Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000096
Số lượt truy cập
19292702
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-09-02 04:33:29

14) Nhà Thơ Yêu Nước Lê Văn Tất(1917-1964)

Lê Văn Tất sanh năm 1917 tại làng Long Sơn, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc tỉnh An Giang, con ông Lê Văn Diêu và bà Đặng thị Huê. Cha mất sớm, nhà nghèo, nhưng mẹ cố gắng cho ông đi học xong bằng Thành Chung. Năm 1939 ông bắt đầu đi dạy học ở Tân Châu. Đến năm 1940, ông đảm nhiệm Vườn Thơ báo Tân Tiến ở Sa Đéc. Ông tu tại gia trong nhóm Liên Hoa ở Thiên Thai Am trên núi Sam, Châu Đốc với Đạo hiệu và bút hiệu của ông là Thần Liên, có nghĩa là Sen Mai. Toàn thể những đạo hữu nhóm Liên Hoa đều lấy đạo hiệu bắt đầu bằng chữ Liên, có nghĩa là hoa sen.

Năm 1941, ông cho đăng bài thơ “Cái Võng Bố” trên báo Tân Tiến và bị chính quyền thực dân Pháp tại Sa Đéc bắt cầm tù. Đến năm 1942, ông phải tránh sang Cam Bốt và Thái Lan để tránh sự theo dõi gắt gao của mật vụ Pháp. Năm 1945, ông trở về quê nhà và tham gia kháng chiến. Năm 1947, ông lên Sài Gòn và vào làm công chức cho Tòa Đô Chánh. Năm 1950, ông đảm nhiệm vườn thơ Tạp Chí Sài Gòn, tiếp tục làm thơ chống lại sự thống trị của thực dân. Chẳng may đến năm 1955 ông bị tai nạn xe hơi và bị liệt đôi chân.

Sau khi Việt Nam đã thu hồi nền độc lập, nhưng lại bị chia cắt Bắc Nam nên ông bỏ về quê Tân Châu để sống đời ẩn dật. Từ đó, ông ít tiếp xúc với ai, chỉ ở nhà mở lớp dạy làm thơ. Năm 1958, ông thành lập thi đàn “Sơn Hải Nguyệt Phong Vân” ở Châu Đốc. Đồng thời nhóm thơ của ông cũng thành lập “Bạch Hoa Viên(1)”. Từ năm 1955 đến năm 1964, thân thể của ông ngày càng trở nên yếu hơn, nên không còn lên xuống xe lăn để di chuyển được nữa, nên ông nằm luôn trên giường bệnh làm thơ và vẽ tranh.

Thần Liên Lê Văn Tất làm thơ từ thời tiền chiến(2), nhưng thời đó, ông chỉ làm một số thơ có ý chống lại sự thống trị của người Pháp. Trên các mặt báo, người ta thường gọi ông là “nhà thơ tàn phế” miền Hậu Giang. Về sau này, những nhà phê bình thơ thì gọi ông là “nhà thơ đạo đức và tình cảm”. Tính đến năm 1964, ông đã cho ra đời những tác phẩm sau đây: Tiếng Lòng (1957), Bến Ngân Hà (1959), Thần Liên Thi Tập(3) (1960), Em Đốt Lá Rừng (1962), truyện diễn ca Sương Gió Biên Thùy(1963). Ngoài ra, nhà thơ Lê văn Tất còn viết một số sách văn xuôi sau đây: 1) Niêm Luật Đường Thi (1957), 2) Sự Tích Miễu Bà Núi Sam (1958), 3) Sự Tích Chùa Tây An Và Mộ Phật Thầy (1959), 4) Đức Phật Thầy Chuyển Kiếp (1960), 5) Sự Tích Lăng Ông Núi Sam (1961), 6) Pháp Môn Hành Đạo Của Đức Phật Thầy (1962), 6) Cảm Nghĩ Của Người Tàn Phế Làm Thơ (1964). Ông qua đời vào năm 1964 tại Tân Châu.

Ghi Chú:

(1)          Nhóm Bạch Hoa Viên là nhóm vườn thơ lộ thiên trên Núi Sam, Châu Đốc. Vì trong khuôn viên nơi nhóm này họp bạn có trồng nhiều loại hoa trắng, nên đặt tên là Bạch Hoa Viên.

(2)          Ở Việt Nam, khi nói đến thời tiền chiến là nói đến khoảng thời gian trước năm 1945, nghĩa là trước khi đệ nhị thế chiến kết thúc.

(3)          Thần Liên Thi Tập gồm 16 quyển: 1) Lời người tàn phế, 2) Mơ bóng mẹ hiền, 3) Bức tâm thơ, 4) Thằng câm ăn ớt, 5) Tôi đã gặp cụ Đồ Chiểu, 6) 15 phút với Hàn Mặc Tử, 7) 20 phút với Tản Đà,

8)         Hộc Sơn nhập cảnh, 9) Hương Xuân, 10) Lá thu vàng, 11) Nhơn sanh thích chí, 12) Bức tranh vân cẩu, 13) Lấy vợ không kiêng, 14) Từ Thứ vuốt râu, 15) Tôi đến cung trăng, 16) Giấc mộng huyền.

 

CHƯƠNG HAI MƯỜI BA

 

Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888):

Nhà Thơ Yêu Nước

 

Nguyễn Đình Chiểu, tục gọi là Đồ Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sanh ngày 13 tháng 5, năm Nhâm Ngọ, 1822 tại thôn Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, tức khu Hóc Môn Bà Điểm ngày nay(1). Về sau này khi người Pháp đã lấn chiếm toàn bộ vùng đất phương Nam thì ông đổi hiệu lại là Hối Trai. Ông là một trong những cao sĩ nổi tiếng của vùng đất phương Nam hồi hậu bán thế kỷ thứ XIX. Tân Thới là làng quê của mẹ ông, cha ông là Nguyễn Đình Huy, gốc người Thừa Thiên, vào Nam làm thư lại trong dinh Tổng Đốc Gia Định, mới cưới mẹ ông là bà Trương thị Thiệt làm thứ thiếp(2). Sau khi đức Tả Quân Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng vì giận Tả Quân ngày trước đã không ủng hộ cho mình lên ngôi vua, nên quyết chí báo thù. Nhà vua đã cho truy cùng xét tận đến những lỗi lầm nhỏ nhặt nhứt của Tả Quân mà hành tội. Do đó, theo lệnh Minh Mạng, để trị tội Tả Quân, mộ của ông bị san bằng bị xiềng lại. Người con nuôi đầy nghĩa khí và chí hiếu của Tả Quân là tướng Lê văn Khôi vì quá uất ức mà khởi lên làm loạn. Hầu hết dân chúng trong vùng đều hưởng ứng theo Lê Văn Khôi đứng lên chống lại sự bạo ngược của nhà vua. Đây là một cuộc khởi nghĩa vô cùng táo bạo và chớp nhoáng. Lê văn Khôi chiếm ngay thành Gia Định và giết hết những tên tham quan ô lại.

Thuở nhỏ, ông theo cha ra Huế học tập nên ngay từ nhỏ ông đã làu thông tứ thư ngũ kinh. Lúc cha ông là cụ Nguyễn Đình Huy đang làm một chức quan nhỏ trong thành thì Lê Văn Khôi khởi binh chống lại triều đình, vì thế mà cha ông bị kẹt giữa hai thế lực, không biết nên theo về với Lê Văn Khôi hay chạy theo những tên tham quan ô lại kia. Cuối cùng, cha ông quyết chẳng theo ai, mà đưa gia đình ra Huế lánh nạn. Khi hay sự việc các quan lớn nhỏ cùng bỏ thành Gia Định chạy về Huế, liền hạ chiếu xử tử những vị này. Tuy nhiên, nhờ một số cận thần can thiệp, nhà vua đồng ý xá tội cho họ quay trở lại Gia Định. Ít lâu sau thì cụ Nguyễn Đình Huy qua đời. Năm Quí Mão, 1843, tại trường thi Gia Định, có 15 người đỗ cử nhân, nhưng Nguyễn Đình Chiểu chỉ đỗ Tú Tài. Sau khi thi đậu, lúc ấy Nguyễn Đình Chiểu đã được 22 tuổi, nên gia đình đã cho ông đính hôn với một gia đình họ Võ rất khá giả tại vùng Cầu Kho ngày nay.

Sau khi nghe lời khuyên của người anh tên là Đình Lân, con của dòng trưởng, ông ra Huế học tập chờ khoa thi. Năm Mậu Thân, 1848, gần tới kỳ thi thì ông được tin mẹ đã qua đời từ tháng chạp năm trước. Ông vội vã rời kinh trở về Gia Định. Ngày trước đường thiên lý khó đi lại thêm buồn đau mất mẹ, nên ông nhuốm bệnh, bệnh mỗi ngày một nặng nên ông phải ghé lại Quảng Nam tìm thầy chữa trị. Phần thì nóng lòng muốn sớm về thọ tang mẹ, phần thì bệnh hoạn mà lại hết tiền chữa trị, nên ông đâm ra u uất và khóc mãi đến nỗi phải mù cả hai mắt. Sau đó thì ông được giúp đưa về Tân Thới cư tang cho mẹ, rồi từ đó phải sống trong cảnh thiếu thốn. Sau khi mãn tang mẹ, gia đình nhà gái thông báo cho biết là họ từ hôn. Vì nhân tình thế thái thời buổi loạn ly, họ không muốn gả con cho một người thất cơ lỡ vận lại mù lòa. Có lẽ đây chính là tất cả những tình cảnh của chính mình mà cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu đã đem vào gói ghém trong áng văn Lục Vân Tiên. Tuy nhiên, trong truyện thì chàng hàn sĩ mù lòa lại được một nàng tiên cứu giúp, ban cho chàng mấy viên linh đơn khiến cho đôi mắt chàng sáng trở lại như bình thường. Đây cũng chính là ước mơ của cụ đồ Chiểu, vì trên thực tế, cụ đã không có được cái diễm phúc này. Hơn nữa, ngày ấy nền y khoa hãy còn quá phôi thai, không thể làm được chuyện này(3).

Đến năm 1851, sau khi tinh thần đã được ổn định, cụ kết hôn với một thôn nữ trong làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, thuộc Gia Định. Đó là cô Năm Điền, em ruột của ông Lê Tăng Quýnh, một môn sinh thân tín của cụ đồ Chiểu. Gia đình ông Lê Tăng Quỳnh sẵn sàng chấp nhận một chàng rể mù loàn mà có nghĩa khí. Sau tất cả những phủ phàng ập tới cuộc đời mình, cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu rồi cũng dần dần ổn định lại tinh thần, cụ mở trường dạy học nên có danh là Đồ Chiểu. Chính trong khoảng thời gian này hai tác phẩm Lục Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu được ra đời. Năm Mậu ngọ, 1858, liên quân Pháp Tây Ban Nha hạ thành Gia Định, cụ lại phải một phen chạy khỏi Gia Định. Thật tình mà nói, cụ đồ Chiểu quả là có một tinh thần mạnh mẽ, chứ theo thói thường, những người lâm cảnh hoạn nạn như cụ chắc đã phải ngã gục, chứ đâu còn hơi sức để sáng tác ra được những áng văn tuyệt tác trong cảnh mù lòa túng thiếu. Cụ đã tự an ủi và bộc lộ tính khí khẳng khái của chính mình qua hai câu thơ sau đây:

“Sự đời thà khuất trong đôi mắt. Lòng đạo xin tròn một tấm gương.”

Nhưng đến năm 1859, Tây vào đánh Gia Định, nên cụ đồ lại phải tản cư về quê vợ ở Cần Giuộc. Lúc ấy cụ đồ Chiểu rất đau lòng trong cơn quốc phá gia vong. Dầu Gia Định thất thủ, nhưng tại Cần Giuộc, nghĩa binh lại đánh úp và chiếm được đồn, và phải hy sinh 15 nghĩa sĩ. Lúc đó quan Tuần Phủ Đỗ Quang ra lệnh cho ông Bùi quang Diệu tổ chức lễ truy điệu các anh hùng trận vong tại đó. Cụ đồ Chiểu đã hợp tác với ông Bùi quang Diêu với hết tâm huyết của mình, cụ đã viết lên bài “Văn Tế Vong Hồn Mộ Nghĩa.” Dưới đây chỉ xin đề cử một đoạn vô cùng cảm động: Nhớ Linh Xưa

“Cui cút làm ăn, riêng lo nghèo khó,

Chưa quen cung ngựa, đậu tới trường nhung, Chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng hộ,

Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ,

Ngọn đèn khuya leo lét trong lều,

Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, Cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, Danh thơm đồn sáu tỉnh đều khen, Thác mà ưng đình miểu để thờ,

Tiếng hay trải, muôn đời ai cũng mộ.”

Năm Tân Dậu, 1861, Cần Giuộc lại thất thủ về tay Pháp, ông dời đến khu chợ Ba Tri, thuộc tỉnh Kiến Hòa và lại mở trường dạy học. Ông bắt đầu có thú ngâm vịnh và sáng tác thi thơ từ đó. Sau khi Pháp chiếm trọn miền Nam, nhiều lần có những viên quan Pháp đến ngỏ ý cấp dưỡng tiền bạc cho cụ, và hứa đủ thứ dễ dãi để cụ tiếp tục ở lại Cần Giuộc, nhưng cụ không nhận, mặc dầu gia đình ông đang lâm vào cảnh túng quẩn. Cụ cương quyết rời bỏ quê vợ Cần Giuộc để tản cư về Ba Tri. Chúng ta thấy nỗi buồn u uất của cụ khi phải rời xa Cần Giuộc:

“Vì câu danh lợi phải đi ra, Day mũi thuyền nan dạ xót xa.

Người dễ muốn chi nương đất khách, Trời đà muốn vậy mến vua ta.

Một phương thà tránh đường gai góc Trăm tuổi cho tròn phận tóc da Chén rượu đỏ lòng xin cạn chén Nhớ nhau, ngày khác biết sao mà!”

Sau khi đến Ba Tri, cụ vẫn tiếp tục dạy học, và thỉnh thoảng có liên lạc với Lãnh Binh trương Định, bấy giờ đang lập căn cứ kháng chiến chống Pháp ở Gò Công. Tình hình đất nước ngày càng trầm trọng, vì đôi mắt mù lòa không thể xông pha nơi chiến trận để làm nghĩa vụ thân trai thời loạn, đánh đuổi quân thù trong cơn quốc phá gia vong, nhưng ông luôn giữ vững niềm tin và kỳ vọng vào công cuộc kháng chiến của nghĩa quân khắp nơi, nhất là cuộc kháng chiến của người bạn ông là Trương Định. Đến năm 1867, thành Vĩnh Long thất thủ, rồi cả miền Nam rơi vào tay Pháp, quan Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản uống thuốc độc tuẫn tiết. Lúc ấy viên tỉnh trưởng Pháp tên Michel Ponchon đã bốn lần xin ra mắt cụ. Nhà cầm quyền Pháp đương thời muốn đem đặc quyền đặc lợi ra chiêu dụ cụ, nhưng cụ nhất định từ khước, cố giữ phẩm cách thanh cao cho đến ngày nhắm mắt lìa đời. Michel Ponchon biết là không chiêu dụ được cụ đồ, nhưng dụng ý của hắn là muốn gây cảm tình để xoa dịu phần nào sự chống đối của quần chúng, nhưng cụ đều từ chối. Thấy không xong, Michel Ponchon chỉ yêu cầu cụ duyệt lại bản in Lục Vân Tiên do quan chủ tỉnh Bến Tre ấn loát, xem coi có đúng với ý cụ hay không. Ngoài ra, Michel Ponchon còn hứa trả lại cho cụ sở đất của dòng họ Nguyễn Đình ở Gia Định. Cụ đã lắc đầu đáp: “Đất của triều đình còn bỏ, huống gì là phần đất của riêng ta được hưởng!”

Đang trong cảnh cơ hàn túng thiếu, còn nhiều nữa những ông quan Tây khác lại dùng tiền bạc và địa vị để mua chuộc cụ. Nếu như gặp người thiếu ý chí, tham danh tham lợi, thì chắn hẵn chúng ta sẽ không có một Đồ Chiểu vang danh mãi cho đến ngày nay. Nguyễn Đình Chiểu là một bậc xứng danh sĩ phu quân tử. Dầu trong bao nhiêu nghịch cảnh, cụ vẫn giữ tiết tháo của một kẻ sĩ đúng nghĩa của nó. Sau khi đã cho ra đời áng văn Lục Vân Tiên, cụ lại tiếp tục sáng tác, và một tập truyện trứ danh khác lại được ra đời: “Dương Từ Hà Mậu,” đề cao tiết tháo Khổng Mạnh.

Cụ đồ Chiểu chính là tác giả của tập truyện Lục Vân Tiên, gồm 2.076 câu lục bát. Có lẽ cụ muốn mượn tập truyện này để gởi gấm tâm trạng, nỗi lòng và ước nguyện của chính mình trong cơn quốc phá gia vong, cũng như đem đạo nghĩa để khuyên răn người đời sống sao cho phải đạo. Sách được in ra bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên tại Sài Gòn vào năm 1867, do một người Pháp tên là J. Janneau sao lục, chú thích và ấn loát(4). Về sau này, vào năm 1889, Trương Vĩnh Ký lại cho tái bản với sự chú thích rõ ràng hơn của mình. Đến năm 1885, một người Pháp tên là Eugène Bajot đã phát tâm phiên dịch tác phẩm Lục Vân Tiên sang Pháp ngữ, sách được ấn hành tại Ba Lê vào năm 1887 với nhan đề là “Histoire du grand lettré Louc-Van-Te-ien”.

Ngoài ra, ông còn một số văn vần như Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều Vấn Đáp, cùng nhiều thi ca và văn tế bằng chữ Nôm, như bài thơ “Sĩ, nông, công, thương”, “Thơ điếu Trương Công Định”, và một số bài văn tế nổi tiếng như bài “Văn Tế Sĩ Dân Lục Tỉnh”, “Văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc” và “Văn Tế Vong Hồn Mộ Nghĩa”, vân vân. Trong các tác phẩm của mình, ông thường tỏ ra suy tư cho thế sự và thường đem những điều đạo nghĩa ra khuyên đời. Trong Ngư Tiều Vấn Đáp trang 341-342, những vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu, dầu là lấy điển tích theo truyện Ngư Tiều Vấn Đáp của Trung Hoa, nhưng cụ Đồ Chiểu muốn gửi gắm tâm sự của mình trong đó. Trong Ngư Điều Vấn Đáp, cụ Đồ Chiểu tự ví mình như những ngư tiều, thà chịu đui mù mà giữ được đạo nhà; thà đui để không thấy những cảnh trái tai gai mắt. Truyện kể khi vua Trung Hoa bị quân Khiết Đan đánh bại, nên đành phải cắt đất U Uyên nhường cho Khiết Đan, những hào kiệt đất U Uyên không chịu làm tôi cho người Khiết Đan, tức nhà Liêu, đều đồng loạt ra làm ngư tiều. Trong số này có hai vị muốn dẹp luôn cả lưới rìu tầm sư học đạo. Nhân đó biết rằng có trang quốc thủ là Kỳ Nhân Sư tự hủy diệt đôi mắt của mình. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, tâm sự của cụ Nguyễn Đình Chiểu không khác nào tâm sự Kỳ Nhân Sư. U Uyên của Kỳ Nhân Sư bị cắt cho giặc Khiết Đan cũng giống như vùng Đồng Nai của cụ Đồ Chiểu bị cắt cho giặc Pháp. Kỳ Nhân Sư chẳng phục Khiết Đan, nên ẩn mình vào Thiên Thai; trong khi cụ Đồ Chiểu bỏ vùng Đồng Nai-Gia Định để chạy về Bến Tre để xa lánh tân trào. Cũng như Kỳ Nhân Sư, trong Ngư Tiều Vấn Đáp, cụ Đồ Chiểu vẫn hy vọng sẽ có một trận mưa nhuần rửa núi sông, ngưng bặt gió Tây và ngày đó trời đất sẽ yên:

Thà cho trước mắt mù mù,

Chẳng thà ngồi ngó kẻ thù quan thân. 

Thà cho trước mắt vô nhân,

Chẳng thà ngồi ngó sinh dân nghiêng nghèo. Thà cho trước mắt vắng hiu,

Chẳng thà thấy cảnh trời chiều phân xâm. Thà cho nước mắt tối hầm,

Chẳng thà thấy đất lục trầm can qua. Dù đui mà giữ đạo nhà,

Còn hơn có mắt ông cha chẳng thờ. Dù đui mà khỏi danh nhơ,

Còn hơn có mắt ăn nhơ tanh rình.

......

Sáng chi theo thói tha cầu,

Dọc ngang chẳng đoái trên đầu có ai! Sáng chi sàm nịnh theo đời,

Nay vinh mai nhục mang lời thị phi. Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi,

Thảo ngay chẳng biết lỗi thì thiên luân.

 

Sự đời thà khuất đôi tròng mắt, Lòng đạo cho tròn một tấm gương.

......

Ngày nào trời đất an ngôi cũ, Mừng thấy non sông bặt gió Tây.

Nguyễn Đình Chiểu quả là một tấm gương sáng của một cụ đồ trong cơn quốc phá gia vong. Con người tài ấy tài ba biết dường nào, thế mà vận nước ngữa nghiêng nên ông buồn vì chẳng những không đem tài trí của mình ra giúp nước giúp dân, mà cũng chẳng làm gì được để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi nước, thôi thì mượn lấy ngòi bút này những mong giúp ích cho đàn hậu bối được phần nào hay phần ấy. Đàn hậu bối chúng ta phải thấy được sự sắc bén nơi ngòi bút của ông để nếu được góp phần nào trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Bên cạnh đó, cụ Đồ Chiểu chẳng những mượn ngòi bút của mình để gửi gắm tâm sự của chính mình, mà cụ còn thẳng thừng đâm mấy thằng gian, với ngòi bút của mình, cụ đã mắng thẳng vào mặt của bọn Việt gian tay sai bán nước hại dân:

“Chở bao nhiêu Đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà.”

......

Sống làm chi theo quân tả đạo,

Tung vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà,

Chia rượu ngọt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

 

Ngoài những áng văn thơ yêu nước, cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu còn sáng tác những áng văn chương tuyệt tác, xứng đáng được đứng chung trong hàng ngũ những văn hào của đất nước trong nền văn học nước nhà. Lục Vân Tiên là một trong những áng văn tuyệt tác đó:

“Hỡi ai! Lẳng lặng mà nghe,

Dữ răn việc trước, lành dè thân sau: Trai thì trung hiếu làm đầu,

Gái thì tiết hạnh, làm câu trau mình.”

Bốn câu thơ dạo đầu của áng văn Lục Vân Tiên đã trở thành ca dao , thành ngạn ngữ, được phổ biến không riêng ở vùng đất phương Nam, mà trong cả nước từ Bắc chí Nam, đâu đâu cũng nghe dân gian ngâm nga những vần thơ Lục Vân Tiên, bình dị mà thâm thúy, giản đơn mà đầy tính đạo đức luân lý. Phải nói một thuở ai ai cũng thuộc Lục Vân Tiên, v

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn