Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000137
Số lượt truy cập
19292579
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-09-05 09:42:47

 

 Phần Mười

Những Anh Hùng Chống Pháp

Trên Đất Phương Nam

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN

Những Anh Hùng Chống Pháp

Đất Phương Nam

1) Phan Văn Đạt(1827-1861)

Theo Kỳ Xuyên Cùng Độc và Kỳ Xuyên Thi Văn Sao của cụ Nguyễn Thông, Phan Văn Đạt tự là Minh Phủ, sanh ra và lớn lên ở thôn Bình Thạnh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Gia Định. Cha ông là ông Phan Văn Mỹ, một bậc sĩ phu thanh tao sĩ khí đất Gia Định, sống đời đạm bạc chứ không ganh đua danh lợi. Gia đình ông rất trọng hiền đãi sĩ, và ông chịu sự giáo dục trực tiếp từ cha, nên từ thuở nhỏ ông đã tỏ ra là một thanh niên đứng đắn. Tư chất ông thông minh mẫn tiệp, học hành giỏi giang. Bên cạnh đó, ông lại có cốt cách phong lưu.

Sau khi thân mẫu qua đời thì gia đình ông trở nên sa sút. Tuy nhiên, đến năm Canh Thân 1860, ông cũng đỗ cử nhân. Bạn bè khuyến khích nên ông cũng muốn ra làm quan giúp nước, nhờ bạn bè lo liệu, nhưng khi ra đến Huế thì ông lại bỏ về quê vì không chịu nổi cảnh a dua của quan trường thời đó. Khi trở về Gia Định ông sống đời của một sĩ phu bất đắc chí. Dân chúng trong vùng, mỗi khi có việc tranh chấp đều đến tìm ông nhờ phân giải. Mọi sự mọi việc ông đều giúp giải quyết ổn thỏa, nên dân Gia Định thời đó có câu: “Sợ sự chênh lệch thì nhờ mặt cân, muốn hết tranh giành thì nhờ ông Phan.” Sau khi cha ông mất vào tháng 3 năm 1861, cũng là lúc mà Pháp đã lấn chiếm thành Gia Định, ông bảo với các bạn: “Việc riêng đã xong, kể từ nay về mọi chuyện đều tùy theo tạo hóa vần xoay.” Bạn bè biết tánh khí của ông, khi nói như vậy tức là ông đã biết phải làm gì và tự chọn cho mình con đường đi trong cơn quốc phá gia vong.

Sau đó, ông hợp cùng với một người chú bên họ ngoại là ông Trịnh Quang Nghị, đứng lên chiêu một nghĩa sĩ lập ra phong trào kháng chiến chống Pháp. Nghe tin ông đứng lên tụ nghĩa, thanh niên thanh nữ vùng Gia Định và các vùng phụ cận đều theo về hợp sức chống Pháp. Quân nghĩa dũng của ông chia nhau đóng giữ các vùng Biện Kiều, thôn Bình Thạnh, tỉnh Gia Định. Sau khi hạ xong thành Gia Định, quân Pháp chia nhau đi đánh dẹp các nơi, nhưng không làm sao hạ nổi đồn Biện Kiều của nghĩa quan Phan Văn Đạt. Tuy nhiên, vì vũ khí thô sơ và vì không qua trường lớp binh thư của con nhà võ, nên đến ngày 16 tháng 7 năm Tân Dậu, 1861, nghĩa quân bị quân Pháp bất thần tấn công đánh úp đồn Biện Kiều. Ông và 8 nghĩa quân khác bị bắt sống, trong khi cánh quân của Trịnh Quang Nghị đóng ở phía Tây cố chống cự và rút lui về phía Nam.

Sau khi bị Pháp bắt, người Pháp đã dùng mọi cách để chiêu dụ, nhưng thấy không xong nên họ quay sang tra tấn ông và các nghĩa binh một cách dã man, nhưng ông luôn giữ vững tinh thần bất khuất của một sĩ phu trong cơn quốc phá gia vong. Ông đã nhắn lại với những nghĩa quân: “Tôi thì chắc phải chết, hy vọng mấy anh không đến nỗi nào. Xin mấy anh nhắn lại với các bạn đồng tâm nên cố sức làm cho thành công.” Sau một thời gian vừa chiêu dụ vừa dùng cực hình đều không có kết quả, lại thêm tên Việt gian làm thông ngôn, muốn lập công, nên chỉ vào Phan Văn Đạt mà nói với tên tướng Pháp: “Phan Văn Đạt là đầu sỏ của bọn phiến loạn, nên bắn bỏ cho xong.” Ngay sau đó, quân Pháp đem ông ra xử bắn tại chợ Gia Định, còn 8 nghĩa binh thì được chúng thả với điều kiện là hức kể từ nay không theo nghĩa quân nữa. Khi bị Tây xử bắn, Phan Văn Đạt mới được 34 tuổi, thi hài ông bị người Pháp vùi dập ở một cánh đồng hoang ngoại thành Gia Định. Về sau này, một người dì của ông tên Trịnh Thị (chị của ông Trịnh Quang Nghị) sai người đi tìm thi hài của ông và đem về an táng ở phía Nam của đồn Biện Kiều, là nơi ông tụ nghĩa và khởi nghĩa. Triều đình Huế biết được việc này cũng phong cho ông chức Hàm Tri Phủ, ban cho em của ông là Phan Văn Thanh chức Bá Hộ và ra lệnh cho dân chúng lập miếu thờ ông.

 

2) Trương Công Định(1820-1864)

(Xem Cuộc Kháng Chiến Của Trương Công Định (1859-1864)Chương 24)

 

3) Hồ Huấn Nghiệp(1828-1864)

Hồ Huấn Nghiệp sanh năm 1828, người làng An Định, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, vốn là cháu nội của cụ Ký Lục(1) Hồ Văn Thuận. Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã tỏ ra là một thanh niên xuất chúng trên văn đàn, và với tài học siêu quần, ông được sự ngưỡng mộ của hầu hết sĩ phu đương thời. Theo quyển “Đôn Am Văn Tập” của cụ Nguyễn Thông, Hồ Huấn Nghiệp có hình thù rất kỳ dị, mũi nhọn và dài như mỏ vịt, đôi tay dài như tay vượn, tính tình trầm tĩnh và cứng cõi. Khi cha ông qua đời, ông đã làm nhà kế bên phần mộ mà ở, nên rất được người đương thời mến mộ và cảm động trước tấm lòng chí hiếu của ông.

Năm 1858, tức là năm ông được 30 tuổi, đất Gia Định có tổ chức khoa thi, bạn bè biết tài năng xuất chúng của ông nên khuyên ông ra ứng thí, nhưng ông đã từ chối. Ông nói: “Đang buổi loạn lạc, khoa giáp làm gì? Nay chỉ muốn phụng dưỡng mẹ già cho trọn lòng hiếu đạo.” Rồi sau đó ông chỉ làm một nhà nho ẩn danh dạy học và phụng dưỡng mẹ già. Tuy nhiên, sau đó, ông thấy không thể không đem tài sức mình ra giúp nước trong thời buổi nhiễu nhương này, nhưng ông chưa biết phải làm sao để giúp nước. Đến năm 1860, thời cuộc xoay chuyển quá nhanh khi quân Pháp chiếm thành Gia Định. Lúc đó, ông nhận ra rằng trai thời loạn không thể nào tiếp tục ngồi yên ở nhà để phụng dưỡng mẹ già được nữa khi mà quân Pháp đã lấn chiếm miền Nam nước Việt.

Khi liên quân Pháp -Y Pha Nho lần chiếm thành Gia Định vào năm 1860 thì nghĩa quân của Lãnh Binh Trương Định đang đóng quân ở Tân Hòa, Gò Công, đang phát ra lời hiệu triệu các nhân sĩ góp sức cứu nước. Trong buổi nhóm họp hiệu triệu này, Hồ Huấn Nghiệp cũng có mặt với tư cách một nhân sĩ địa phương, nhưng trong thâm tâm, ông rất tán thành nguyện vọng và đường lối kháng chiến của Trương Định. Tuy nhiên, ngay lúc đó, ông vẫn chưa quyết định là sẽ góp sức với nghĩa quân Trương Định như thế nào. Thì ngay ngày hôm sau, ông tiếp được một bức điệp văn của Lãnh Binh Trương Định, đại ý ngỏ lời cho ông biết là tất cả anh em nghĩa quân đều đồng lòng đề cử ông vào chức vụ Tri Phủ Tân Bình, xin ông hãy tận lực giúp đỡ kháng chiến, đừng phụ lòng tin tưởng của anh em nghĩa binh. Ông vẫn còn do dự vì mẹ già không ai chăm sóc. Thì liền ngay sau đó, ông lại nhận thêm một bức thư nữa của thân hào nhân sĩ hai huyện Bình Dương và Tân Bình với lời lẽ thắm thiết mà hợp lý làm ông không thể nào từ chối được: “Trong khi quốc gia lâm nạn, trượng phu ắt phải vì nước quên nhà. Vậy ông là người xứng đáng làm tiêu biểu cho cả dân binh, lẽ nào vì chữ hiếu mà bỏ trách nhiệm với non sông?” Bên cạnh đó, hai người bạn thân của ông là Tú Tài Phạm Như Châu và Cử Nhân Lê Xuân Khánh cũng khuyên ông phải lấy trung làm hiếu. Cuối cùng ông chấp nhận gia nhập nghĩa binh Trương Định với chứ vụ hành chánh là Tri Phủ Tân Bình, trong khi giặc Pháp đanf đánh thành Gia Định. Sau khi gia nhập nghĩa binh, ông đã tỏ ra là một bậc trượng phu can trường và hòa mình cùng anh em sống chết có nhau.

Đầu năm Giáp Tý 1864, quân Pháp tấn công dữ dội vào lỵ sở Tân Bình, đến ngày 22, tháng 3, thì ông bị quân Pháp bắt được đem về giam giữ tại phủ Tân Bình. Viên tướng người Pháp hỏi cung ông: “Những ai đã đứng ra triệu tập nghĩa binh?” Ông im lặng không đáp, viên tướng lại nạt nộ: “Hiện nay triều đình của mấy ông đã ký hòa ước, cớ sao mấy ông còn nổi loạn?” Ông thao thao thóa mạ dã tâm của chủ nghĩa thực dân. Viên tướng Pháp tức giận, sai quân đem ông ra xử bắn. Một vị giáo sĩ người Pháp thấy ông cương trực can trường nên xin bảo lãnh cho ông để tiếp tục chiêu dụ ông về hợp tác với Tây. Nhưng ông luôn một mực từ chối. Thấy không lay chuyển được ông, viên tướng Pháp quyết định đem ông ra xử chém, lúc đó ông mới 36 tuổi. Lúc đó ông có làm một bài thơ tuyệt mạng như sau:

“Kiến nghĩa minh cam bất dũng vi Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi Thử thần sinh tử hà tu luận

Duy luyến cao đường bạch phát thùy.” Tô Nam Nguyễn Đình Diệm đã dịch bài này như sau:

“Thấy nghĩa không làm dũng để chi? Hiếu trung là phận của nam nhi

Tử sinh sá kể thân này đã Riêng nhớ nhà huyên nỗi tuyết ti.”

Thật tình mà nói, sĩ phu có khí khái đất phương Nam thời Pháp mới lấn chiếm Nam Kỳ ai ai cũng đều mang nặng lòng trung quân ái quốc như Tri Phủ Hồ Huấn Nghiệp. Nhưng vận nước đã tới hồi mạt vận, nên trang sử Pháp Thuộc đã mở ra khiến cho dân chúng cả nước phải lầm than trong gông cùm Thực dân Pháp trong suốt gần một thế kỷ, mà hậu quả của nó vẫn còn âm ỉ cho tới ngày nay.

Ghi Chú:

(1)      Dưới thời nhà Nguyễn, chức Ký Lục tương đương với Tuần Phủ.

                                          ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn