Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000116
Số lượt truy cập
19292401
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-09-27 04:51:14

 

9)Lãnh Binh Nguyễn Văn Khả

Nguyễn Văn Khả, tục gọi là Lãnh Binh Khả, sanh trưởng ờ vùng đất phương Nam. Ông là một trong những chiến sĩ tài ba thao lược và dũng cảm nhất của phong trào Cần Vương, kháng chiến chống Pháp hồi chúng mới xâm lấn Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trước đó ông đã từng giữ chức Lãnh Binh của triều đình Huế, nên dân chúng thường gọi ông là Lãnh Binh Khả. Lúc Võ Duy Dương khởi binh kháng chiến ở vùng Mỹ Tho và Tân An, rồi sau đó vào vùng Đồng Tháp Mười lập chiến khu.

Trước khi Thiên Hộ Dương mất vào năm 1866, Lãnh Binh Khả đang chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp, đang trấn giữ vùng Cao Lãnh và Hồng Ngự, nằm về phía tây của vùng Đồng Tháp Mười. Quân Pháp và đám Việt gian tay sai đánh phá nghĩa binh ròng rã ba năm mà không xuyên thủng được phòng tuyến phía tây Đồng Tháp Mười, nên chúng định dùng quỷ kế cầu hòa. Chúng xin cắt tỉnh Vĩnh Long và vùng Sa Đéc để đổi lấy căn cứ Đồng Tháp Mười.

Vì sau bao nhiêu năm kháng chiến, quân sĩ đã hết sức mệt mỏi và thiếu thốn đủ mọi thứ, nên sau lời đề nghị của Pháp, Lãnh Binh Khả đồng ý rút nghĩa binh về Sa Đéc và Vĩnh Long, nhưng về sau này, nghĩa binh của ông bị quân Pháp tìm cách làm cho ly tán, lớp thì rã ngủ về làm dân, lớp thì nghe theo lời dụ dỗ của giặc, bỏ hàng ngũ kháng chiến ra hợp tác với Tây. Từ đó về sau này không còn ai nghe đến tiếng tăm của vị Lãnh Binh này nữa. Phải thành thật mà nói, Lãnh Binh Nguyễn Văn Khả cũng là một lãnh tụ kháng chiến yêu nước, nhưng vào thời đó phương tiện truyền tin khó khăn, nên khi quân Pháp đề nghị cắt tỉnh Vĩnh Long và vùng Sa Đéc để đổi lấy căn cứ Đồng Tháp Mười, để cứu vãn tinh thần của nghĩa binh, Lãnh Binh Khả đồng ý ngay mà không nghĩ đến hậu quả của âm mưu thâm độc của người Pháp. Dầu sao thì lịch sử một thời vong quốc đã sang trang. Tác giả tập sách này cũng xin đốt một nén hương cho ngài cũng như bao nhiêu hào kiệt khác của đất phương Nam để tỏ lòng biết ơn của người hậu bối.

 

10) Nguyễn Trung Trực(?-1868)

(Xem Cuộc Kháng Chiến Của Nguyễn Trung Trực Chương 24) 

 

11) Nguyễn Hữu Huân(1831-1875)

Nguyễn Hữu Huân tức Thủ Khoa Huân, sanh năm 1831 tại làng Tịnh Hà thuộc tỉnh Định Tường. Ông là một trong những lãnh tụ kháng chiến chống Pháp tiên khởi trên vùng đất phương Nam. Ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra là một thanh niên thông minh đỉnh đạt khác thường. Năm 1852, ông đã đỗ thủ khoa thi Hương trường thi Gia Định (dưới thời vua Tự Đức, ông đỗ khoa thi hương, tương đương với cử nhân, lúc ông chưa đầy 20 tuổi), nên người đương thời luôn gọi ông là Thủ Khoa Huân. Khi ba tỉnh miền Đông bị Pháp lấn chiếm, đất nước đang trong cơn binh lửa ngữa nghiêng, ông hưởng ứng phong trào kháng chiến của các nhà ái quốc đương thời. Sau đó Thủ Khoa Huân cùng với Thiên Hộ Dương nhậm chức Phó Quản Đạo có ấn vua ban để đi xây đắp đồn lũy ở Kiến Hòa, lúc này thuộc tỉnh Định Tường, và đồn Bình Cách để kháng Pháp. Thủ Khoa Huân cùng một số bằng hữu đồng tâm đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng khởi nghĩa tại vùng Thuộc Nhiêu, thuộc vùng Cai Lậy, tỉnh Định Tường. Đây là một trong những phong trào kháng chiến mạnh mẽ nhất hồi hạ bán thế kỷ thứ XIX. Lúc ban đầu, nghĩa binh Thủ Khoa Huân đánh tập kích ào ạt tại những đồn binh Pháp trong vùng Mỹ Tho như Mỹ Quí, Tam Bình, Thuộc Nhiêu và Cai Lậy, vân vân.

Thấy tình thế nguy kịch, giặc Pháp bèn sai những tên tay sai như Tôn Thọ Tường và Đỗ Hữu Phương tìm cách chiêu dụ, nhưng không có kết quả. Đầu năm 1863, ông được “Bình Tây Đại Nguyên Soái” Trương Định phong chức “Phó Nguyên Soái Bình Tây,” chịu trách nhiệm chỉ huy trực tiếp các đạo nghĩa binh ở Định Tường và Long An. Vào tháng 6 năm 1863, Pháp đem đại quân bao vây chặt chẽ căn cứ kháng chiến quân tại vùng Thuộc Nhiêu. Nguyễn Hữu Quân thoát được vòng vây rồi ra lệnh cho quân kháng chiến lui về vùng An Giang Châu Đốc, củng cố binh lực để tiếp tục chống Pháp, nhưng không may ông bị quan trấn thủ Châu Đốc bắt giữ lại. Lúc chưa kịp giải ông về Vĩnh Long thì bị áp lực của người Pháp phải giao nạp Nguyễn Hữu Huân cho chúng. Kế đó, giặc Pháp giải Nguyễn Hữu Huân về Gia Định. Tại đây, giặc Pháp ra sức chiêu dụ ông, nhưng tất cả đều bị ông từ chối. Cuối cùng viên đô đốc của Tây là De La Grandière khép ông vào tội phản nghịch và xử đi đày Côn Đảo. Đến năm 1864 lại đưa ông ra an trí trên đảo La Réunion, một vùng thuộc địa của Pháp ở Nam Phi.

Mười năm sau, sau khi giặc Pháp đã ổn định xong Nam Kỳ và sau khi triều đình Huế đã ký hòa ước 1874, nhường đứt sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, ông được đưa về quản thúc tại quê nhà. Tuy nhiên, dẫu là đi đày mười năm hay bao nhiêu năm đi nữa giặc Pháp cũng chẳng bao giờ có thể làm cùng nhục chí hướng của một bậc anh hùng như Thủ Khoa Huân. Đến mùa xuân năm Ất Hợi, 1875, Thủ Khoa Huân lại tụ nghĩa và bắt đầu hoạt động chống Pháp, nghĩa binh của ông tung hoành trong khắp các vùng từ Gia Định, Tân An, xuống Gò Công và Mỹ Tho. Để hưởng ứng công cuộc kháng chiến của Phong Trào Cần Vương cứu nước của Thủ Khoa Huân, lúc bấy giờ cũng có các nhà ái quốc khác nổi lên dấy binh khắp miền Nam như Lê Kế Tân và Trần Bình nổi lên ở vùng Ba Động, thuộc tỉnh Trà Vinh, Nguyễn văn Bường nổi lên ở Hốc Môn, thuộc tỉnh Gia Định.

Tuy nhiên, vì vũ khí thô sơ và thiếu thốn đủ về mọi mặt như súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng, và lương thực, nên đầu tháng 4 năm 1875, căn cứ Thuộc Nhiêu bị quân Pháp tấn công mạnh mẽ. Nghĩa quân phần chết, phần khác bị thương, riêng Thủ Khoa Huân lại bị Pháp bắt giải về Mỹ Tho. Người Pháp lại cố chiêu dụ ông, nhưng không được. Cuối cùng Pháp đã đưa ông lên đoạn đầu đài tại cầu Cai Lộc (khoảng giữa đường từ Mỹ Tho đi Tân An) vào một ngày tháng 5 năm 1875, nhằm ngày rằm tháng 4 năm Ất Hợi. Năm ấy Thủ Khoa Huân mới 35 tuổi. Theo các bô lão trong vùng Thuộc Nhiêu kể lại thì trước khi lên đoạn đầu đài, Thủ Khoa Huân đã viết lên tấm vải đôi câu đối như sau:

“Hữu chí nan thân, không uổn bách niên chiêu vật nghị; Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.”

Nghĩa là “Có chí khó bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng; tuy là công chưa tới, cũng đành một thác báo ơn vua.” Ông cũng làm một bài thơ trước khi chết như sau:

“Hạn mãgian quan vị quốc cừu, Chỉ nhân binh bại trí thân hưu. Anh hùng mạc bả dinh du luận, Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu. Vô bố dĩ kinh hồ lỗ phách,

Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu. Đương niên Tho thủy lưu ba huyết, Long đảo thu phong khởi mộ sầu.”

Cụ Sào Nam Phan Bội Châu đã dịch ra chữ nôm như sau: “Ruỗi dong vó ngựa báo thù chung, Binh bại cho nên mạng mới cùng.

Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ., Hơn thua sá kể với anh hùng. Nổi xung mất vía quân hồ lỗ,

Quyết thác không bàng, rạng núi sông. Tho thủy ngày rày pha máu đỏ,

Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.”

 

12) Phan Công Tòng(? -1868)

Phan Công Tòng sanh trưởng tại vùng Bến Tre, trong một gia đình phú nông giàu có. Thuở nhỏ ông đã được cha mẹ cho theo học cả văn lẫn võ. Đến khi liên quân Pháp lấn chiếm Nam Kỳ, ông đã ứng nghĩa theo lời hiệu triệu Cần Vương, đứng lên một quân chống Pháp tại vùng Bến Tre. Đến khi toàn bộ Nam Kỳ rơi vào tay Pháp, thì nghĩa binh của ông bị cô lập, và ông đền nợ nước vào năm 1868.

Sau khi ông chết, cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu đã làm một bài thơ để tưởng niệm một bậc anh hùng đã xả thân vì dân vì nước như sau:

“Làm người trung nghĩa đáng bia son, Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn. Cơm áo đền rồi ơn Đất Nước,

Râu mày giữ vẹn phận tôi con. 

Tinh thần hai chữ pha sương tuyết,

Khí phách ngàn thu rõ núi non.

Gẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,

Lòng đây tưởng đó mất như còn.”

 

13) Nguyễn Văn Điều(?-1868)

Nguyễn Văn Điều, còn gọi là Phó Cơ Điều, sanh trưởng tại vùng An Giang (?), có sách nói ông sanh tại miền Nam nhưng lại không rõ nơi chốn. Gia đình ông vốn là một trong những gia đình phú nông giàu có trong vùng. Từ nhỏ ông đã được cha cho theo học võ nghệ, nên ở tuổi đôi tám ông đã tinh thông võ nghệ và binh pháp. Ông là một trong những anh hùng chống Pháp một cách dũng cảm tại vùng đất phương Nam vào hậu bán thế kỷ thứ XIX.

Khi Nguyễn Trung Trực đang lãnh đạo phong trào khách Pháp ở vùng Đồng Tháp, Rạch Giá, Hòn Chông, vân vân. Tại vùng Hà Tiên và Rạch Giá, ông cũng cùng một số bằng hữu đồng tâm đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng để tiếp ứng cho anh hùng Nguyễn Trung Trực. Đây là một trong những phong trào kháng chiến mạnh mẽ nhất hồi hạ bán thế kỷ thứ XIX. Lúc ban đầu, nghĩa binh của ông và Nguyễn Trung Trực đánh tập kích ào ạt tại những đồn binh Pháp từ các vùng Rạch Sỏi lên đến Rạch Giá và Hà Tiên. Khi Nguyễn Trung Trực chiếm thành Rạch Giá thì ông kéo quân về hỗ trợ cho nghĩa binh Nguyễn Trung Trực tại vùng Rạch Sỏi, nhằm ngăn chặn quân tiếp viện của Pháp từ An Giang qua.

Tuy nhiên, sau đó triều đình Huế chủ trương nghị hòa chuộc đất, nên nghĩa binh chẳng những không còn được sự yểm trợ của triều đình, mà ngược lại lắm khi còn bị truy đuổi. Vì thế mà chẳng bao lâu sau, vì thế cô sức yếu và không có sự tiếp tế quân trang quân dụng và vũ khí đạn dược, nên ông bị bắt cùng một lượt với ông Nguyễn Trung Trực vào ngày 27 tháng 10 năm 1868 tại chợ Rạch Giá. Tương truyền trước khi bị xử chém, Phó Cơ Điều đã thản nhiên bảo Nguyễn Trung Trực: “Tôi với anh mới thật là sinh tử chi giao.” Dân chúng Rạch Giá nhớ ơn hai ông nên lập đền thờ tại làng Vĩnh Hiệp Hòa trong thành phố Rạch Giá.

 

14) Quản Cơ Phan Công Hớn

Quản Hớn sanh trưởng trong vùng Gia Định, không rõ họ. Tuy nhiên, có sách ghi là Quản Cơ Phan Công Hớn. Dưới thời vua Tự Đức, khi liên quân Pháp-Y Pha Nho đánh chiếm miền Nam và đặt ách thống trị hà khắc lên dân chúng, nhứt là bọn Việt gian làm tay sai cho giặc lại càng nhũng lạm và bốc lột dân chúng nhiều hơn. Vào thời đó, cũng như khắp vùng đất phương Nam, tại vùng Hốc Môn Bà Điểm, thực dân Pháp đã đào tạo những tên tay sai làm chó săn cho chúng hà hiếp dân lành vô tội.

Trong số đó có tên Đốc phủ Trần Tử Ca, trấn nhậm huyện Bình Long, nay là Hốc Môn. Đốc phủ Ca mà người đương thời ai cũng phải gọi là “Quan Lớn Ca”, nổi tiếng tham quan ô lại, luôn tìm mọi cách sách nhiễu lương dân. Không chịu nổi trước những áp bức bất công đó, nên ông đã đứng lên chiêu mộ nghĩa dũng đứng lên đánh Pháp trong vùng Hốc Môn Bà Điểm. Quản Hớn và nghĩa binh của mình quyết tâm tiêu diệt tên tay sai Phủ Ca để làm gương cho những quan lại tham nhũng khác trong vùng.

Phủ Ca ỷ mình có lính và có súng đạn trong tay nên lúc nào cũng dương dương tự đắc, thẳng tay vơ vét của cải của dân chúng trong vùng. Khi đã giàu có rồi thì Phủ ca bắt đầu tổ chức yến tiệc, đình đám, xướng ca, vui chơi thỏa thích trên xương trên máu của dân lành. Khi thấy thời cơ tiêu diệt tên tham quan ô lại Phủ Ca đã đến, vào ngày 27 tháng chạp năm Giáp Thân, 1884, Quản Hớn chỉ huy toán nghĩa binh của mình tấn công vào tư dinh của Phủ Ca, đốt rụi dinh thự, và giết chết tên Đốc Phủ Trần Tử Ca. Sau đó nghĩa binh cắt lấy đầu tên tay sai đem ra bêu trên cột đèn ngoài phố chợ. Sau biến cố này, quân Pháp và những tên tay sai khác đã trả thù một cách tàn độc, không những đối với nghĩa binh mà luôn cả với đồng bào vô tội nữa. Hàng trăm, hàng ngàn người đã bị chúng thẳng tay tàn sát dã man; còn những ai không bị giết chết, cũng bị chúng bắt bớ, giam cầm, tra tấn tàn nhẫn.

Dầu lâm vào tình thế bị khủng bố ngày đêm như vậy, Quản Hớn và nghĩa binh của ông vẫn cố gắng chiến đấu. Nhưng vì cô thế và không có sự yểm trợ về quân trang quân dụng và vũ khí đạn dược nên không chống lại với vũ khí tối tân của Tây. Ít lâu sau đó, ông bị tay sai điềm chỉ và bị bắt. Tức tối vì những thành quả của nghĩa binh, giặc Pháp và tay sai đã giam cầm và hành hạ ông Quản Hớn một thời gian cho đã nư trước khi chúng đưa ông ra pháp trường và đứa lên máy chém xử tử tại Hốc Môn. Tương truyền, dầu đang nằm trong tay giặc Quản Hớn luôn tỏ ra can cường bất khuất. Ngay trước phút giây bị xử chém, ông đã nói với tên đao phủ là hãy chém một dao cho thật tốt, và không hề để lộ chút gì là lo sợ. Ngày nay mỗi lần nhắc đến Quản Cơ Phan Công Hớn, chẳng những dân chúng Mười Tám Thôn Vườn Trầu, mà cả miền Nam và cả nước, đều kính ngưỡng. Hiện ngôi mộ và đền thờ của Quản Cơ Phan Công Hớn(1) hãy còn tọa lạc trong một vùng đất rộng trên một mẫu tại vùng Bà Điểm. Dầu tính đến ngày hôm nay, anh hùng Phan Công Hớn đã đền nợ nước đúng 133 năm, nhưng tên tuổi của ông chẳng những được ghi đậm nét trong lịch sử, mà trong lòng con dân đất phương Nam luôn nhớ đến công ơn của người anh hùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu này.

Ghi Chú:

(1)          Theo Huỳnh Minh trong “Gia Định Xưa”, ngôi mộ và đền thờ của Quản Cơ Phan Công Hớn vẫn còn ở vùng Bà Điểm, Gia Định. Ngôi mộ xây cất rất đơn giản bằng đá vôi và ô dước, nằm trước hông đền thờ của ông. Ngôi đền thờ được xây bằng gạch, hàng cột mặt tiền gồm 4 cột, mỗi cột chạm khắc một câu liễn:

Nhớ công đức tổ tiên gây dựng nước Rạng cơ đồ con cháu đắp bồi sau. Vì nước hy sinh gương liệt sĩ, Thương nòi chiến tử nghĩa anh hùng.

Bên trong điện thờ có linh vị của ngài. Tả ban hữu ban đều có đặt bàn hương án.

 

15) Trương Huệ

Trương Huệ, còn gọi là cậu Hai Quyền, là con trai của Lãnh Binh Trương Định và bà Lê thị Thưởng. Ông đã theo cha đứng lên đáp lời sông núi, hưởng ứng hịch Cần Vương, tụ nghĩa chống Pháp ở miền Nam vào hậu bán thế kỷ thứ XIX. Cũng như cha mình là Trương Định, Trương Quyền sanh ra trong gia đình nhà võ, nên ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã theo cha mình đánh Pháp tại vùng Soài Rạp và Đám Lá Tối Trời. Sau khi cha ông đền nợ nước, ông đã đưa một số thủ hạ về Đồng Tháp hợp cùng với Võ Duy Dương tiếp tục chống Pháp.

Nhân lúc Pháp quân đang dồn nỗ lực đánh phá chiến khu Đồng Tháp Mười của Thiên Hộ Dương tại vùng Mỹ Trà, Cao Lãnh, ngày 24 tháng 6 năm 1866, lúc 4 giờ khuya, Trương Huệ liền kéo quân về đánh Sài Gòn. Liên quân kháng chiến Việt-Miên dưới quyền điều khiển của ông đột nhập vào vùng Chợ Lớn, tấn công đồn Thuận Kiều trong lúc bọn lính Tây đang ngủ say, rất nhiều nghĩa binh đã đột nhập vào đồn và đánh sáp lá cà với lính Pháp. Chỉ trong chớp nhoáng, nghĩa binh Trương Huệ đã chiếm được đồn Thuận Kiều và giết gần hết số lính Tây trấn thủ tại đó. Tất cả những tử thi không đầu của giặc Pháp được lôi ra ngoài đồn cho dân chúng xem để cảnh cáo bọn tay sai mãi quốc cầu vinh. Tuy nhiên, đến khoảng 6 giờ sáng thì quân tiếp viện của Pháp đã tới. Trận đánh ngày càng ác liệt, vì khi Pháp càng tăng viện thì nghĩa binh Việt Miên cũng tăng viện, nhưng đến 8 giờ sáng, thấy không nên giữ đồn Thuận Kiều, nên Trương Huệ ra lệnh cho nghĩa binh rút về vùng Bà Hom.

Khuya ngày 23 rạng sáng ngày 24 tháng 6 năm 1866, nghĩa binh lại đột kích đánh các đồn ở Bà Điểm và Hóc Môn. Tên tri phủ Việt gian cai quản vùng này Phủ Ca, một trong những tay sai đắc lực nhất lúc giặc Pháp mới chiếm Nam Kỳ, đem lính Việt-Pháp ra đánh với nghĩa binh. Đến sáng quân Pháp tăng viện quá đông, nên Trương Huệ phải ra lệnh cho nghĩa binh rút về vùng Củ Chi, Trảng Bàng, rồi kéo lên Tây Ninh. Tại đây, ông phối hợp với một lãnh tụ người Miên là Pu-Kầm-Pô, tạo nên mặt trận kháng chiến chống Pháp ở Tây Ninh. Khi hay tin, giặc Pháp cho đổ quân ào ạt lên Tây Ninh. Nghĩa binh Việt Miên phải rút lui xuống Trảng Bàng và đánh tại đây nhiều trận ác liệt. Tên trung úy Pháp là Eymard phải kêu viện binh từ Tây Ninh tới tiếp viện. Thấy thế không xong, Trương Huệ ra lệnh cho nghĩa binh bắn thẳng vào nơi đồn trú của lính Pháp, gây thiệt hại lớn cho chúng trước khi rút lui toàn bộ vào rừng.

Để tránh sự theo dõi của Tây, ông đã đổi thành tên Trương Huệ, rồi sau đó, vượt qua biên giới và đóng quân trên đất Cao Miên. Lúc này, ông hợp sức với một thủ lãnh Cam Bốt là ông Pucumpo để tiếp tục đánh các đồn Pháp dọc theo biên giới Việt-Miên. Quân Pháp ở Sài Gòn được tin liên quân Trương Huệ-Pu-Kầm-Pô đang đánh gắt ở Tây Ninh, chúng liền phái thêm 200 lính thiện chiến, 100 lính tập và 50 lính thủy, dưới quyền của tên thiếu úy Rémiot Lerebours đến Tây Ninh để tăng viện cho quân đồn trú tại đó. Ngày 27 tháng 6 năm 1866, quân tăng viện đến nơi, nhưng không làm gì được nghĩa binh Trương Huệ, vì đạo quân này lúc ẩn lúc hiện, và luôn thay đổi địa điểm, và đợi lúc xuất kỳ bất ý mà tấn công giặc. Hơn nữa, nghĩa binh không đồn trú nơi nào nhất định, nên giặc Pháp không biết chỗ nào mà tấn công. Đến cuối tháng 6 năm 1866, khi biết tin nghĩa binh đang hoạt động trong vùng Rạch Vịnh, Pháp bèn mở cuộc hành quân tấn công.

Đến năm 1870, ông đưa quân trở về miền Nam và thâu nạp thêm binh sĩ khắp các miền Đông Tây của vùng đất phương Nam để tiếp tục công cuộc kháng chiến. Lúc đó, tên tuổi của ông đã nổi bật trong hàng ngũ nghĩa binh chống Pháp. Ông là một người thông minh, nhanh nhẹn, lại thêm văn võ toàn tài, nên thời đó nhiều người nói ông có tài “xuất quỷ nhập thần.” Từ khi từ Cao Miên về lại Việt Nam, đạo nghĩa binh của ông đã làm cho Pháp quân nhiều phen điêu đứng, về tài phục binh và đột kích của ông. Pháp cho người đem quyền cao chức trọng ra khuyến dụ, nhưng ông khẳng quyết giữ lòng trung hiếu với nước với dân, và nhất quyết không đội trời chung với giặc Pháp. Nhưng vì thế cô sức yếu và không có đường tiếp tế về quân trang quân dụng và vũ khí đạn dược, nên Trương Huệ ra lệnh cho nghĩa binh rút về Biên Hòa, rồi sau đó lại lui về lại vùng Đồng Tháp đưa quân vào chiến khu cũ của Thiên Hộ Dương, gây cho Pháp quân nhiều phen thất điên bát đảo. Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến lâu dài, trong những hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt của vùng Đồng Tháp, nhiều nghĩa binh lâm bệnh mà mất, lại không có lực lượng bổ sung, nên ít lâu sau đó nghĩa binh coi như tan rã. Nhưng Trương Huệ nhất quyết đánh tới cùng. 

                                                                                        ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn