Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000102
Số lượt truy cập
19293088
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-08-19 05:05:35

 

7) Nguyễn Văn Lạc(?-1915)

Nguyễn Văn Lạc, hiệu Sầm Giang, sanh trưởng trong một gia đình phú nông giàu có trong vùng Mỹ Chánh, thuộc tỉnh Định Tường. Từ nhỏ ông đã được cha cho theo học văn chương. Ông học hành rất giỏi, tài nghệ của ông được người đời xem như là xấp xỉ với cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu, và cụ Cử Phan Văn Trị. Tuy nhiên, ông lại không đỗ đạt, nên người đương thời thường gọi ông là Học Sanh Lạc(1), rồi người ta gọi quen riết thành Học Lạc. Đến khi vận nước đến hồi nghiêng ngữa, ông dời nhà về chợ Thuộc Nhiêu, lấy nghề dạy học và bốc thuốc làm kế sinh nhai. Phải nói ông là một nhà nho thất chí trong thời quốc phá gia vong, nên tánh tình của ông cũng ngông nghênh, không chịu phục tùng những kẻ có quyền có thế.

Trong thời gian ở Thuộc Nhiêu, ông thường sáng tác thi văn châm biếm thế sự, với bút hiệu Sầm Giang. Lúc ở Thuộc Nhiêu ông có làm một bài thơ về chợ Thuộc Nhiêu:

“Đất linh bồi đắp cuộc Ba Giồng,

Cảnh Thuộc Nhiêu nhiều khách ngộp trông. Đường thẳng ngựa biêu chơn ngán bước, Rạch cùn cá lội mến quên sông.

Trường văn giói kẻ kẻ thêu rồng cọp, Miễu võ thờ tay chí bá tòng.

Cứng cát thú quê vui tục cũ,

Thềm dâu ruộng lúa dễ cho không.”

Tánh tình của Học Lạc khẳng khái đúng bậc sĩ phu thời tao loạn, nghĩa trọng tài khinh, không bao giờ chịu khuất phục trước cường quyền của các hương chức hội tề. Thậm chí nhiều lúc ông làm thơ mắng thẳng vào đám làng xã, nên lúc nào ông cũng bị quan chức nhà làng làm khó dễ, biểu lộ điển hình nhất trong bài thơ “Ông Làng”:

“Chi chi trong khám sắp ngang hàng? Nghĩ lại thì ra mấy bợm làng.

Trong bụng trống trơn mang cổ giữa, Trần đầu trọc lóc bịt khăn ngang. Vào buồng gọi tổ châu đầu lại,

Ra rạp rằng con nịt nách ngang. Dám hỏi: hàm ân người lớp trước, Hay là một lũ những quân hoang?”

Trong một dịp lễ kỳ yên, hay lễ cầu an, Học Lạc bèn đem một mâm xôi cúng đình. Trên vành mâm ghi hai chữ thiệt lớn: “Thằng Lạc”. Hương chức hội tề trong làng thấy mâm xôi không theo phép tắc lại ghi chữ như vậy, cho rằng Học Lạc giễu cợt thần thánh và khinh khi hương chức trong làng, nên cho lính đến bắt về làng xử phạt. Về sau, Học Lạc có làm một bài thơ tựa đề “Tạ Hương Đăng” như sau:

“Vành mâm xôi để 'Thằng Lạc', Nghĩ mình ti tiểu không đài các.

Văn chương chẳng phải bọn mèo quào, Danh phận không ra cái cóc rác.

Bởi thế bơ thờ thẹn núi sông. Dám đâu vúc vắc ngạo cô bác, Việc này dầu có thấu cùng chăng? Trong có ông thần ngoài cặp hạc.”

Cũng chính vì tánh khí ngang tàng ấy mà ông bị đám lính làng xã ghét. Một lần nọ ông vô tình đứng coi một sòng bong vụ, chứ ông không đánh. Khi lính làng ập tới, họ liền bắt luôn Học Lạc đóng trăn chung với một người Hoa kiều. Cả hai người bị họ khóa chung một khóa. Tới chừng xong việc được về nhà, Học Lạc bèn làm một bài tự sự về việc bắt đám bong vụ gồm chung với người hốt thuốc như sau:

“Hóa An Nam, lứ khách trú,

Trăn trối, lằng nhằng chung một lũ. Ngoài mặt ngỡ ngàng lạ Bắc Nam, Trong tay cắc cớ xui đoàn tụ.

Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh,

Ông Bổn không thương người bảy phủ. Phạt ta xong rồi trở lộn về,

Hóa thì hốt thuốc, lứ bong vụ.”

Mắng đám làng xã làm việc cho Tây là một lũ quân hoang trong bài “Ông Làng”, Học Lạc thấy vẫn chưa gọi là đủ, cụ làm thêm bài “Con Trâu”, lại mắng chúng là một lũ trâu, dầu có mài sừng tới đâu thì cũng là trâu. Nghé ngọ già đời cũng kêu nghé ngọ. Dầu có nói gì đi nữa thì chúng cũng chả hiểu gì đâu, như đàn khảy tai trâu, cũng chẳng khác nào đem “năm dây đờn khảy biết đâu nghe”:

“Mài sừng cho lắm cũng là trâu, Gẫm lại mà coi thật lớn đầu. Trong bụng lam nham ba lá sách, Ngoài cằm lém đém một chòm râu. Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy,

Làm lễ bôi chuông vốn giác sầu. Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ, Năm dây đờn khảy biết nghe đâu.”

Sau bài “Con Trâu” vẫn thấy đám đầu trâu mặt ngựa tiếp tục đè đầu đè cổ dân đen, bắt họ phải mang thân làm trâu ngựa cho người cỡi, cụ Học Lạc lại làm tiếp bài “Chó Chết Trôi” cảnh báo cho bọn chúng biết rằng dầu tụi bây có làm gì cho lắm thì khi chết rồi nào khác chó chết trôi?

“Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu, Thác thả dòng sông xác nổi phều. Vằn vện sắc còn phơi lẫn đẫn, Thúi tha danh hỡi nổi lêu bêu. Tới lui bịn rịn bầy tôm tép,

Đưa đón lao xao lũ quạ diều. Một trận gió dồi cùng sóng dập,

Tan tành xương thịt biết bao nhiêu!”

Thơ văn của ông đa phần thuộc khuynh hướng trào phúng hồi đầu thế kỷ thứ XX. Nói là trào phúng, kỳ thật là ông muốn dùng thơ văn để chưởi để rủa xả đám chó săn làm tay sai cho giặc hà hiếp dân lành. Như trong bài “Con Tôm”, ông mắng đám chó săn tưởng mình ngon, rốt ra chẳng biết mình cứt lộn đầu:

“Chẳng phải vương công, chẳng phải hầu, Học đòi đai kiếm laị mang râu.

Khoe khoang mắt đỏ trang dòng bích, Chẳng biết mình va cứt lộn đầu.”

Một hôm, Học Lạc lở đường ghé vào một quán cơm bên đường, người chủ quán nhìn biết ngay ông là Học Lạc, nên đến nhờ ông viết cho câu liễn để dán nơi cửa quán. Học Lạc cầm lấy ngay giấy bút lên viết:

“Mai di quán trung vô Phiếu Mẫu

Chỉ hiềm lộ thượng thiểu vương tôn.”

Có nghĩa là chớ nói trong quán không có bà Phiếu Mẫu, chỉ hiềm trên đường đi ít có vương tôn.

Ngoài tài châm biếm những tên tay sai Việt gian, Học Lạc còn là một nhà thơ dùng thi thơ tả cảnh hết sức điêu luyện, nhưng cũng không quên lồng vào đó những thực trạng của thói đời. Trong một buổi chiều, nhìn người qua lại và nhìn đám trẻ đang chơi đùa ngoài sân, Học Lạc đã cảm tácbài “Tức Cảnh ban Chiều” như sau:

“Ngó ra ngoài ngõ gió hiu hiu, Xem thấy cảnh trời, trời đã chiều. Hăm hở trẻ con múa lại hát,

Đức thì làm tướng, đứa làm yêu.” Khi tả cảnh ghe chạy buồm, Học Lạc có câu:

“Lục thọ tẩu song ngạn, Hồng nhật chiếu cô châu.”

Nghĩa là cây xanh chạy hai bên bờ sông, còn mặt trời đỏ soi một chiếc thuyền lẻ loi. Vợ ông, tên là bà Bảy Khánh, cũng là một phụ nữ xuất sắc và tài ba không kém chi ông. Khi ông mất, bà đã làm bài thơ còn lưu lại đến ngày nay, đó là bài “Thuyền Lỡ Vời” với lời lẽ diễn tả đúng như thân thế và tâm trạng của ông lúc sinh thời:

“Đùng đùng sóng gió khéo nương hơi, Chiếc bách linh đinh mới lỡ vời.

Lố xố hoa thêu khoan lại thúc, Lao xao gấm vẽ nhặt rồi lơi.

Mảnh buồm lửng đửng trôi trong nước. Bánh nguyệt chơi vơi đứng giữa trời. Chèo hạnh so le ngơi mái nhịp. Thuyền tình thong thả để buông lơi.”

Hiện chúng ta vẫn còn một ít văn thơ của Học Lạc với những đề tài tuy tầm thường nhưng hàm nghĩa thâm thúy và sâu sắc. Phải nói ông là một trng những nhà thơ trào phúng nổi tiếng của vùng đất phương Nam thời đó, đã mượn giọng trào phúng đả kích chính khách xôi thịt, sâu dân mọt nước. Ông đã dùng những hình ảnh xác thực trong thơ hay những chữ gợi hình để châm biếm và chế diễu những kẻ vì chút lợi danh cho gia đình hay bè đảng mà manh tâm bán rẻ dân tộc giống nòi. Phải thực tình mà nói cây bút Học Lạc là một trong những cây bút sắc bén chẳng kém ngọn bút Đồ Chiểu năm xưa “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.” Đàn hậu bối chúng ta luôn nên lấy đó làm câu trau mình trong mọi tình huống, nhất là khi đất nước lâm nguy, nếu chúng ta chưa làm gì được thì hãy ráng làm được như Học Lạc, cũng là xứng danh giòng giống Lạc Việt lắm rồi vậy!

Ghi Chú:

(1)          Người ta gọi là Học Sanh Lạc vì cụ Nguyễn Văn Lạc có chân Học Sanh, sau lần lần mất chữ Sanh chỉ còn chữ Học Lạc. Ông có dáng người nhỏ thó, nước da trắng, không có râu, tiếng nói sang sảng như chuông, và sở trường nghề bốc thuốc và xem quẻ.

8) Cử Nhân Nguyễn Văn Thạnh

Nguyễn Văn Thạnh gốc người miền Trung, nhưng không rõ chính xác bản quán của ông. Ông đậu cử nhân đầu thời vua Tự Đức và được bổ nhậm làm Tri huyện Trung Phong, tỉnh Bình Thuận. Ông là một vị quan thanh liêm chánh trực nên rất được lòng dân trong huyện và trong cả tỉnh, nhưng ngược lại thì ông bị đám tham quan ô lại ganh ghét và luôn tìm cách hãm hại ông. Tất cả những vụ oan án của dân chúng ông đều bằng mọi giá đưa ra ánh sáng, cho dầu có dính líu đến các vị quan lớn đương quyền. Dầu họ có quyền cao chức trọng, hay gia thế như thế nào, hay dây mơ rễ má với vua quan ra sao, vân vân, một khi đã dính líu vào những vụ án trong vùng của ông cai quản là ông quyết tâm và thẳn thắn tố giác.

Triều đình cũng biết tính tình thanh liêm cương trực và đôn hậu của ông, nên dầu có đơn tố giác của các quan trên, vua Tự Đức vẫn không tin, và ông vẫn được giữ chức như xưa. Thậm chí, vua Tự Đức còn dự định sẽ thăng quan tiến chức cho ông vào chức tuần phủ Bình Thuận để miền này luôn được an cư lạc nghiệp. Tuy nhiên, ngay lúc đó thì quân Pháp lấn chiếm Việt Nam. Ông là một trong những sĩ phu đầu tiên đứng lên hưởng ứng lời hiệu triệu của triều đình, đi vào Nam Kỳ Lục Tỉnh để ứng nghĩa kháng chiến chống Pháp. Trên chiếc bầu lênh đênh theo các sông rạch miền Nam, ông và những sĩ phu đồng chí hướng khác đang giả dạng làm thương buôn tuyến đường thủy Bình Thuận-Sài Gòn. Khi cập bến Bến Nghé được khoảng một tuần, thì bị bọn mật thám và tay sai khám ghe. Khi phát giác trong ghe có một khẩu súng, ông cùng một số bạn bè trên ghe đều bị bắt.

Tên tuổi của ông đã quá quen thuộc với tên Việt gian Tôn Thọ Tường, mà kỳ thật trong thâm tâm, Tường cũng rất ngưỡng mộ ông cử Thạnh, nên khi vừa hay tin ông bị bắt, Tường liền can thiệp. Tôn Thọ Tường đã đứng ra bảo lãnh cho ông được tự do, rồi rước ông về nhà, khuyên ông nên ra làm quan cho Tây. Ông cười mỉm và nói: “Tôi đã bỏ quan vì nghĩa, nay há lại làm quan phục vụ kẻ địch hay sao? Tôi rất cám ơn ông đã can thiệp cứu gỡ cho tôi, nhưng nếu ông cố bày trò ơn nghĩa để lung lạc chí hướng của tôi, thì thà rằng giam cầm hay chém giết tôi còn hơn, không bao giờ tôi chịu muối mặt làm điều vô sĩ được.” Tôn Thọ Tường nghe qua những lời khẳng khái và đanh thép này, sắc mặt của y bỗng tái đi, nhưng vẫn gượng gạo nói: “Ai có chí nấy, cụ đã bảo như thế, thú thật tôi càng thêm cảm mến, đâu dám ép thêm điều chi nữa.” Nói xong Tôn Thọ Tường cố cầm cụ ở lại chơi vài ngày rồi hẳn đi. Tường lại cho yến tiệc thiết đãi trọng hậu, rồi để cụ được tự do muốn đi đâu thì đi. Tưởng cũng nen6 nhắc lại về con người của tên Việt gian Tôn Thọ Tường, không phải y có lòng tốt với cụ như vậy đâu, mà y chỉ muốn đánh đòn tâm lý lên cụ và những người kháng chiến thời đó.

Sau khi rời chỗ Tôn Thọ Tường, ông cử Thạnh đi thẳng xuống Định Tường, đến trú ngụ tại làng Trà Tân, tổng Lợi Mỹ, thuộc quận Cai Lậy. Tại đây, cụ cử Thạnh cũng khó lòng hoạt động, vì nhứt cử nhứt động của cụ đều bị tên Việt gian Tổng đốc Trần Bá Lộc cho người theo dõi. Lộc cho người đến mời cụ về nhà y để dạy học cho con trai y là Trần Bá Thọ. Cụ Cử Thạnh dư biết lòng thâm hiểm của Lộc, y có thể sẳn sàng làm bất cứ chuyện gì, dầu là chuyện cùng hung cực ác đi nữa. Chính vì vậy mà cụ đã nhận lời.

Khi đến nhà Lộc để dạy học cho Trần Bá Thọ, cụ luôn tỏ rõ một phong thái khẳng khái, bất khuất, không nịnh bợ. Một hôm Thọ đang ngồi học với cụ cử, thấy dáng mặt cụ móm móm với râu ba chòm phấp phới, miệng phì phà điếu thuốc, y liềnxin phép thầy được làm câu đối để cho thầy xem thử. Cụ nói ngay: “Được, cậu cứ làm đi!” Thọ bèn đọc: “Râu ba chòm lém đém, miệng hút thuốc phì phà.” Cụ bèn đối lại theo dáng Thọ hói đầu, tay cầm gậy: “Tóc ít sợi le the, tay cầm cây ngút ngắt.” Thọ lại đọc thêm một câu có ý khoe khoang: “Phụ từ tử hiếu sanh con thế ấy mới là vàng.” Thế là cụ cử Thạnh bèn chụp lấy ngay cơ hội để dùng chữ nghĩa mà chửi bọn sâu dân mọt nước: “Tham phú phụ bần đ.m. thằng nào ở bạc.” Câu đối chan chát với lời lẽ chua cay, nhưng họ Trần không còn lời lẽ nào nữa để mà ăn với nói, nên đành nghẹn họng. Khoảng đời còn lại của cụ cử Nguyễn Văn Thạnh, luôn sống trong u uất vì nỗi nước mất nhà tan, và vì cứ canh cánh bên lòng cái câu “Đất nước lâm nguy, thất phu hữu trách”, mà cụ lại chẳng làm gì được cho đất nước. Thế là bệnh trầm cảm cứ ngày một nặng, và cụ qua đời vào năm 1915. Hiện ngôi mộ của cụ vẫn còn tại làng Tú Trân, nay là làng Long Trung, thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

 

                                                  ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn