Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000127
Số lượt truy cập
19292653
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-08-30 05:31:19

Ghi Chú:

(1)          Bà còn có tên là Nguyễn Xuân Khuê, tục danh Cô Năm Khuê hay Cô Năm Hạnh. Thân mẫu của bà là bà Lê thị Điền, quê quán tại Cần Giuộc, tỉnh Long An.

(2)          Bút danh mà bà thường sử dụng khi viết báo là Nguyệt Anh. Sau khi chồng bà qua đời, bà trở thành sương phụ, nên từ đó lấy chữ “Sương” đặt ngay trước bút danh thành Sương Nguyệt Anh. Do sự lầm lẫn nào đó, nhiều người đổi chữ Anh ra chữ Ánh, rồi gọi bà là Sương Nguyệt Ánh, mặc dầu có sự lên tiếng của nhiều bậc thức giả, nhưng người bình dân vẫn tiếp tục gọi như vậy riết rồi thành quen.

(3)          Những chữ viết nghiêng trong bài thơ này là tên các vị thuốc Bắc.

(4)          Hòa ước Nhâm Tuất ký ngày 9 tháng 5 năm 1862, nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông, bà chào đời ngày 24 tháng chạp năm 1863. Thuở nhỏ, cô năm Sương Nguyệt Anh đã cùng người chị thứ tư của mình là bà Nguyễn thị Kim Xuyến được cha là cụ Đồ Chiểu truyền dạy cho chữ Hán ngay tại trường ở nhà. Cả hai chị em đều rất thông minh, giỏi cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Nổi tiếng tài sắc, người quanh vùng luôn ca tụng là Nhị Kiều. Nhưng so sánh về văn chương thì cô năm Sương Nguyệt Anh trội hơn cô tư Kim Xuyến, và thường được cha khen ngợi.

(5)          Nữ Giới Chung có nghĩa là tiếng chuông của nữ giới.

(6)          Người con gái của bà lấy chồng tên là Mai lương Ngọc. Sau khi sanh được một đứa con gái tên là Mai Huỳnh Hoa thì qua đời. Bà Sương Nguyệt Anh phải nuôi đứa cháu ngoại sớm mồ côi mẹ. Khi lớn lên, Mai Huỳnh Hoa kết duyên cùng nhà chí sĩ cách mạng Phan Văn Hùm, sanh ra Phan Tùng Mai, sau này trở thành kịch tác gia, với 2 vở kịch nổi tiếng: Người Mua Mộng và Người Giết Tần Cối. Phan Tùng Mai từng được chánh phủ VNCH trao giải thưởng văn học nghệ thuật toàn quốc trước năm 1975. Sau đó sang Hoa Kỳ và mất tại đó.

(7)          Ông Nguyễn Đình Chiêm là tác giả của tuồng Phấn Trang Lầu.

(8)          Tập sách Yên Sơn Ngoại Sử này dịch từ Hán ra Quốc ngữ bằng các thể thơ lục bát Đường luật, vân vân, nhưng hiện nay đã bị thất lạc.

 

11) Võ Văn Sâm(1868-?)

Ông Võ Văn Sâm sanh năm Mậu Thìn 1868 tại xã Thái Bình, Châu Thành Tây Ninh. Gia đình ông là gia đình Nho học truyền thống, cha ông là cụ Võ Văng Còn, một nhà Nho có tiếng trong vùng, nhưng khi lớn lên, ông Võ Văn Sâm lại theo học chữ Hán với cụ Nguyễn Văn Bình, hương văn của xã Ninh Thạnh, Tây Ninh. Đến năm 20 tuổi, do sự bắt buộc của chánh quyền thực dân, nên ông phải chuyển qua học Pháp văn(1). Tuy nhiên, ông Sâm chỉ học đến hết chương chương trình tiểu học Pháp trong 3 năm, rồi ra làm giáo chức năm 1891, lúc đó ông mới 23 tuổi. Sau đó, ông xin nghỉ dạy và ra làm thơ ký cho Ty Công Chánh Tây Ninh, nhưng cũng chỉ làm việc tại đó được 5 năm, rồi xin nghỉ luôn. Sau đó, ông quay sang viết báo cho các tờ Nông Cổ Mín Đàm, Gia Định Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, vân vân. Ngay trước cửa nhà ông treo một tấm bảng đề “Đặt thi phú văn từ và làm đơn mướn”. Với nghề này cũng đủ cho ông sống một đời bình dị.

Vì ông đã từng làm thầy giáo, nên người đương thời lúc đó gọi ông là giáo Sâm, hoặc có khi chỉ gọi là Võ Sâm. Tánh khí ông cương trực, ngay thẳng và ghét cay ghét đắng sự tà vạy. Ông thường mặc áo dài đen, quần trắng, giày bố trắng, và không bao giờ mặc âu phục trong bất cứ lễ lạc nào. Cụ là một trong những thi nhân nổi tiếng thời đó, có tài xuất khẩu thành thơ, niêm vận chính xác, mà lại vô cùng lưu loát. Điểm đặc biệt nhất là ông hay làm thơ châm biếm những kẻ mãi quốc cầu vinh, ăn cơm của dân mà lại đi thờ giặc Tây. Càng về già cụ càng cảm thương cho vận nước nên con người càng tỏ ra thất đắc chí. Thật vô cùng cám cảnh cho một danh sĩ tài ba mà phải sống trong trạng huống “sống không ra sống, mà chết cũng chẳng ra chết” trong cơn quốc phá gia vong.

Ghi Chú:

(1)          Chính quyền thực dân Pháp bắt buộc thanh niên phải theo học Pháp văn để sau này ra làm việc cho họ.

 

12) Nguyễn Cư Hiến(1895-1933)

Nguyễn Cư Hiếu tự Quốc Biểu, sanh năm 1895 tại Sóc Trăng. Ngay từ lúc nhỏ, ông đã theo chân người cha nuôi làm thầy giáo đến Tây Ninh, khi vị này được thuyển chuyển đến đó. Đến 7 tuổi, ông được vào học tại trường tỉnh Tây Ninh. Ông là một trong những học sinh thông minh và giỏi nhất trong tỉnh thời đó. Vì gia cảnh khó khăn, nên khi vừa đậu xong bằng sơ cấp, ông đã xin vào làm việc tại Bưu Điện Sài Gòn. Trong khi đi làm ông vẫn tiếp tục tự học, nên dầu chỉ học hết bực sơ cấp, mà khả năng của ông laị hơn hẳn những người đã đỗ bằng Thành Chung. Ngoài ra, ông cón tự học và thông thạo Hán văn.

Thời đó, ông thường liên lạc với những người yêu nước khác như Đào Châu, Lâm Hoài Nghĩa, Bồng Dinh và Nguyễn An Ninh... Ông thường làm những bài thơ có ý làm thức tỉnh lòng dân để họ có thể đứng lên chống Pháp. Lúc này các sĩ phu đứng lên lập văn đàn, ông Đào Châu làm một thơ mừng văn đàn và kêu gọi anh em đoàn kết. Có nhiều thi sĩ xướng họa với bài thơ kêu gọi nầy, nhưng bài của ông Nguyễn Cư Hiến là tuyệt tác:

“Phỉ lòng ao ước bấy lâu nay, Gặp hội văn thi quá đỗi may. Mày gốc rậm xin người gắng chí, Vạch mây trời cầu bạn ra tay. Vườn đào vun quén hoa thêm lịch, Đàn hạnh gội nhuần trí hóa hay. Thanh thế hạc bầy kêu rạp tiếng, Nước non riêng thú! biết là ai?”

Lời thơ tuy nhẹ nhàng, nhưng cương nghị, những sĩ phu yêu nước hãy cố vạch mây mù để cho ánh mặt trời soi sáng cả sơn hà. Ông cũng khuyên mọi người hãy ráng như những hào kiệt Lưu Quan Trương kết nghĩa nơi vườn đào đồng thề sống chết, cùng nhau cố gắng mày dũa, lâu ngày gốc cây cũng phải tróc. Mọi người cùng đứng lên chống xâm lăng thì nước non này phải là của chúng ta, chứ không là của ai khác nữa.

Sau khi vua Thành Thái bị Pháp bắt và lưu đày, ông đã làm bài thơ “Cọp Vườn Thú” mà ngay những sĩ phu Bắc Hà cũng phải hết lòng khen ngợi. Bài thơ có nội dung như sau:

“Xưa ở lâm sơn lắm vẫy vùng, Nay về theo thế cực lòng vung. Dấu nanh bởi mắc trong lòng sắt, Hổ mặt vì mang tiếng chúa rừng. Dây sắt luống đeo mình khó nhọc, Tấm da thà để tiếng oan ưng.

Hỏi ông có nhớ rừng xưa tá! Chẳng nhớ mà sao mắt ngó chừng.”

Đầu thế kỷ thứ XIX, khi người Pháp đã đặt xong nền tảng đo hộ, các sĩ phu không còn cách nào có thể tự mình nổi lên chiến đấu hay kháng chiến chống Pháp, nên kể từ đó họ mượn thi văn để thức tỉnh dân chúng đứng lên chống Pháp. Ông Nguyễn Cư Hiến cũng đã tham gia vào các tổ chức cách mạng của ông Nguyễn An Ninh, nên đi đâu đến đâu, ông cũng bị bọn mật thám Tây theo dõi. Nên ông phải đến mua một miếng đất nhỏ nơi vùng Suối Độn, đường lên núi Bà Đen, nhưng cũng không tránh được tay mắt của đám Việt gian, nên ông và một nhà chí sĩ cách mạng khác là ông Nhất Thiện cùng nhau lên Đảnh Bạc, tức ngọn núi Bà Đen, cất am tu tập để che mắt bọn mật thám. Nhưng Ty Mật Thám Tây Ninh lại cho người giả làm khách thập phương vãng cảnh để theo dõi. Trước tình thế bị theo dõi quá gắt gao, ông Nguyễn Cư Hiến lại đi vào vùng rừng núi, vì phải rày đây mai đó và thiếu ăn thiếu uống, cũng như thiếu hẳn mọi thứ vật chất khác, nên ông lâm trọng bệnh và qua đời ngày 28 tháng 10, năm 1933. Thi hài ông được đem về an táng tại xã Ninh Thạnh, Tây Ninh.

 

13) Mai Văn Ngọc

Sau khi giặc Pháp đã chiếm toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ, có nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp nổi lên khắp nơi, nhưng vì thế cô sức yếu, lại không có sự hậu thuẫn của triều đình Huế nên các cuộc kháng chiến trên vùng đất phương Nam từ từ tan rã. Lúc bấy giờ có rất nhiều người không khứng sống dưới ách nô lệ của Tây nên rút lui về những vùng quê hẻo lành sống ẩn dật để mong đợi có thời cơ quật khởi, nhưng nổi bậc hơn hết là cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu, Nhiêu Phang Mai Đằng Phương, Nhiêu Tâm Đỗ Minh Giám... Về sau lại có thêm một vị ẩn sĩ mà khí tiết cũng không kém gì cụ Đồ Chiểu, đó là ẩn sĩ Mai Văn Ngọc. Ông là một sĩ phu có tiết tháo với phẩm cách trong sáng rất đáng được đề cao.

Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu về tiểu sử của ông Mai Văn Ngọc, chỉ biết ông là người Định Tường, rể của nữ sĩ Sương Nguyệt Anh(1). Bà Sương Nguyệt Anh thấy được khí tiết nơi con người Mai Văn Ngọc, nên đã gả đứa con gái duy nhất của mình cho Ngọc. Hai vợ chồng Mai Văn Ngọc chỉ sanh một đứa con gái mới lên 3 thì vợ ông qua đời(2). Dầu không có nhiều tài liệu về Mai Văn ngọc, nhưng chúng ta có thể thấy Phan Văn Hùm đã chịu ảnh hưởng thế nào nơi nhạc phục của mình trên con đường kháng chiến chống Pháp của ông. Không có tài liệu nào ghi về năm sanh và năm mất của ông, chỉ biết ông thuộc về một thế hệ sau bà Sương Nguyệt Anh, và một thế hệ trước Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm.

Về sau nầy, trong tuần báo Hòa Đồng số 68 ra ngày 14 tháng 5 năm 1966, học giả Hồ Hữu Tường có viết về chí sĩ Nguyễn An Ninh, có nhắc đến đoạn Nguyễn An Ninh xuống Mỹ Tho để tìm các bạn đồng chí hướng. Tại đây ông Ninh rất vui mừng khi gặp được ẩn sĩ Mai Văn Ngọc. Hồ Hữu Tường viết: “Cha mẹ của Mai Văn Ngọc là ai, thật ra không có ai được rõ. Khi Ngọc còn là xích tử, thì có một người đàn bà ẵm Ngọc đến một nhà có của, họ Mai mà cho. Không biết người đàn bà ấy có phải là mẹ của đứa bé hay không, nhưng lại dặn rằng, họ Mai nên nuôi nấng tử tế ngày sau đứa bé sẽ không nhiều thì ít làm rỡ danh cho họ Mai. Lúc đó, họ Mai chưa có con cái, bèn nhận trẻ ấy làm đứa con đầu lòng và sau này, thiên hạ gọi là Hai Ngọc. Lớn lên, Ngọc thông minh đĩnh ngộ, học chỉ chữ Hán, mà Hán học của Ngọc lẫy lừng từ Bắc chí Nam. Các bậc thâm Nho trong xứ đều đồng ý rằng Ngọc xứng đáng đứng đầu... nếu người Nam Kỳ được phép dự thi. Danh tiếng ấy đến tai bà Sương Nguyệt Anh, một nữ sĩ cũng nổi tiếng khắp nơi vì là con gái cụ Đồ Chiểu một phần nhỏ mà thôi, mà vì văn thơ và sĩ khí của bà làm cho ai cũng phải công nhận là có tài và có đức hơn hết trong giới nữ lưu. Sương Nguyệt Anh gọi Ngọc đến mà gả cho đứa con một, để được rể ký tài, ương giống quý để có chaú ngoại hay. Từ khi có vợ, Mai Văn Ngọc tự mình học chữ Pháp, học từ ngữ, văn phạm, học kết câu. Trong mấy năm, rành tiếng Pháp, nói tuy còn đớ giọng và không mau, nhưng khi viết văn thì rất hay, một cử nhân văn chương Pháp chưa dễ qua mặt nổi. Bởi học giỏi như vậy nen6 khắp xứ đều gọi tặng là thầy, mặc dầu không mở lớp, dạy học trò. Phật, Lão, Trang, Khổng, Mạnh, bách gia chư tử của phương Đông, các triết gia kim cổ của phương Tây, Mai Văn Ngọc thảy đều rành. Khi Phạm Quỳnh lãnh mệnh của toàn quyền Albert Sarraut để tổ chức tạp chí Nam Phong, thì Phạm Quỳnh dự tính để ở ngôi giám đốc tạp chí một người mà học thuật Đông Tây thảy làm cho cả nước kính nể. Cho nên Phạm Quỳnh từ Hà Nội vào Nam có ý muốn mời Mai Văn Ngọc nhận ngôi giám đốc tạp chí Nam Phong ấy. Trong quyển 'Một Thánh Ở Nam Kỳ', người ẩn sĩ mà Phạm Quỳnh tả với bao nhiêu sự kính nể nhưng không viết ra tên, người ấy chính là Mai Văn Ngọc.”

Như vậy, xuyên qua đoạn văn của Hồ Hữu Tường viết trong tuần bào Hòa Đồng, chúng ta có thể biết đầy đủ thêm về ẩn sĩ Mai Văn Ngọc. Tưởng cũng nên nhắc lại, có lần nhà chí sĩ Nguyễn An Ninh ghé lại nhà và hỏi ông về cảm nghĩ đối với các nhà tư tưởng cổ kim, Đông Tây, Mai Văn Ngọc đã trao cho Nguyễn An Ninh bốn câu như vầy:

“Thế sự bổn vô chân, ác, mỹ, Nhân sanh đồ tự vọng tham ô. Nhược giao đạo đức tùy nhân tạo, Tranh chấp tùng tư hữu sở do.”

Sau khi xem xong bốn câu trên, lòng kính ngưỡng của Nguyễn An Ninh đối với Mai Văn Ngọc càng nhiều hơn trước. Học giả Hồ Hữu Tường nhân đó đã viết: “Chỉ trong 28 chữ mà duy tâm, duy vật thảy bị vượt qua, ba vấn đề chân, thiện, mỹ mất giá trị tuyệt đối và nền tảng chắc chắn của nhân bàn được đặt.”

Phải thành thật mà nói, Mai Văn Ngọc chỉ là một trong nhiều trường hợp điển hình của những sĩ phu đất phương Nam sanh bất phùng thời, biết thế không tài nào dùng vũ lực để đánh đổ chế độ thực dân nên lui về ở ẩn. Hãy còn nhiều, nhiều lắm những sĩ phu yêu nước thương dân rất mặn mà như vậy mà trong khuôn khổ hạn hẹp của tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam, không thể nào tác giả có thể ghi lại hết tất cả được, nên chỉ ghi lại những trường hợp mà tác giả biết được, hay những trường hợp rất điển hình mà mình có được tài liệu. Tác giả mong rằng về sau này sẽ có nhiều nữa những con dân của vùng đất phương Nam tìm hiểu thêm những khí tiết và truyền thống hào hùng của cha anh mình, sẽ viết ra đầy đủ hơn về những hào kiệt của vùng đất tuy mới, rất mới đối với lịch sử gần năm ngàn năm của đất nước, nhưng lại là vùng đất mang đầy sinh khí cho cả dân tộc. Mong lắm Thay!!!

Ghi Chú:

(1)          Sương Nguyệt Anh là con gái của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu. Bà cũng là một nhà văn, một nhà thơ mà khí tiết cũng không kém gì cha mình.

(2)          Đứa con gái tên Mai Huỳnh Hoa, sau này trở thành phu nhân của nhà chí sĩ cách mạng Phan Văn Hùm.

                                                                                        ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn