cuộc khởi nghĩa. Tuy nhiên, dân chúng không vì thế mà sợ sệt, họ cho con em mình gia nhập nghĩa binh ngày càng đông, và đánh với Pháp những trận dữ dội. Thấy vậy, người Pháp cho viện binh từ Sài Gòn xuống và ra tay đàn áp mạnh mẽ hơn. Cuối cùng vì sức cô thế yếu, lại thiếu tiếp tế về lương thực và đạn dược, nên cuối cùng Đinh Sâm và các nghĩa dũng đều đền nợ nước. Nghe tin Đinh Sâm đền nợ nước, cụ Cử Phan Văn Trị, lúc đó đã về ở Phong Điền, thương cảm hkông cùng, đã làm một đôi câu đối để truy niệm và đề cao khí tiết của Đinh Sâm, nhưng thác ý cho Cai Tổng Vĩnh để tránh sự dòm ngó của Tây.

“Võ kiếm xung Thiên, Ba Láng Giang đầu lưu hận huyết; Văn tinh lạc địa, Trà Niềng thôn lý đái sầu nhan.”

Nghĩa là:

“Võ kiếm lòa trời, Ba Láng vàm kia còn máu hận; Văn tinh rơi đất, Trà Niềng ấy đượm màu sầu.”

Ghi Chú:

(1)          Theo Bác Sĩ Lê Văn Ngôn trong bài “Tây Đô Lịch Sử” đăng trong quyển Kỷ Yếu Hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1943, Đinh Sâm nổi lên đánh Tây tại vùng Trà Niềng, nay thuộc xã Nhân Ái, Cần Thơ.

(2)          Năm Mậu Ngọ 1858, Nguyễn Văn Vĩnh được triều đình Huế phong Khâm Sai Cai Tổng Định Bảo. Đến năm 1861, được thăng chức Quản Cơ. Khi Pháp chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh, Nguyễn Văn Vĩnh ra mặt hợp tác với Pháp và thẳng tay đàn áp dân lành vô tội, nên y rất được Pháp tin dùng.

(3)          Trà Niềng là tên của một con rạch ở cạnh chợ Phong Điền, thuộc xã Nhân Ái, tổng Định Bảo. Dưới thời vua Tự Đức, có một ngôi chợ khá lớn ngay tại vàm rạch Trà Niềng.

 

31) Quản Cơ Trần Văn Thành

Tục gọi là Quản Thành, còn gọi là Đức Cố Quản. Ông là một trong những vị anh hùng kháng chiến chống Pháp trường ký và mãnh liệt nhất vào thập niên 1860 ngay sau khi giặc Pháp đã lần chiếm toàn bộ vùng đất phương Nam. Đức Cố Quản Trần Văn Thành xuất thân là một võ tướng dưới triều vua Tự Đức. Ông đã từng lập được những chiến công dẹp loạn rất xuất sắc khi loạn Cao Miên sang quấy nhiễu vùng biên thùy. Khi 3 tỉnh miền Đông thất thủ, ông vâng mệnh triều đình chiêu mộ nghĩa dũng và liên lạc với những lãnh tụ kháng chiến khác trong vùng như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, để cùng phối hợp đánh Tây.

Ngày đó, cả hai vị đại thần triều đình Huế là Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản đều biết rất rõ rằng với hỏa lực hiện đại của Pháp và vũ khí thô sơ của quân Nam thì dầu cho đồng Kỳ Hòa dài cả 12 cây số với bao danh tướng cố thủ bên trong cũng phải thất thủ. Nhất là cụ Phan, một con dân Nam Kỳ, ông biết rất rõ về rừng rậm và sông rạch miền Nam, và ông biết rằng nếu muốn đem vũ khí thô sơ để đánh trả hỏa lực hiện đại chỉ còn một phương cách duy nhất là “du kích chiến”. Sau khi phải ký kết hòa ước Nhâm Tuất với Pháp, một mặt cụ Phan phải đối diện với những giao kết của triều đình và Pháp, phải ra lệnh cho các nghĩa binh bãi binh và rút lui về Phú Yên hoặc An Giang; nhưng mặt khác, bên trong cụ Phan lại sai Quản Cơ Trần Văn Thành bí mật truyền tin cho các lãnh tụ kháng chiến khác là phải giữ vững các căn cứ địa mà họ đang chiếm giữ. Chính cụ Phan là người đầu tiên cho phép sử dụng danh nghĩa “Dân Chúng Tự Vệ” để nói chuyện với Pháp trong các cuộc thương thảo.

Sau khi thành Vĩnh Long rơi vào tay giặc Pháp vào ngày 20 tháng 6 năm 1867, trước khi tuyệt mệnh, cụ Phan đã dặn dò các quan rằng triều đình có cái khó khăn về mặt ngoại giao nên không thể ra mặt kháng chiến, nên cụ Phan đã ngầm bảo các quan từ quan rồi ở lại mở đất giúp dân làm ruộng, nhưng thực chất là bám đất bám dân mà kháng chiến. Theo lời căn dặn của cụ Phan, đa số quan tướng đều ở laị miền Nam lập căn cứ tiếp tục kháng chiến dưới một hình thức khác. Trong khi Quản Cơ Lịch(1) thì rút quân về Phú Quốc, thì Tri Phủ Lưu Tánh Thiện ở Vĩnh Long thì rút về Tây Môn(2). Riêng Quản Cơ Trần Văn Thành thì rút quân về vùng Láng Linh, lập căn cứ địa Bảy Thưa(3), vừa tổ chức phá đất làm ruộng, vừa luyện tập binh sĩ để mở các cuộc tấn công các đồn binh Pháp quanh các vùng Long Xuyên và Châu Đốc.

Người Pháp bèn cho tay sai vào Bảy Thưa khuyến dụ Đức Cố Quản, nhưng ông vẫn cương quyết đánh Tây tới cùng. Trong sáu năm kháng chiến, từ năm 1867 đến năm 1872, mặc dầu không có sự tiếp tế về quân trang quân dụng và lương thực, nhưng nghĩa binh của ông hùng cứ cả một vùng rộng lớn và đánh Pháp những trận quyết liệt từ Bảy Thưa đến Tri Tôn, Chắc Cà Đao, Long Xuyên. Tuy nhiên, đến năm 1872, do sự hướng dẫn của tên tay sai Trần Bá Lộc, giặc Pháp đã kéo đại quân vào tấn công chiến khu Bảy Thưa. Đức Cố Quản Trần Văn Thành và thuộc tướng là Cai Tuần Vàng đền nợ nước tại mặt trận(4).

Ghi Chú:

(1)          Quản Cơ Lịch tức là anh hùng kháng chiến Nguyễn Trung Trực.

(2)          Tây Môn tức là về phía cửa thành Tây của Vĩnh Long, đó là các vùng Tam Bình, Vũng Liêm, và Trà Ôn, dọc theo sông Măng Thít, giữa hai dòng sông Tiền Giang và Hậu Giang. Tuy nhiên, thời đó chưa có tên, nên quan triều gọi là vùng Tây Môn. Vùng này sẳn có các sóc của người Miên như Trà Côn, Trà Ngoa, Trà Ôn... do quan Điều Bát Nguyễn Văn Tồn khai phá từ trước.

(3)          Khu rừng Bảy Thưa, nay thuộc làng Tú Tề, Thất Sơn, Châu Đốc.

(4)          Tuy nhiên, cũng có giả thuyết cho rằng sau khi quân Pháp phá vỡ căn cứ Bảy Thưa, Đức Cố Quản buồn phiền bỏ đi biệt dạng, không còn ai nghe thấy ở đâu nữa.

                                                                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn