Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000110
Số lượt truy cập
19292784
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-08-23 06:14:53

 

9) Tú Tài Trần Hữu Thường(1844-1921)

Trần Hữu Thường sanh năm 1844 ở làng Phú Thuận, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Ông sanh trưởng trong một gia đình tương đối khá giả nên được cha mẹ cho đến thọ giáo với cụ Huấn Đạo Nguyễn Văn Khuê. Đến đời Tự Đức, ông lên Gia Định ứng thí và đỗ tú tài(1), nhưng không ra làm quan cho tân triều, không hợp tác với thực dân Pháp, mà chỉ ở nhà mở lớp dạy học. Phải nói, thanh niên được đi học trên vùng đất phương Nam thời ấy đa số đều là học trò của cụ Tú Tài Trần Hữu Thường.

Cụ luôn giữ khí tiết của một sĩ phu trong cơn quốc phá gia vong, biết mình không làm gì được cho đất nước như các ông Thủ Khoa Huân, Trương Định, Thiên Hộ Dương, vân vân, nhưng quyết không làm điều gì gây tổn hại cho nhân dân. Thường nhựt, ngoài những lúc dạy học, cụ còn trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc sách, nhưng lại không thích làm thơ văn cho lắm. Đôi lúc có làm thơ thì cụ cũng chỉ lẩm nhẩm một mình chứ không cho ai sao chép lại. Chính vì vậy mà ngày nay hậu thế chúng ta không còn được mấy bào thơ của cụ. Tuy vậy, cũng có một số môn sinh của cụ vẫn ráng lén cụ chép lại một số bài liên hệ tới những giai thoại văn chương hay lịch sử. Điển hình là môn sinh Nguyễn Văn Nghị ở Tân Thuận, vùng Cao Lãnh, sau khi học xong với cụ Thường. được cụ cho phép trở về quê mở lớp dạy học trò. Một lần nọ, cụ Tú tái Thường đến thăm Nghị, trong lúc hai thầy trò đang vãng cảnh trên sông Cao Lãnh, trong lúc con thuyền đang lênh đênh trên dòng nước với mây trời bao la, cụ Thường đã cảm tác một bài thơ cho mọi người thưởng thức:

“Tân Thuận đường đi cách mấy làng, Xa xôi mỏi mắt ngó mê man.

Mịt mù khuất lấp vàm Trâu Trắng(2), Lúp xúp cây giăng rạch Đốc Vàng(3). Mưa tạnh bên trời mây chớn chở, Buồm treo mặt nước sóng lan chan. Cù Tây(4) nghĩ nhớ khuôn trời đất, Giục giã lòng trung ứa lá gan!”

Bài thơ vừa tả cảnh Tân Thuận giữa trờ nước bao la hữu tình, nhưng cũng man mác lòng trung quân ái quốc của một nhà thơ đang sống trong vòng kềm hãm của sự thống trị cay nghiệt của bọn thực dân ngoại chủng, khiến lòng người sĩ phu ứa gan quặn đau trong cơn quốc phá gia vong.

Vào năm 1913, sau khi nghe tin cụ Đề Thám bị ám sát và bị giặc Pháp đem bêu đầu tại chợ Nhã Nam, cụ tú tài Thường đã làm một bài thơ cảm tác như sau:

“Sông non gầy dựng kể từ đây, Xăng rối đâu xui sự thế này? Mối nước chạnh sầu nơi cửa Bắc,

Giềng trời nghĩ nhớ thuở phương Tây! Lân dần vàm khớp vùng ai dễ,

Rồng đợi mây mưa gặp vận bay. Cơ hội chừ thôi chi xiết nói, Đầy vơi e cũng lý vần xoay!”

Một lần khi đến thăm Rạch Giá, cụ tú tàiTrần Hữu Thường, nhớ lại thuở vị anh hùng Nguyễn trung Trực đã anh dũng đền nợ nước tại đây nên đã làm một bài thơ ngậm ngùi:

“Phong cảnh Long Xuyên đã biết rồi, Chợ như Rạch Giá khá nên vui. Cầu ngang già trẻ xăng qua lại, Biển rộng tàu bè thả ngược xuôi. Buổi sáng nhóm đông người lòn sắc, Ngày dài bán đủ vật nhiều mùi. Anh hùng lắm lúc còn roi dấu, Mấy lá gan trung luống ngậm ngùi!”

Khoảng những thập niên đầu thế kỷ thứ XX, người Pháp chỉ muốn cho người An Nam học chữ quốc ngữ để họ có thể tuyển dụng vào làm việc cho họ, nên đã tìm đủ mọi cách ngăn trở những vị thầy dạy chữ Nho. Lúc này, cụ Tú tài Thường chỉ còn dạy được khoảng vài mươi học trò mà thôi, nhưng cũng phải lén lút để tránh sự theo dõi của chính quyền địa phương. Khoảng năm 1912, có một ông chủ tỉnh người Pháp, vì mến tài của cụ Thường nên cho vời cụ dịch dùm bia văn của Thoaị Ngọc Hầu trên Núi Sam. Sau đó, viên chủ tỉnh hỏi cụ có muốn làm tri huyện hay không? Cụ đã khẳng khái trả lời rằng tôi chẳng muốn làm quan mà chỉ muốn được dạy chữ Hán để truyền tải đạo lý thánh hiền cho mọi người. Thế là từ đó cụ Tú tài lại được cho phép dạy chữ Nho cho thanh thiếu niên trong tỉnh. Cụ Tú tài Trần Hữu Thường qua đời vào năm Tân Dậu, 1921, thọ 77 tuổi.

Ghi Chú:

(1)          Bởi trong khuôn khổ hạn hẹp của tập sách này, tác giả không có đủ tài liệu nói về việc ông lên Gia Định ứng thí vào khóa nào, nhưng chỉ đoán rằng ông phải thi tú tài vào những năm giặc Pháp bắt đầu cho nổ những tiếng súng xâm lăng đầu tiên trên vùng đất phương Nam. Cụ tú tài Thường chắc hẳn cùng thời với các ông Thủ Khoa Huân, Tiến Sĩ Đạo, Tiến Sĩ Thông, vân vân.

(2)          Vàm Trâu Trắng tức vàm Phong Mỹ ngày nay. Tương truyền ngày xưa có bầy trâu trắng ở dưới nước, thỉnh thoảng hiện lên để kiếm ăn, nên từ đó dân chúng trong vùng gọi là vàm Trâu Trắng.

(3)          Rạch Đốc Vàng được đặt tên theo Đốc Binh Vàng, nơi đây có đền thờ của ông, thuộc quân Thanh Bình, Kiến Phong, ngày nay thuộc tỉnh Đồng Tháp.

(4)          Cù Tây là tên gọi của Núi Nổi hay Phù Sơn, chỉ cao độ 3 thước, diện tích chừng nửa mẫu tây, nằm trong xã Tân An, phía Tây giồng Trà Dên thượng chừng một cây số, cách bờ kinh xáng chừng hai cây số. Tại Núi Nổi hiện nay còn cây cột cờ và cái mỏ neo. Ngày xưa, chỗ này là một cù lao ngầm nằm ngay ở giữa sự gặp nhau của 2 dòng Tiền Giang và Hậu Giang, sau này người ta gọi cù lao này là Cù Lao Kết. Dưới thời các chúa Nguyễn, có một thương thuyền Hải Nam trên đường đi Nam Vang thì bị mắc cạn ngay tại đây, nên bây giờ vẫn còn hai di vật đó. Trên Núi Nổi còn có một cái giếng, nước rất trong và đủ xài cho suốt cả năm. Người dân địa phương cho rằng cái giếng này có mạch ăn thông với sông Cửu Long, vì mực nước giếng luôn ngang bằng với mực nước ngoài sông.

 

10) Sương Nguyệt Anh(1863-1921)

Sương Nguyệt Anh là biệt hiệu của bà Nguyễn thị Ngọc Khuê(1), con gái thứ 5 của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Bà sanh ngày 24 tháng chạp năm Quí Hợi, nhằm ngày 8 tháng 3 năm 1863, tại làng An Bình Đông, sau này là làng An Đức, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà có nhiều bút danh như Xuân Khuê, Nguyệt Nga, Nguyệt Anh, và Sương Nguyệt Anh(2). Bà thừa hưởng truyền thống yêu nước và đạo đức từ thân phụ mình là cụ Đồ Chiểu, và đức hạnh cũng như sự đảm đương thân mẫu mình. Vì thế mà ngay từ lúc nhỏ, bà đã chứng tỏ mình là một cô gái thông minh xuất chúng, lại tài sắc và cốt cách đoan trang thùy mị. Bà được cha mình đích thân dạy chữ Nho tại nhà từ thuở mới lên 5, nên căn bản Hán học và Khổng học của bà khó có vị nữ lưu nào có thể sánh kịp.

Tương truyền sở dĩ bà chọn bút danh Nguyệt Anh là bởi vì bà rất ngưỡng mộ nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong tác phẩm Lục Vân Tiên của cha mình. Bà muốn con người ngoài đời có bút danh là Nguyệt Anh sẽ là người em gái của Nguyệt Nga, sẽ có tài đức và công hạng sáng ngời như Hằng Nga trên vòm trời cao rộng. Vào tuổi đôi tám, bà đã tỏ ra là một người đàn bà thông minh, chẳng những văn hay chữ đẹp, mà còn là một con người tiết liệt, đoan trang và có lòng ái quốc cao độ. Lúc đó, có một nhà nho trẻ, gia tộc cũng thuộc hàng thế phiệt, muốn thử tài y dược của con gái cụ Đồ Chiểu, y bèn thách Nguyệt Anh làm một bài thơ mà trong đó mỗi câu đều phải có tên của một vị thuốc. Sau một thoáng suy nghĩ, Nguyệt Anh đã làm ngay bài thơ sau đây:

Viễn chí(3) lưu hành tháng mạnh đông, Tránh lòng quân tử quá thung dung. Tơ duyên thục đoan đà xao lãng, Tình nghĩa a giao khó mặn nồng.

Quán chúng ngậm ngùi thương nhĩ tử,

Nhân trần cảm cảnh bạch đầu ông. Dù miền sanh địa tìm khương hoạt,

Cũng đoái phòng phong phận quít hồng!”

Nghe xong bài thơ mà con gái cụ Đồ Chiểu vừa ứng khẩu hoàn tất chỉ trong giây lát với mỗi câu đều có tên của một vị thuốc Bắc, mà lại đầy đủ ý nghĩa mà cũng không kém phần thanh thoát và bay bướm, nhà nho biết mình không phải là đối thủ nên lặng lẽ rút lui. Ngoaì ra, còn có rất nhiều giai thoại tương tự như vậy. Một giai thoại khác về nhà nho Phạm Đình Chi khi đến nhà cụ Đồ Chiểu, vừa bước vào ngạch cửa thì Nguyệt Anh đã làm hai câu đối như sau để khẳng định tình cảm ngay thẳng của mình:

“Đình làng tôi không phạm Thưa ông, phạm đình chi!”

Hai câu đối này có nghĩa là “Đình làng tôi không có phạm, thì thưa ông Phạm đình Chi, cớ sao ông lại phạm sân nhà tôi vậy hở ông!”

Khi nói về những hào kiệt đất phương Nam mà không nói về bà Sương Nguyệt Anh thì quả là một thiếu sót lớn lao, vì ở miền Bắc có Bà Huyện Thanh Quan thì ở miền Nam có bà Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bà Huyện Thanh Quan may mắn hơn bà Sương Nguyệt Anh nhiều, vì bà sanh ra trong một đất nước độc lập, nên không cần phải đem sinh mạng mình ra đổi lấy sự may rủi của cuộc sống khi phải mượn lời thi văn để biểu tỏ lòng yêu nước của mình như bà Sương Nguyệt Anh. Khoảng một năm rưởi trước khi bà vừa chào đời thì đất nước cũng mới vừa bị thực dân Pháp cắt bớt đi ba tỉnh miền Đông thân yêu(4). Rồi khi bà chưa kịp lên năm tuổi, người Pháp đã lấn chiếm luôn ba tỉnh miền Tây, thế là cả cuộc đời bà, bà phải sống trong nỗi nhục vong quốc.

Bà sinh trưởng giữa thời buổi đất nước loạn ly, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Bà đã cố gắng học tập và tỏ ra là một trong những phụ nữ xuất chúng thời đó, tài sắc vẹn toàn, ít ai sánh kịp. Tuy nhiên, về mặt đạo đức của một sĩ phu, bà lại quyết nối chí cha mình là không hợp tác với giặc. Có thể nói bà chịu ảnh hưởng rất lớn đạo đức và lòng yêu nước nơi cụ Đồ Chiểu, chúng ta có thể thấy rất rõ qua những bài thơ mà bà đã làm ngay từ lúc còn rất trẻ:

“Thái tức trần gian sự cách vi Bi thương tạo hóa dụng tâm bi Nam tri để cuộc hoàn nan giải Tự tín để hồi phản tự nghi!” (Than cho thế sự cứ sai lầm Trẻ tạo bày ra chẳng dụng tâm Cuộc ấy khôn hay cùng khó giải Tự tin! Ngờ vực! Rối tơ tằm!)

Khi cha mất, một viên tri phủ khét tiếng thời đó ngỏ ý muốn hỏi cưới bà làm vợ. Bà khẳng quyết từ chối những kẻ cam tâm làm tay sai cho giặc. Thế là ông ta tìm cách hãm hại người em trai út của bà là ông Nguyễn Đình Chiêm với những điều vu khống thị phi. Vì vậy bà phải rời quê đi đến tá túc tại nhà của một người bạn của cha mình là cụ Nghè Trương Văn Mân. Tại đây vào năm 1888, bà kết duyên với một vị Phó Tổng Nguyễn công Tính, người có lòng thương dân yêu nước. Sau khi sanh đứa con gái được 3 tuổi thì ông Tính qua đời. Kể từ đó bà quyết thủ tiết thờ chồng dầu lúc ấy bà hãy còn rất trẻ. Ban đầu bà viết bài cộng tác với nhiều nhật báo và đặc san tại Sài Gòn. Sau đó bà đứng ra làm chủ bút tờ báo mang tên “Nữ Giới Chung(5).” Đây là tờ báo phụ nữ đầu tiên của nước ta ở Sài Gòn. Đây là một tờ báo chính trị với mục đích gióng lên tiếng chuông thức tỉnh nữ giới nói riêng, và mọi người nói chung. Dầu những bài viết hay những vần thơ kín đáo nhưng luôn nói lên nỗi lòng của người dân mất nước như những bài sau đây:

“Nước mắt, có cùng trời đất biết

Biển dây, một cuộc thấy mà thương!”

Đôi khi bà mượn lời thơ để trách cứ đám Việt gian, mãi quốc cầu vinh, vì danh lợi mà đan tâm bán nước như:

“Chước quỷ mưu thần âu những kẻ Gặp cơn nguy hiểm khó đua bơi!”

Ngoài ra, bà còn rất nhiều bài thơ thôi thúc lòng yêu nước của những đấng mày râu nước Việt như bài:

“Cái tiếng mày râu thì phải vậy

Nặng bằng non Thái, nhẹ bằng lông...”

Bên cạnh đó, còn có những bài thơ gửi gấm tâm sự của kẻ cô thế trước cường quyền mà không làm gì hơn được như bài Đoan Ngọ Nhật Điếu Khuất Nguyên:

“Tiết đáo Đoan dương thời vũ lộ Giang tân hành lữ vô triệu mộ Vãng lai thùy dữ điếu trung hồn Cạnh cạnh yên ba hoành cổ lộ.” (Gió mưa vào tiết Đoan dương Sớm chiều lữ khách vắng đường qua sông Nào ai thương khóc hồn trung Chỉ trơ khói sóng đổ dòng bến xưa).

Ngoài ra, bà còn cộng tác viết bài đăng trên nhiều nhật báo và tuần san. Với ngòi bút sắc xảo của bà và những người cộng tác đã khiến cho thực dân Pháp phải mất ăn mất ngủ. Chính vì vậy mà chỉ một năm sau đó họ phải ra lệnh đóng cửa tờ báo. Tất cả những sinh hoạt văn chương, nhất là những sinh hoạt về báo chí trên đất Gia Định xưa của bà đã cho thấy tinh thần ái quốc thương nòi thoát ra từ thân phụ của bà là cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Bà Sương Nguyệt Anh quả không hổ danh là con của nhà nho trung trinh tiết liệt, rất xứng đáng là con cháu Trưng Triệu, và tự thân bà đã nêu lên cho hậu thế một tấm gương sáng cho mọi người, nhất là đối với các chị em phụ nữ. Đây là cơ quan ngôn luận đầu tiên của phụ nữ Việt Nam. Giữa buổi giao thời từ nếp sống cũ của người phụ nữ chuyển sang văn minh văn hóa Âu Tây, bà Sương Nguyệt Anh có thể được xem như là một trong những người đàn bà mẫu mực nhất thời đó. Lúc đó, nhân khi vua Thành Thái du ngoạn Sài Thành với cả đoàn tùy tùng ngựa xe rợp trời và chi tiêu phung phí, trong khi lương dân còn đang rên xiết dưới gông cùm thống trị của thực dân Pháp, bà đã không ngại ngùng bảy tỏ sự phẫn uất trong những dòng thơ sau đây:

“Ngàn thu may gặp hội minh lang, Thiên hạ ngày nay trí mở mang. Tấc đất ngọn rau tràn dưới mắt, Đai cơm, bầu nước chật ven đường. Vui chi Thánh đế trên xe ngựa, Xót dạ thần dân chốn lửa than, Nước mắt có cùng Trời đất biết!

Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương.”

Phải nói, cuộc đời nữ sĩ Sương Nguyệt Anh luôn bị đối đầu với nghịch cảnh, nhưng người đàn bà quả cảm này không vì vậy mà thay đổi chí hướng. Bà đã không khiếp sợ trước bất cứ thế lực nào, nên đã trách thẳng vua và đoàn tùy tùng sao nỡ lòng ngất ngưỡng trên xe trên ngựa, mà không nghĩ đến đất nước đang bị xâm lăng và nhân dân đang rên xiết dưới gông cùm của ngoại chủng. Ngay sau đó, bài thơ đã lọt vào tay nhà vua, ông cảm thấy hổ thẹn, liền vội vàng ra lệnh chấm dứt cuộc du ngoạn Sài Thành. Phải nói bà Sương Nguyệt Anh là một nữ sĩ tài ba lỗi lạc, mà khí phách cũng không kém cha mình. Bà đã dám dùng ngòi bút sắc bén của mình mà đâm thẳng vào vua quan ham chơi trụy lạc. Chính ngòi bút ấy đã chinh phục được vua Thành Thái và khiến cho sĩ phu đất phương Nam đương thời vô cùng kính phục.

Trong khoảng thời gian từ năm 1906 đến năm 1908, hưởng ứng theo lời kêu gọi của nhà chí sĩ Phan Bội Châu, bà đã bán đi một phần điền sản của mình để đóng góp vào quỹ cho phong trào Đông Du, đưa học sinh sang Nhật du học. Cuộc đời của một nữ sĩ tài hoa như bà, nhưng lại cũng bạc phận như vận nước ngày ấy. Con gái bà lấy chồng, sau sanh được một người con gái thì cũng qua đời(6). Người nữ sĩ phải nuôi đứa cháu ngoại và cảm thương về thân phận của chính mình cũng giống như cảm thương về thân phận của dân của nước mình vậy! Rồi vì quá đau buồn khóc cho vận mình hay vận nước, rồi bà lại bị ám ảnh bởi hoàn cảnh mù lòa như cha mình ngày trước. Cuối cùng bà phải nghe theo lời khuyên của thầy thuốc mà từ giã việc viết lách, để cùng người cháu ngoại duy nhất dắt nhau về tá túc tại nhà của người em trai út tên Nguyễn Đình Chiêm(7). Sau đó bà hành nghề bốc thuốc của cha ngày trước và qua đời vào ngày 12 tháng chạp năm Canh Thân, 1921, tại Bến Tre, thọ 59 tuổi. Thi sĩ Âu Dương Lân đã tới phúng viếng bà với hai câu thơ thật xứng với một bậc nữ lưu anh tài như bà Sương Nguyệt Anh:

“Trong trắng làu làu gương nữ sĩ, Trăm năm danh rọi chói vừng ô.”

Dầu số tác phẩm của nữ sĩ Sương Nguyệt Anh để lại không nhiều, nhưng toàn bộ đề nói lên tinh thần bất khuất của Việt Nam nói chung, và của con dân vùng đất phương Nam nói riêng. Phải thành thật mà nói, những vầng thơ khẳng quyết của bà đã khiến thực dân Pháp và bọn tay sai phải điên đầu nhức óc một thời. Số bài thơ và xướng họa của bà rất nhiều, nhưng không gom thành tập, vì vậy mà ngày nay chúng ta thấy chỉ còn tản mác những bài thơ của bà đã đăng trên các báo xưa như: Đoan ngọ nhật điếu Khuất Nguyên, Tức Sự, Chinh Phụ Thi, Thưởng Bạch Mai, Vịnh Ni Cô, Vua Thành Thái Vào Nam, Cảm Tác Khi Lính Việt Nam Đi Âu Chiến (1914-1918). ngoài ra, bà còn có một tập sách dịch nhan đề Yên Sơn Ngoại Sử(8). Hiện ngôi mộ của bà nằm dọc bên đường tại làng Mỹ Nhơn tỉnh Kiến Hòa vẫn còn được con cháu chăm sóc.

                                                                                ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn