Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000121
Số lượt truy cập
19292454
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-09-14 08:16:38

 

 5) Đốc Binh Lê Công Kiều

Lê Công Kiều, tục gọi là Đốc Binh Kiều, sanh trưởng ờ vùng đất phương Nam. Ông là một trong những chiến sĩ tài ba thao lược và dũng cảm nhất của phong trào Cần Vương, kháng chiến chống Pháp hồi chúng mới xâm lấn Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trước đó ông đã từng giữ chức Đốc Binh của triều đình Huế, nên dân chúng thường gọi ông là Đốc Binh Kiều. Lúc Võ Duy Dương khởi binh kháng chiến ở vùng Mỹ Tho và Tân An, rồi sau đó vào vùng Đồng Tháp Mười lập chiến khu.

Trước khi Thiên Hộ Dương mất vào năm 1866, Đốc Binh Kiều tiếp tục chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp, đang trấn giữ vùng Đồng Tháp Mười. Quân Pháp và đám Việt gian tay sai đánh phá nghĩa binh ròng rã ba năm mà không xuyên thủng được phòng tuyến Tháp Mười. Quân Pháp định dùng quỷ kế cầu hòa. Chúng xin cắt tỉnh Vĩnh Long và vùng Sa Đéc để đổi lấy căn cứ Đồng Tháp Mười. 

Cả ba ông Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều và Đốc Binh Cẩn sáng suốt hơn nên bác ngay lời đề nghị của giặc, cương quyết giữ lấy vùng trung tâm Đồng Tháp Mười và tiếp tục đánh Tây đến cùng. Trong khi đó thì nghĩa binh của 2 Đốc Binh Khả và Đốc Binh Ông đã bị Pháp ly gián kéo về Sa Đéc và Vĩnh Long, nên hai tiền đồn phía tây và tây bắc của Đồng Tháp Mười đã bị bỏ ngỏ như đúng theo kế hoạch của Pháp. Sau đó, quân đội Pháp bắt đầu kế hoạch vây đánh căn cứ Đồng Tháp Mươi trong 40 ngày đêm. Vì đã mất đi hai cửa ngỏ trọng yếu cho việc chuyển quân và tiếp tế lương thực từ bên Long Xuyên qua, nên quân Pháp vừa dễ dàng tiến quân mà khi đã bao vây thì nghĩa quân không còn đường tiếp tế.

Trong tình thế này, Thiên Hộ Dương phải xuất quân đi tiên phong để giữ thành Đồng Tháp; trong khi Lãnh Binh Cẩn giữ tập hậu, và Đốc Binh Kiều giữ trung tâm thành. Quân Pháp xua quân ào ạt tấn công từ 3 phía: phía Nam chúng tiến lên từ hướng Cai Lậy và Ấp Bắc, hướng Tây giặc tiến vào từ hướng Cao Lãnh và Hồng Ngự; trong khi về phía Tây Bắc thì giặc chuyển quân đánh thẳng vào Tháp Mười qua ngã Rạch Ruộng. Tuy nhiên, giặc Pháp cũng không hoàn toàn đánh thủng được phòng tuyến Đồng Tháp Mười, nên chúng lại tiếp tục bao vây. Ít lâu sau đó, vì không có đường tiếp tế, vì ma thiêng nước độc, nên Thiên Hộ Dương quyết định rút quân ra khỏi rừng tràm, chạy qua vùng Cao Lãnh, rồi sau đó trở lại vùng Vàm Cỏ, và cuối cùng đến lập chiến khu mới ở vùng Gò Bắc Chiêng. Tuy nhiên, đến năm 1865, ông mắc bệnh rồi mất. Sau khi Thiên Hộ Dương qua đời, Đốc Binh Kiều tiếp tục thống lãnh nghĩa quân kháng Pháp. Nhưng rồi cũng chẳng bao lâu, Đốc Binh Kiều cũng qua đời trong vùng rừng thiêng nước độc này. Lúc đó nghĩa binh không có người tài đức chỉ huy nên từ từ tan rả.

 

6) Lãnh Binh Lê Văn Ông

Lê Văn Ông, tục gọi là Lãnh Binh Ông, sanh trưởng ờ vùng đất phương Nam. Ông là một trong những chiến sĩ tài ba thao lược và dũng cảm nhất của phong trào Cần Vương, kháng chiến chống Pháp hồi chúng mới xâm lấn Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trước đó ông đã từng giữ chức Lãnh Binh của triều đình Huế, nên dân chúng thường gọi ông là Lãnh Binh Ông. Lúc Võ Duy Dương khởi binh kháng chiến ở vùng Mỹ Tho và Tân An, rồi sau đó vào vùng Đồng Tháp Mười lập chiến khu.

Trước khi Thiên Hộ Dương mất vào năm 1866, Lãnh Binh Ông đang chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp, và đang đóng đồn trấn giữ Ngã Ba Rạch Ruộng trong vùng phía tây bắc Đồng Tháp Mười. Quân Pháp và đám Việt gian tay sai đánh phá nghĩa binh ròng rã ba năm mà không xuyên thủng được phòng tuyến này, nên chúng định dùng quỷ kế cầu hòa. Chúng xin cắt tỉnh Vĩnh Long và vùng Sa Đéc để đổi lấy căn cứ Đồng Tháp Mười.

Vì sau bao nhiêu năm kháng chiến, quân sĩ đã hết sức mệt mỏi và thiếu thốn đủ mọi thứ, nên sau lời đề nghị của Pháp, Lãnh Binh Ông đồng ý rút nghĩa binh về Sa Đéc và Vĩnh Long, nhưng về sau này, nghĩa binh của ông bị quân Pháp tìm cách làm cho ly tán, lớp thì rã ngủ về làm dân, lớp thì nghe theo lời dụ dỗ của giặc, bỏ hàng ngũ kháng chiến ra hợp tác với Tây. Từ đó về sau này không còn ai nghe đến tiếng tăm của vị Lãnh Binh này nữa. Phải thành thật mà nói, Lãnh Binh Lê Văn Ông cũng là một lãnh tụ kháng chiến yêu nước, nhưng vào thời đó phương tiện truyền tin khó khăn, nên khi quân Pháp đề nghị cắt tỉnh Vĩnh Long và vùng Sa Đéc để đổi lấy căn cứ Đồng Tháp Mười, để cứu vãn tinh thần của nghĩa binh, Lãnh Binh Ông đồng ý ngay mà không nghĩ đến hậu quả của âm mưu thâm độc của người Pháp. Dầu sao thì lịch sử một thời vong quốc đã sang trang. Tác giả tập sách này cũng xin đốt một nén hương cho ngài cũng như bao nhiêu hào kiệt khác của đất phương Nam để tỏ lòng biết ơn của người hậu bối.

 

7) Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng(1798-1866)

Nguyễn Ngọc Thăng, còn được gọi là Lãnh Binh Thăng, xuất thân từ một gia đình nông dân vùng Mỹ Lồng, huyện Tân An, thuộc tỉnh Kiến Hòa(1). Cha ông tên là Nguyễn Công, mẹ là bà Trần thị Kiếm, từ miền Trung vào Nam lập nghiệp. Tuy nhà nghèo, nhưng luôn lấy câu “tiểu phú do cần” làm phương châm trong cuộc sống, nên sau một thời gian sống cần kiệm gia đình cũng trở nên khá giả. Thuở nhỏ, ông được cha mẹ cho đi học chữ Nho và luyện tập võ nghệ. Khi lớn lên, ông tự đứng ra chiêu mộ dân sơ tán từ miền ngoài để đi khai khẩn hoang địa, lập nên đồn điền vùng Bảo Hựu ở Bến Tre. Dưới thời vua Thiệu Tri, ông tòng quân vào quân đội triều đình, lần hồi lên đến chức Cai Cơ vào năm 1848, rồi ít lâu sau đó ông lại được thăng chức Lãnh Binh. Lúc Pháp quân tấn công Đà Nẳng, triều đình Huế ra lệnh khắp nơi chiêu mộ nghĩa dũng và trang bị đầy đủ súng gươm để phòng khi quốc biến là có đủ nhân lực chiến đấu. Năm 1859, khi người Pháp bắt đầu đưa quân từ miền Trung vào Nam với ý đồ đánh chiếm Gia Định, lúc đó, Nguyễn Ngọc Thăng đang làm Cai Cơ, lãnh nhiệm vụ đưa quân về thao dượt ở Gia Định để tăng viện cho quân sĩ đang dưới quyền của quan Tổng Đốc Võ Duy Ninh. Đến năm 1858, dầu tàu Pháp chỉ chạy tới chạy lui dọc theo bờ biển Trung phần, nhưng đa số những người biết chuyện đều nghi rằng họ sẽ kéo vào đánh vùng xa xôi và ít phòng bị nhất là vùng Gia Định. Đến ngày mồng 7 tết, năm 1858, tin đồn Tây đánh Gia Định lan đi rất nhanh. Lúc ấy Tổng Đốc thành Gia Định là Võ Duy Ninh đang hiệu triệu toàn dân quân Gia Định chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Tổng Đốc Võ Duy Ninh lại cho điều động thêm quân từ Định Tường lên tăng cường.

Theo các bô lão trong các vùng Mỹ Thạnh, Mỹ Lồng, tỉnh Bến Tre, ngay từ thuở nhỏ, ông đã chứng tỏ là một thanh niên khôi ngộ đỉnh đạt, văn võ song toàn. Ông gia nhập quân đội triều Nguyễn và lần lên được chức Cai Cơ, rồi thăng đến chức Lãnh Binh. Lãnh Binh Thăng là một trong những vị võ quan nổi tiếng của triều đình hồi giữa thế kỷ thứ XIX. Năm 1859, khi liên quân Pháp-Y Pha Nho bắt đầu lấn chiếm Nam Kỳ, ông đã mang quân từ Mỹ Tho lên tăng viện cho thành Gia Định, dưới quyền cai quản của quan Tổng Đốc Võ Duy Ninh. Hồi này lực lượng liên quân Pháp-Y Pha Nho gồm có 9 tàu chiến võ trang đầy đủ, 4 tàu buôn cũng được trang bị y như tàu chiến. Tổng cộng quân số của Pháp khoảng 800 người, quân số Y Pha Nho khoảng 200. Họ đánh hạ đồn Cần Giớ vào ngày mồng 9 Tết, tức là ngày 11 tháng 2 năm 1859. Đoàn tàu chiến của Pháp theo sông Sái Gòn kéo vào tấn công thành Gia Định. Những ngày 12, 13 và 14 tháng 2 năm 1859, họ không gặp sự kháng cự nào đáng kể từ phía quân triều đình, nhưng họ chỉ tiến mỗi ngày khoảng từ năm đến sáu cây số mà thôi.

Giặc Pháp cũng thừa biết là tin đồn tây đánh Gia Định đã được loan đi từ trước, nên công cuộc phòng thủ rất nghiêm nhặt. Tuy nhiên, vũ khí trang bị cho binh lính trong thành quá thô sơ, chỉ vài khẩu hỏa mai, gươm giáo, và vài ba khẩu thần công nạp tiền(2) mà thôi. Bên cạnh đó, trên sông Sài Gòn, gần thành Gia Định lúc đó chỉ có hai đồn án ngữ là đồn Cá Trê ở Tân Thuận và đồn Thủ Thiêm mà thôi. Quan Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng được cử giữ đồn Thủ Thiêm. Khi quân Pháp đến tấn công đồn, mặc dầu quân số rất đông, nhưng vì vũ khí quá thô sơ và ít ỏi nên chỉ sau vài giờ kháng cự quân Nam bị tổn thất nặng nề. Quân Pháp liền đổ bộ lên Thủ Thiêm(3). Rồi sau đó, giặc Pháp tấn công thành Gia Định vào ngày 18 tháng 2, đến sáng ngày 19 tháng 2 thì hạ được thành Gia Định. Tiếp sau đó, quân Pháp hạ luôn thành Mỹ Tho.

Sau khi quân Pháp hạ thành Mỹ Tho, Lãnh Binh Thăng ra lệnh cho quân sĩ rút về Định Tường. Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký Hòa Ước Nhâm Tuất nhường ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp. Vua Tự Đức xuống chiếu bãi binh. Lãnh Binh Thăng lại rút quân về Gò Công cùng hợp lực với quân của Trương Định để tiếp tục kháng chiến tại vùng Gò Công. Năm 1864, chẳng may anh hùng Trương Định bị tử thương ở vùng Kiểng Phước, Lãnh Binh Thăng vẫn không sờn chí, vẫn xây dựng chiến khu tại Gò Công và tiếp tục chiến đấu chống Pháp tại vùng mà bây giờ người ta gọi là “Đám Lá Tối Trời”. Tuy nhiên, vì thế cô, không có sự yểm trợ từ triều đình, với lại thiếu thốn đủ thứ, nhất là về mặt súng ống và đạn dược, nên khi tấn công vào chiến khu vào ngày 15 tháng 5, năm 1866, ông đã anh dũng đền nợ nước tại mặt trận(4). Di hài của quan Lãnh Binh được đưa về quàn tại Mỹ Lồng và được an táng tại đây. Hiện nay tại xã Mỹ Lồng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, vẫn còn phần mộ của quan Lãnh Binh Thăng. Theo Huỳnh Minh trong quyển “Kiến Hòa Xưa,” theo gia phả thì ông Nguyễn Ngọc Hiệp là cháu ba đời của quan Lãnh Binh. Hiện gia phả vẫn còn ghi lại những người con của ông Hiệp tại Bến Tre gồm: Nguyễn ngọc Tân (chết), Nguyễn thị Thoàn, Nguyễn ngọc Dân (chết), Nguyễn ngọc Nam, Nguyễn ngọc Hiền (chết), và Nguyễn ngọc Vang.

Phải thành thật mà nói, quan Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong trang sử kháng chiến chống Pháp hồi thế kỷ thứ XIX. Tuy nhiên, phần vì đất nước hồi đó đang lúc ngữa nghiêng chinh chiến, phần khác vì vùng đất phương Nam quá non trẻ so với các vùng khác, nên việc ghi chép lịch sử trên vùng đất này ít được các sử gia chiếu cố. Ở đây người viết bài này không quơ đủa cả nắm, nhưng đó là thực tế, có lẽ vì một lý do đơn giản là các sử gia không thể thu thập được đầy đủ tài liệu về các nhân vật hào kiệt đất phương Nam. Ngay như người viết hai tập sách “Đất Phương Nam” và “Hào Kiệt Đất Phương Nam” này, ngoài việc phải thu thập rất nhiều sách tham khảo, trong suốt 5 năm đầu thập niên 1970 của thế kỷ trước, người viết phải tận dụng bất cứ cơ hội nào có được để hầu chuyện với các bô lão khắp miền Nam, những mong gom góp lại được một ít tài liệu quí báu về những anh hùng hào kiệt của vùng đất này nói chung, và nói về tấm gương trung dũng của một bậc anh hùng như quan Lãnh Binh. Phải thành thật mà nói, quan Lãnh Binh đã từng đem hết tài hết sức mình ra để bảo vệ đất nước và hy sinh ngay trên mặt trận với quân thù. Ngài quả xứng danh là một bậc công thần “Vị Quốc Vong Thân,” xứng đáng cho đàn hậu bối chúng ta lấy tấm gương đó làm kim chỉ nam cho thân trai thời loạn. Và cuối cùng, người viết bài này cũng xin dâng lên hương hồn của quan Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng một nén hương lòng vớt tất lòng thành kính ngưỡng, xin ngài hãy tiếp tục phò trợ cho nhân dân vùng đất phương Nam, cho ai ai cũng đều có được cái tinh thần hết lòng vì dân vì nước như ngài!

Ghi Chú:

(1)          Nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(2)          Loại súng nạp đạn từ miệng súng rồi đốt thuốc súng phía sau cho súng nổ.

(3)          Nơi mà dưới thời VNCH là công trường Mê Linh.

(4)          Có sách ghi là ngày 27 tháng 6 năm 1866, tức ngày rằm tháng 5 năm Bính Tuất. Khi quan Lãnh Binh tử trận, các thuộc hạ trung thành đã nhân lúc tối trời chèo ghe đưa xác ông về an táng tại quê nhà Mỹ Lồng, và thi hài ông được quàn tại đình làng suốt 30 ngày để dân chúng tới kính viếng tiễn biệt người anh hùng kháng chiến chống Pháp.

 

8) Lãnh Binh Nguyễn Văn Cẩn(1802-1902)

Nguyễn Văn Cẩn, tục gọi là Đốc Binh Cẩn, sanh trưởng ờ vùng đất phương Nam. Ông là một trong những chiến sĩ tài ba thao lược và dũng cảm nhất của phong trào Cần Vương, kháng chiến chống Pháp hồi chúng mới xâm lấn Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trước đó ông đã từng giữ chức Lãnh Binh của triều đình Huế, nên dân chúng thường gọi ông là Lãnh Binh Cẩn. Lúc Võ Duy Dương khởi binh kháng chiến ở vùng Mỹ Tho và Tân An, rồi sau đó vào vùng Đồng Tháp Mười lập chiến khu.

Sau khi Thiên Hộ Dương mất vào năm 1866, Lãnh Binh Cẩn tiếp tục chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp. Lãnh Binh Cẩn trấn giữ vùng trung tâm Đồng Tháp Mười. Quân Pháp và đám Việt gian tay sai đánh phá nghĩa binh ròng rã ba năm mà không xuyên thủng được phòng tuyến Tháp Mười, nên chúng định dùng quỷ kế cầu hòa. Chúng xin cắt tỉnh Vĩnh Long và vùng Sa Đéc để đổi lấy căn cứ Đồng Tháp Mười.

Cả ba ông Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều và Đốc Binh Cần sáng suốt hơn nên bác ngay lời đề nghị của giặc, cương quyết giữ lấy vùng trung tâm Đồng Tháp Mười và tiếp tục đánh Tây đến cùng. Trong khi đó thì nghĩa binh của 2 Đốc Binh Khả và Đốc Binh Ông đã bị Pháp ly gián kéo về Sa Đéc và Vĩnh Long, nên hai tiền đồn phía tây và tây bắc của Đồng Tháp Mười đã bị bỏ ngỏ như đúng theo kế hoạch của Pháp. Sau đó, quân đội Pháp bắt đầu kế hoạch vây đánh căn cứ Đồng Tháp Mươi trong 40 ngày đêm. Vì đã mất đi hai cửa ngỏ trọng yếu cho việc chuyển quân và tiếp tế lương thực từ bên Long Xuyên qua, nên quân Pháp vừa dễ dàng tiến quân mà khi đã bao vây thì nghĩa quân không còn đường tiếp tế.

Trong tình thế này, Thiên Hộ Dương phải xuất quân đi tiên phong để giữ thành Đồng Tháp; trong khi Lãnh Binh Cẩn giữ tập hậu, và Đốc Binh Kiều giữ trung tâm thành. Quân Pháp xua quân ào ạt tấn công từ 3 phía: phía Nam chúng tiến lên từ hướng Cai Lậy và Ấp Bắc, hướng Tây giặc tiến vào từ hướng Cao Lãnh và Hồng Ngự; trong khi về phía Tây Bắc thì giặc chuyển quân đánh thẳng vào Tháp Mười qua ngã Rạch Ruộng. Chẳng bao lâu sau đó thì Đốc Binh Kiều và Thiên Hộ Dương đều anh dũng đền nợ nước. Thấy không giữ được vùng trung tâm Đồng Tháp Mười, Lãnh Binh Cẩn bèn ra lệnh cho nghĩa binh rút về cố thủ vùng Tân Châu Hồng Ngự. Nhưng nghĩa binh của Lãnh Binh Cẩn vừa tới vàm Hồng Ngự đã bị quân của tên Việt gian Trần Bá Lộc chặn đánh. Lãnh Binh Cẩn đã ra lệnh cho anh em nghĩa binh cố gắng mở đường máu chạy thoát về Gia Định. Ông đã dặn dò quân sĩ ẩn náu chờ thời cơ quật khởi.

Một thời gian ngắn sau đó, Lãnh Binh Cẩn đã chiêu mộ thêm một số quân nghĩa dũng, và trang bị thêm một số vũ khí mới, ông liền xuất quân đánh pháp giặc Pháp ở nhiều nơi. Đặc biệt là khi nghĩa binh của Lãnh Binh Cẩn hạ thành Châu Đốc, nhưng không thể giữ được, nên sau khi tịch thu một số vũ khí, quân trang, quân dụng và nhiều chiến lợi phẩm khác, Lãnh Binh Cẩn đã ra lệnh cho nghĩa binh rút về vùng Núi Sập ở Long Xuyên. Lúc này mọi người đều quá mệt mỏi, lại thêm càng ngày quân Pháp càng truy lùng gắt gao hơn, nên đường tiếp tế vào Núi Sập không được. Lực lượng nghĩa binh của Lãnh Binh Cẩn bị tiêu hao dần mòn mà không bổ sung được, ông đành bãi binh một lần nữa để lui về Mỹ Lợi trong vùng Cái Bè. Tại đây ông xây dựng lên một ngôi chùa, rồi sau đó đi vào Đồng Tháp xây thêm một ngôi chùa nữa để thờ Đốc Binh Kiều và Thiên Hộ Dương.

Đến ngày 25 tháng 12 năm 1902, Lãnh Binh Cẩn qua đời, hưởng thọ 100 tuổi. Sau khi ông qua đời, con cháu của những nghĩa binh đã từng theo ông tụ về Mỹ Lợi để tổ chức đám tang cho ông. Hiện ngôi mộ của Lãnh Binh Cẩn vẫn còn tại xã Mỹ Lợi và được dân chúng trong vùng tu bổ và tổ chức lễ giỗ cho ông hàng năm.

                                          ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn