Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000127
Số lượt truy cập
19980579
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-11-15 04:51:30

 

 23) Âu Dương Lân(?-1860)

Âu Dương Lân vốn người miền Nam, một trong những vị anh hùng chống Pháp nổi tiếng hồi hậu bán thế kỷ thứ XIX. Bên cạnh những lãnh tụ kháng chiến kiên cường bất khuất như Trương Công Định, Phan Văn Đạt, Hồ Huấn Nghiệp, Võ Duy Dương, Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn trung Trực, Quản Hớn, Phan Hiển Đạo, Phan Công Tòng, vân vân, thiết tưởng chúng ta không thể không kể đến Âu Dương Lân, ông cũng đã đứng lên đáp lời sông núi, qui tụ nghĩa sĩ và tổ chức đoàn quân khởi nghĩa tại Định Tường, đồng thời với Thủ Khoa Huân, và thanh thế của ông cũng không kém phần lừng lẫy như ông Thủ Khoa.

Tháng 8 năm 1862, sau khi giặc Pháp lấn chiếm Mỹ Tho và sắp đặt nền cai trị để đặt dân ta vào ách nô lệ của chúng. Trước cảnh quốc phá gia vong, mặc dầu triều đình chủ bại chỉ một lòng muốn cắt đất nhượng biển đảo cho Tây, nhưng Âu Dương Lân không cam lòng chịu nhục và làm ngơ để cho giặc Pháp muốn làm gì thì làm. Ông là người sinh ra và lớn lên tại vùng Định Tường, nên quyết không để cho giặc Tây hà hiếp nhân dân bản quán của mình. Vả lại, ông vốn là một sĩ phu có tiếng trên vùng đất này, nên càng cảm thấy tủi nhục hơn ai cả nếu mình im hơi lặng tiếng. Chính vì thế mà ông đã cùng với các bạn đồng chí hướng đứng lên phất cờ tụ nghĩa kháng chiến chống Pháp. Dầu biết trong tay mình chẳng có gì so với giặc Pháp, nhưng ông vẫn cương quyết đánh tới kỳ cùng. Chỉ sau một thời gian ngắn, rất nhiều nghĩa sĩ trong vùng và các vùng lân cận đều theo về với ông, tất cả đều một lòng nhất tâm đánh Pháp đến hơi thở cuối cùng. Chỉ với cung tên, giáo mác và môt ít súng điểu thương mà nghĩa quân đã đột kích và đánh cho Pháp quân nhiều trận xiểng niểng.

Quân Pháp biết nếu cứ để tình huống này tiếp tục thì chúng sẽ tổn thất rất nhiều, vì quân kháng chiến từ trong bóng tối cứ đánh phục kích, tịch thu súng ống của chúng, rồi lại sử dụng số vũ khí này để tiếp tục đánh Pháp... Chính vì thế mà giặc Pháp quyết định sử dụng những tên Việt gian tay sai như Trần Bá Lộc và Huỳnh Công Tấn để đánh phá nghĩa binh. Ban đầu những tay này cho người đến gặp và chiêu dụ Âu Dương Lân về hợp tác với Pháp để hưởng vinh hoa phú quí, nhưng không có thứ gì có thể lay chuyển được lòng yêu nước thương dân của sĩ phu Âu Dương Lân. Chẳng những thế mà ông còn mắng thẳng vào mặt của những tên Việt gian bằng những lời lẽ đanh thép. Ông đã mượn lời của cụ Đồ Chiểu để tự nhủ: “Thà chết mà được câu địch khái, còn hơn sống mà mang chữ đầy Tây.” Trần Bá Lộc thấy cách tâng công duy nhất chỉ là còn con đường đánh thẳng vào tâm lý thương dân của Âu Dương Lân. Thế là chúng bắt đầu bắt bớ, tra tấn và hành hạ dân chúng trong vùng, nhất là những người thân của Âu Dương Lân. Trong tình thế hết sức căn thẳng này, ông đã phủ dụ quân dân: “Chúng ta cứ làm hết sức mình, việc không thành âu cũng lòng trời, ta không có gì phải tủi thẹn với vong linh các bậc tiền nhân.” Lúc này giặc Pháp sẳn sàng bỏ tiền bạc ra để mua chuộc thêm một số dân đen không nghề nghiệp tiếp tay với tên Việt gian Trần Bá Lộc làm tay sai cho chúng trong việc tiêu diệt quân kháng chiến của Âu Dương Lân. Thế là từ đó lực lượng kháng chiến càng ngày càng tiêu hao. Sau khi Thủ Khoa Huân bị bắt đi đày, Võ Duy Dương bị bệnh mà mất, Trương Công Định bị tên phản bội Huỳnh Công Tấn giết chết. Âu Dương Lân cũng bị đám tay sai chỉ điểm cho Trần Bá Lộc vây bắt. Sau khi giặc Pháp bắt được ông, chúng vẫn tiếp tục khuyến dụ ông theo về với chúng, nhưng ông vẫn khẳng khái không chịu cuối đầu khuất phục. Giặc Pháp vẫn ra lệnh cho Trần Bá Lộc và Tôn Thọ Tường tiếp tục khuyến dụ con người khí khái này. Âu Dương Lân đã chỉ thẳng vào mặt những tên Việt gian mà nói: “Ta chỉ có một con đường đã chọn: hoặc đánh đuổi được giặc Tây và đám tay sai, hoặc chết đi để đền nợ núi sông, hầu khích lệ đàn hậu sanh noi theo cứu nước, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc.” Thấy không còn cách gì có thể chiêu dụ được ông, bọn Việt gian đề nghị quân Pháp xử tử ông. Một buổi sáng tháng 4 năm 1868, Âu Dương Lân bị hành quyết tại bờ sông Mỹ Tho. Ngày ông bị hành quyết, dân chúng Định Tường không ai là không rơi lệ thương cảm và kính ngưỡng một người con ưu tú của tổ quốc đã nằm xuống để đền nợ nước. Đúng như lời ông đã mắng đám Việt gian tay sai, dầu Âu Dương Lân, Nguyễn Hữu Huân, Thiên Hộ Dương... đã khuất, nhưng tên tuổi của họ vẫn luôn được những thế hệ hậu bối kính ngưỡng noi theo và ngàn đời tổ quốc Việt Nam ghi ơn các ngài.

 

24) Nguyễn Văn Bường

Nguyễn Văn Bường, sanh trưởng tại vùng Hốc Môn, thuộc tỉnh Gia Định. Gia đình ông vốn là một trong những gia đình phú nông giàu có trong vùng. Từ nhỏ ông đã được cha cho theo học võ nghệ, nên ở tuổi đôi tám ông đã tinh thông võ nghệ và binh pháp. Khi Thủ Khoa Huân cùng với Thiên Hộ Dương nhậm chức Phó Quản Đạo có ấn vua ban để đi xây đắp đồn lũy ở Kiến Hòa, lúc này thuộc tỉnh Định Tường, và đồn Bình Cách để kháng Pháp, thì tại Hốc Môn, vùng Gia Định, ông cũng cùng một số bằng hữu đồng tâm đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng để tiếp ứng cho anh hùng Thủ Khoa Huân. Đây là một trong những phong trào kháng chiến mạnh mẽ nhất hồi hạ bán thế kỷ thứ XIX. Lúc ban đầu, nghĩa binh của ông và Thủ Khoa Huân đánh tập kích ào ạt tại những đồn binh Pháp từ các vùng Hốc Môn ở Gia Định, đến các vùng Mỹ Quí, Tam Bình, Thuộc Nhiêu và Cai Lậy, vân vân, ở Mỹ Tho. Tuy nhiên, sau đó triều đình Huế chủ trương nghị hòa chuộc đất, nên nghĩa binh chẳng những không còn được sự yểm trợ của triều đình, mà ngược lại lắm khi còn bị truy đuổi. Vì thế mà chẳng bao lâu sau, vì thế cô sức yếu và không có sự tiếp tế quân trang quân dụng và vũ khí đạn dược, nên công cuộc kháng chiến bị tan rã.

 

25) Lâm Quang Ky(?-1868)

Lâm Quang Ky, tên của một trong những thuộc tướng tài ba và dũng cảm của thủ lãnh Nguyễn Trung Trực trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại vùng Kiên Giang. Đên 15 tháng 6 năm 1868, ông đã tham dự vào trận đánh chiếm thành Rạch Giá. Về sau này, vì muốn cứu mạng cho một số nghĩa binh đang bị giặc bắt, nên ông đã tự xưng mình là Nguyễn Trung Trực rồi đến nạp mình cho Pháp, cơ mưu ấy bị bại lộ nên ông bị Tây hành quyết tại chợ Rạch Giá.

 

26) Lãnh Binh Két

Vào thời đó, ngay khi tiếng súng đầu tiên của quân Pháp bắt đầu nổ trên vùng đất phương Nam, và dầu hòa ước 1862 đã ký nhượng 3 tỉnh miền Đông, rồi sau đó mất luôn 3 tỉnh miền Tây, và triều đình đã ra lệnh bãi binh tất cả quân đội triều đình trên 6 tỉnh phương Nam, nhân dân và hào kiệt của vùng đất này không cam tâm khuất phục, nên họ đã nhất tề đứng lên đánh Tây ở khắp nơi. Tại Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh thì có hai người con của cụ Phan là Phan Thanh Tôn và Phan Thanh Liêm. Tại Mỹ Tho có Thủ Khoa Huân; tại Rạch Giác có Nguyễn Trung Trực; tại Đồng Tháp có Thiên Hộ Dương; tại Gò Công có Trương Định; tại vùng Phong Phú, vào khoảng năm 1868, có cuộc khởi nghĩa của Đinh Sâm, vân vân. Riêng tại vùng Tây Ninh thì có các cuộc khởi nghĩa của Lãnh Binh Két và Lãnh Binh Tòng.

Ông Két là một trong những lãnh tụ kháng chiến kiên cường nhất ở vùng đất phương Nam vào hậu bán thế kỷ thứ XIX. Không thấy chính sử triều Nguyễn ghi chép gì về ông, và cũng không ai biết ông họ gì, chỉ biết ông tên Két, giữ chức Lãnh Binh của triều đình và đang trấn nhậm vùng đất phía Tây thành Gia Định lúc liên quân Pháp-Y Pha Nho đang xâm chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh. Lúc đó, triều đình Huế ra lệnh khắp nơi chiêu mộ nghĩa dũng và trang bị đầy đủ súng gươm để phòng khi quốc biến là có đủ nhân lực chiến đấu. Năm 1859, khi người Pháp bắt đầu đưa quân từ miền Trung vào Nam với ý đồ đánh chiếm Gia Định, lúc đó, ông Két đang giữ chức Lãnh Binh.

Sau khi Pháp lấn chiếm toàn bộ miền Nam, Lãnh Binh Két rút quân về vùng Long Giang, Gò Dầu, nay là quận Hiếu Thiện, chiêu mộ thêm nghĩa binh đứng lên đánh Pháp. Sau đó, ông đưa nghĩa binh đi tập kích các đồn Pháp ở vùng Trảng Bàng, Gò Dầu và ngay tại Tây Ninh. Trong những đêm trời tối, ông đã đánh hỏa công, đánh phá và đốt cháy các đồn lẻ tẻ, rồi rút quân vào rừng, làm cho người Pháp phải mất ăn mất ngủ với đạo quân xuất quỉ nhập thần của ông. Lúc đó, những cánh rừng vùng Tây Ninh hãy còn là rừng dầy, nên đột kích đồn Tây xong, ông lại cho rút quân vào rừng, không cách gì Pháp có thể truy đuổi được. Thời ấy, vùng phía Tây thành Gia Định, không ai là không biết tiếng “Nghĩa Binh Ông Két”. Nhưng các sử gia nhà Nguyễn lúc đó bị áp lực của Pháp nên không hề đả động gì đến cuộc khởi nghĩa của ông. Vì thế, ngày nay chúng ta chỉ còn nghe các bô lão truyền miệng với nhau vể những chiến tích vẻ vang của ông, chứ chẳng biết ông họ gì, quê quán ở đâu, sanh năm nào và đền nợ nước vào năm nào. Dầu ngày ấy đến nay đã có trên 150 năm, dầu có muộn màng, kẻ hậu bối đang viết về công ơn giữ nước và chống ngoại xâm của ngài Lãnh Binh Két, cũng xin ngài nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của đàn hậu bối. Chúng con lúc nào cũng hết lòng ca ngợi và thán phục các bậc tiền nhân đã vì nước quên mình như các ngài. Xin ngài sống làm tướng, thác làm thẩn hiển linh phò trì cho dân tộc Việt Nam có ngày thanh bình thạnh trị như các ngài hằng mong ước. Mong lắm vậy!

                                          ( Còn tiếp)

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn