Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000100
Số lượt truy cập
19292820
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-09-09 09:04:06

 

4) Võ Duy Dương(?-1865)

Võ Duy Dương tục gọi là Thiên Hộ Dương, gốc người miền Trung, nhưng gia đình nội tổ đã dời cư vào Gia Định, cũng có người cho rằng ông sanh trưởng tại miền Trung. Từ nhỏ, ông đã là một thanh niên văn võ toàn tài lại là người khí khái. Ngay từ khi còn rất nhỏ, ông đã tỏ ra là một thanh niên thông minh đỉnh đạt phi thường, tuổi vừa đôi tám là ông đã văn võ toàn tài. Khi lớn lên ông trở thành một trong những lãnh tụ kháng chiến chống Pháp quyết liệt nhất vào giữa thế kỷ thứ XIX. Ông là bạn thâm giao của Trương Định. Khi Trương Định khởi nghĩa, ông giữ chức Thiên hộ trong hàng ngũ Nghĩa Binh. Nhờ tài thao lược phi thường, cộng thêm sức mạnh khác người, một mình ông có thể nhổ bức một cây tre và nhấc bổng năm trái linh(1) nên đương thời gọi ông là Ngũ Linh Thiên Hộ.

Năm 1864, khi Trương Định qua đời, ông lui về vùng Đồng Tháp(2) lập chiến khu tiếp tục chống Pháp. Dưới trướng của ngài Thiên Hộ Dương là một bộ tham mưu toàn là những sĩ phu túc trí thâm nho, khoa cử của triều đình, như các ông Thủ Chiếu, Phòng Biểu, Nhiêu Bá, Nhiêu Chấn, và Thông Phụng, vân vân. Sau khi giặc Pháp vừa chiếm xong 3 tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, sĩ phu Nam Kỳ Lục Tỉnh bắt đầu tụ nghĩa về vùng Đồng Tháp khởi binh kháng chiến, thà chết chứ nhất quyết không làm nô lệ cho giặc. Trong số này, ông Thông Phụng tuy là tài nho học kém hơn những vị kia, nhưng laị thao lược về võ nghệ và đa mưu túc trí, nên rất được ngài Thiên Hộ Dương nể vì. Chính vì vậy mà ngay trong bộ tham mưu laị có sự ganh ghét nhau, nhưng nhờ tài năng khéo léo của Thiên Hộ Dương mà mọi người đều nhất tề một lòng quyết chiến với giặc Pháp(3).

Lúc này bộ chỉ huy của kháng chiến quân của ngài Thiên Hộ Dương được đặt ngay trung tâm Đồng Tháp Mười. Từ ngoài vô tới căn cứ chỉ có ba con đường mòn, thứ nhất là con đường từ Gò Bắc Chiêng từ Một Hóa đi xuống, thứ nhì từ Cần Lố dưới Cao Lãnh đi lên, và thứ ba từ vùng Cái Nứa thuộc Cái Bè Cai Lậy theo hướng Ấp Bắc Vườn Đào đi lên. Sau khi ổn định vùng chiến khu, nghĩa dũng theo ông có khoảng trên 1.000. Ngoài ra, ông còn được một số lính Tây và lính Tagals trước đây ở trong quân đội Pháp, nhưng sau đó lại quay sang giúp ông. Ban đầu căn cứ nghĩa binh được đặt trong vùng Bằng Lăng và Mỹ An, sau đó lại dời sâu vào trong vùng rừng tràm, thuộc địa phận xã Tân Ninh và Nhân Ninh hiện nay, và được thiết lập một hệ thống phòng thủ hết sức chặt chẽ và kiên cố. Chiến thuật chính của nghĩa binh Thiên Hộ Dương là chiến thuật du kích, đánh nhanh và rút cũng thật nhanh, làm cho quân Pháp không trở tay kịp.

Thiên Hộ Dương cho đặt nhiều đồn lũy phòng thủ cho căn cứ Tháp Mười. Từ phía Cao Lãnh, ngay tại vàm Cần Lố(4), ngài Thiên Hộ cho đặt một cái đồn rất kiên cố, người đương thời gọi là “Doi Đồn”. Doi Đồn âm u, chung quan toàn là rừng cây, chính giữa lại có những cây me cổ thụ, rất thuận tiện cho việc phục kích đánh liên quân Pháp-Tây Ban Nha. Hai vị tướng của ngài Thiên Hộ là Huỳnh Lục và Huỳnh Thất chỉ huy và trấn thủ Doi Đồn trong ba năm liền, khiến cho giặc Pháp không thể nào mở đường vô đánh Đồng Tháp được. Tại Doi Đồn, tướng Huỳnh Lục cho bố trí một khẩu thần công, gọi là “Ông Cà Lăm”. Còn về việc vận tải, đêm nào cũng có những đoàn ghe vận tải quân lương và quân trang quân dụng từ rạch Trà Cú Thượng đến rạch Trà Cú Hạ, qua kinh Phước, đi vô vàm Xoài Hột, rồi đi vào căn cứ Đồng Tháp Mười. Lúc đó trời về khuya, trên dòng kinh nước phèn xanh trong, có tiếng róc rách lách nước của đoàn ghe; trên bờ không một bóng người, chỉ thấp thoáng một vài chòi canh của nghĩa binh và trai tráng trong đoàn nghĩa binh vùng Đồng Tháp cũng như những nghĩa dũng từ những nơi khác hội tụ về đây luôn mượn câu hò đối đáp nhau cho vơi đi nỗi niềm uất hận của thanh niên trong cơn quốc phá gia vong. Văng vẵng đâu đó người ta nghe câu hò:

“Non nước tan tành ngủ mãi sao?

..............

Vội vã dân làng thu dẹp cuốc, Trong lòng đã rộn ánh binh đao.”

Thì trên đoàn ghe vận tải quân lương lại đối đáp liền những câu cho biết đã có người ứng nghĩa rồi đây:

“Đã nghe sắc lửa âm thầm dậy, Tiếng gọi từ xa thúc dục hoài. Há chịu làm thân trâu ngựa mãi, Chim lòng sao để hót bi ai?”

Quả là một trời bừng khí thế chống xâm lăng, tất cả trai tráng khắp các nơi đều tập trung về đây, trong vùng căn cứ Đồng Tháp Mười của ngài Thiên Hộ Dương. Trong khi đó, dân chúng khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh cũng đua nhau đem tiền của và tài vật ra cung ứng cho nghĩa binh Đồng Tháp. Thường thường mỗi tuần có đến ba hoặc bốn chuyến vận lương tải về từ ba con đường mòn: Gò Bắc Chiêng từ Một Hóa đi xuống, Cần Lố dưới Cao Lãnh đi lên, Cái Nứa thuộc Cái Bè Cai Lậy theo hướng Ấp Bắc Vườn Đào đi lên. Nhưng con đường tiếp tế từ Doi Đồn vùng Cao Lãnh đi lên là con đường chính, vì các ghe có thể chở đồ tiếp tế từ Vĩnh Long lên, từ An Giang đi qua, hoặc từ Mỹ Tho theo ngả sông Tiền đi lên. Mỗi lần có ghe lương tiếp tế là có thân nhân của nghĩa binh đi theo. Từ Doi Đồn vô đến bộ chỉ huy căn cứ của ngài Thiên Hộ, phải đi theo con đường mòn, đến Giồng Cát, còn gọi là Động Cát. Tại đây có một trạm gác của nghĩa binh và là nơi dừng lại nghỉ chân của đoàn ghe vận tải. Quân Pháp biết được nên đã gài những tên Việt gian làm tay sai, nhưng rất nhiều lần, những tên tay sai này đã chết rất bí mật tại Động Cát. Đến khi người Pháp tiến vào đánh chiếm Doi Đồn, rồi tiến lần tới Động Cát, lại cũng đột nhiên phải rút lui trở về Cao Lãnh, trong khi chưa giáp chiến với nghĩa binh của ngài Thiên Hộ. Theo các bô lão trong vùng Động Cát thì bọn lính Tây vừa đến đây liền bị Rắn Thần xông ra giáp chiến, khiến chúng phải lui quân(5).

Sau khi ổn định, Thiên Hộ Dương ra lệnh cho nghĩa quân tấn công các vùng Mỹ Tho, Tân An, Sa Đéc và Long Xuyên. Nhờ chiến thuật đánh úp, nghĩa binh đã thâu đạt được rất nhiều thắng lợi. Triều đình Huế phong cho ông chức Lãnh Binh. Ngày 22 tháng 7 năm 1865, ông đã đánh chiếm đồn Pháp ở Mỹ Trà, thuộc vùng Sa Đéc. Đến tháng 4 năm 1866, viên tướng De La Grandière của Tây đã đem viện binh từ các nơi khác về Đồng Tháp và mở ra ba mặt trận tấn công vào chiến khu. Nghĩa quân yếu thế nên thất thủ ở Cái Thia. Thiên Hộ Dương đã rút quân ra khỏi rừng tràm, chạy qua vùng Cao Lãnh, rồi sau đó trở lại vùng Vàm Cỏ, và cuối cùng đến lập chiến khu mới ở vùng Gò Bắc Chiêng. Tuy nhiên, đến năm 1865, ông mắc bệnh rồi mất. Theo các bô lão trong vùng Gò Bắc Chiêng, trước khi qua đời, Võ Duy Dương đã để lại mấy vần thơ thống thiết như sau:

“Theo việc binh nhung thuở trẻ trai, Phong trần hăng hái tuốt gươm mài. Anh hùng gặp phải hồi không đất, Thù hận chang chang chẳng đội trời.”

Sau khi Thiên Hộ Dương qua đời, Đốc Binh Kiều tiếp tục thống lãnh nghĩa quân kháng Pháp. Nhưng rồi cũng chẳng bao lâu, Đốc Binh Kiều cũng qua đời trong vùng rừng thiêng nước độc này. Lúc đó nghĩa binh không có người tài đức chỉ huy nên từ từ tan rả.

Ghi Chú:

(1)          Trái linh là một loại tạ thời xưa.

(2)          Lúc này vùng Đồng Tháp trực thuộc tỉnh Định Tường. Khoảng năm 1863 hay 1864 gì đó, căn cứ kháng chiến của ngài Thiên Hộ Dương được đặt ở trung tâm Đồng Tháp Mười.

(3)          Sau khi biết có chuyện ganh tỵ và bất hòa trong bộ tham mưu của mấy ông Phòng Biểu và Nhiêu Bá đối với ông Thông Phụng. Ngài Thiên Hộ Dương làm tiệc rượu rồi mời ngũ tướng cùng lai rai với mình. Rồi ngài bảo ông Thông Phụng đàn bản “Trường Tương Tư”, nhưng Nhiêu Bá mỉa mai nói: “Đây chỉ là loại Trịnh Vệ Chi Phong” mà thôi. Ngài Thiên Hộ đã nhìn thấy rõ ràng sự bất hòa giữa đôi bên, nên không nói gì mà chỉ rót rượu trao cho ông Phụng và ông Bá rồi nói: “Thôi để tôi nói một câu chuyện Tàu trong lúc mình lai rai. Số là hồi thời Đông Châu Liệt Quốc, có bảy nước tranh hùng, trong đó nước Tần là mạnh nhất. Nghe tin Triệu quốc có Ngọc Bạch Bích rất quí, Tần vương đưa thư xin đổi 15 thành trì để lấy viên ngọc. Triệu vương nghe rồi sợ hãi, vì nếu không khéo thì thành đã không được mà còn mất luôn cả ngọc. Triệu vương bèn nhóm họp triều thần hội ý. Lạn Tương Như đứng ra xin đem viên ngọc đến cho Tần vương xem. Diện kiến Tần vương, Lạn Tương Như tâu: 'Nếu Triệu được thành thì tôi để ngọc ở Tần, bằng không, tôi xin giữ viên ngọc đem về Triệu.' Nhưng Tần vương thì muốn lấy ngọc mà không phải giao thành, nên ra lệnh cho tướng sĩ cướp lấy viên ngọc từ trong tay Tương Như. Lạn Tương Như biết rất rõ dã tâm của Tần vương, nên tâu: 'Viên ngọc có chút vết, tôi sẽ chỉ cho đaị vương xem.' Nghe vậy Tần vương bèn ra lệnh trao viên ngọc lại cho Tương Như. Vừ cầm được viên ngọc trong tay, Tương Như bèn đứng tựa vào cột và quát lớn: 'Đaị vương đã thư cho Triệu vương đem Ngọc Bạch Bích mà đổi lấy thành, nay định cướp thì cái đầu tôi đây sẽ đập nát viên ngọc vào cây cột. Tôi thà chết chứ không để cho Đại vương làm chuyện tước đoạt như vậy.' Kết cuộc là Tần vương chấp nhận đổi thành mà trước khi nhận ngọc còn phải trai giới đủ 5 ngày. Từ sau vụ này, Tương Như về nước và rất được sự kính nể của Triệu vương, và được phong làm Thượng Đại Phu, nghĩa là trên đaị tướng Liêm Pha một bậc. Thấy vậy đại tướng Liêm Pha đem lòng ganh ghét. Hăm rằng khi gặp Tương Như ở đâu là giết ở đó. Từ đó Tương Như thoái thác ít khi vào triều. Một hôm, có việc ra ngoài, tình cờ thấy toán lính của Liêm Pha, nên Tương Như vội lách mình vào ngỏ, đợi cho toán lính qua rồi mới ra. Những người đi theo Tương Như thấy vậy tỏ ý chê Tương Như là hèn nhát. Tương Như bèn họp bọn xá nhân lại và hỏi: 'Các ông xem Tần mạnh hay lục quốc mạnh? Họ đáp: 'Tần mạnh.' Tương Như laị hỏi: 'Liêm tướng mạnh hay Tần mạnh?' Họ đáp: 'Liêm tướng làm sao có thể so được với Tần?' Tương Như bèn giải thích: 'Ta đã không sợ Tần thì làm gì phải sợ một Liêm tướng chứ! Sở dĩ Tần không dám đánh Triệu là vì e có cả Tương Như lẫn Liêm Tướng, nay hai con hổ này cùng đánh nhau. Tần chắc chắn sẽ thừa cơ hội này mà đánh Triệu. Nên ta coi việc nước làm trọng mà việc nhà làm khinh là vậy đó!' Sau đó, quân của Tương Như cùng nói chuyện này với quân của Liêm Pha. Và chuyện này đã thấu đến tai của Liêm Pha. Khi biết được chủ tâm cao thượng của Tương Như, vì nước mà phải tránh mặt mình, Liêm Pha vô cùng hối hận, liền một mình chạy đến trướng phủ Lạn Tương Như, ôm chầm lấy Tương Như mà khóc tạ lỗi. Cả hai đại tướng nước Triệu đều ôm chầm lấy nhau mà khóc trong niềm vui sướng. Từ đó hai ông trở thành hai anh em rất thân thích, và cũng chính nhờ vậy mà Tần không đánh nổi Triệu” Sau khi nghe Thiên Hộ Dương kể chuyện Lạn Tương Như và Liêm Pha, ông Nhiêu Bá vô cùng hối hận. Từ đó bộ tham mưu của Thiên Hộ Dương là một khối đoàn kết keo sơn, quyết chỉ một lòng đánh đuổi giặc Pháp.

(4)          Sông Cửu Long chảy tới Cao Lãnh, bị một cái doi nằm chắn ngang hai ngả, một ngả nước sông Cửu Long tiếp tục dòng chảy của nó, một ngả chảy vào Rạch Miễu, còn có tên là Rạch Tháp Mười.

(5)          Hồi khoảng đầu năm 1985, tôi có duyên may gặp chú Huỳnh Minh tại Tổ Đình Minh Đăng Quang, Westminster, California, USA. Hai chú cháu tôi đều cùng là đệ tử tại gia của Đức Pháp Chủ Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, nên chúng tôi có nhiều dịp để nói với nhau về Hào Kiệt Đất Phương Nam. Hơn nữa, cũng như anh Hứa Hoành, chú Huỳnh Minh lại là tác giả của nhiều tập sách địa chỉ của nhiều tỉnh ở miền Nam. Với tôi, thời gian được ở gần chú và anh Hứa Hoành là một trong những cơ hội quí báu hiếm hoi cho tôi hoàn thành 2 bộ sách Đất Phương Nam và Hào Kiệt Đất Phương Nam. Một lần hai chú cháu đang nói về chuyện hồi nẫm Tây vô đánh Nam Kỳ Lục Tỉnh, người Lục Tỉnh mình coi lè phè vậy chớ luôn trọng cái câu “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã”. Chính vì vậy mà Tây đâu có lúc nào được yên ổn với dân miền Nam tụi tôi đâu? Khi chúng tôi nói chuyện về đoàn quân lương Cần Lố của ngài Thiên Hộ Dương, chú Huỳnh Minh có kể cho tôi nghe về một câu chuyện “Rắn Thần Tiếp Chiến Ngài Thiên Hộ” như sau: “Từ Đồn Doi ở Cần Lố, Cao Lãnh, đi vô đến tổng hành dinh Đồng Tháp Mười, phải đi theo đường mòn đi đến một Giồng Cát, còn gọi là Động Cát. Tại đây có một trạm gác của nghĩa binh, cũng là nơi cho đoàn vận tải binh lương ghé lại nghỉ ngơi. Bỗng một lúc, dân chúng các nơi cũng đổ xô về đây cất nhà gần bên trạm gác. Trong số này có hai gia đình có vẻ rất sung túc. Thình lình một đêm nọ, sau khi đoàn người vận tải ghé lại nghỉ đêm thì tất cả mọi người tại Động Cát đều chết hết trong đêm đó, không một ai sống sót. Mãi đến cả tuần sau mới có người về báo cho ngài Thiên Hộ biết sự việc. Ngài Thiên Hộ bèn phái ông Thủ Chiếu là lương y về rắn đến điều tra. Sau khi khám nghiệm các tử thi, ông Thủ Chiếu cho rằng những người này đều chết vì thuốc độc. Trong khi vụ việc còn trong vòng điều tra, thì ngoài Đồn Doi cấp báo về cho ngài Thiên Hộ rằng trong đoàn vận lương Cần Lố đã có người báo tin cho tên Việt gian tay sai Trần Công Khanh về tình hình của ngài Thiên Hộ. Tuy nhiên, đến chừng ngài Thiên Hộ hay được vụ việc thì cả bọn này đã chết ở Động Cát. Đồng thời tin tình báo của nghĩa binh cũng cho biết hai gia đình trông có vể sung túc ở Động Cát chính là mật thám do viên đội Courcy gài vào để dọ thám tình hình của ngaì Thiên Hộ. Sau khi biết rõ vụ việc, ngaì Thiên Hộ bèn ra lệnh cho ông hộ vệ Tân ra Động Cát tìm cách bắt đoàn rắn ấy. Sau khi ông Tân xem xét và báo cáo với ngài Thiên Hộ về hang rắn Động Cát. Mọi chuyện chưa được giải quyết thì Đồn Doi bị Pháp tấn công và chiếm cứ. Quân ta lui về Động Cát, quân Pháp lại đuổi theo đến Động Cát thì trời đã tối. Ngay đêm đó cả tiểu đội lính Pháp đã chết một cách bí mật tại đây. Người Pháp không tìm được nguyên do của những cái chết bí ẩn này, vã lại không thấy sức kháng cự của nghĩa binh, nên chúng rút lui trở ra Cần Lố. Từ đó dân địa phương loan truyền tin Rắn Thần diệt giặc Pháp khắp nơi, khiến cho đám Việt gian tay sai và lính Tây cũng hoảng sợ, rút toàn bộ binh lính về Cao Lãnh. Nghĩa binh của tướng Huỳnh Lục và Huỳnh Phát lại trở ra chiếm đóng lại Đồn Doi như trước. Sau đó, khi hoạt động của nghĩa binh đã quá mạnh, người thấy cần phải chiếm Đồn Doi để mở đướng đánh vào căn cứ Đồng Tháp Mười. Thế là chúng mang đại quân đánh chiếm Đồn Doi, rối sau đó tiến quân vào chiếm Động Cát. Theo lời đề nghị của những tên Việt gian tay sai, giặc Pháp cho nổi lửa đốt hang rắn tại đây. Trong lúc khói lửa đang mịt mù cháy thì bỗng đâu tiếng gió ào ào thổi lên; từ phía rừng tràm, một con rắn hổ mây bề tròn bằng miệng thúng bay về hướng giặc như vũ bão, lăn xả vào giặc, quan quân giặc tháo chạy hoảng loạn. Trong lúc ấy, nghĩa binh kéo đến đánh bồi cho giặc một trận tơi bời. Trong trận này nghĩa binh đã tịch thu rất nhiều súng ống và đạn dược. Những tên lính Pháp còn sống sót, tháo chạy về Đồn Doi, bị dân chúng bắt trói và giao nạp cho ông Huấn Hiệu. Sau trận Động Cát, uy danh của nghĩa binh của ngài Thiên Hộ vang dội một góc trời Nam.” Chuyện rắn thần đã 3 lần hổ trợ nghĩa binh Thiên Hộ đẩy lui giặc Pháp dầu sao cũng chỉ là một huyền thoại, nhưng cũng đủ nói lên quyết tâm đánh giặc của dân chúng vùng đất phương Nam, họ đã dùng mọi cách, kể cả việc tuyên truyền tâm lý làm nản lòng giặc cũng như những tên Việt gian tay sai.

                                           (Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn