Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000142
Số lượt truy cập
19292326
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-08-16 09:11:40

 

 2) Huỳnh Mẫn Đạt

 

Huỳnh Mẫn Đạt sinh tại làng Tân Hội, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định. Lúc nhỏ, ông thọ giáo với Xử Sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản. Năm Tân Mão 1831, tức là năm Minh Mạng thứ 12, ông ra ứng thí và đỗ cử nhân. Sau đó, dưới triều Tự Đức ông ra làm quan. Ban đầu ông giữ chức Tuần Vũ tỉnh Hà Tiên. Khi liên quân Pháp-Y Pha Nho lấn chiếm Nam Kỳ, ông xin cáo quan về sống đời ẩn dật tại Hà Tiên. Ông là một nhà nho tiết tháo và sống đúng như một chánh nhơn quân tử. Khi về sống ẩn dật, ông đã cùng với các ông Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa đứng chung trong hàng ngũ những người bảo vệ tinh thần bất khuất của dân tộc trong cơn quốc phá gia vong.

 

3) Phan Hiển Đạo(1822-1864)

Phan Hiển Đạo sanh trưởng tại làng Vĩnh Kim, thuộc quận Long Định, tỉnh Định Tường. Ông là con của cụ Phan Hiển Tấn(1), làm Án Sát Gia Định dưới thời vua Tự Đức. Vào năm 1856, triều đình sắp mở kỳ thi Hội, nên cụ Phan Hiển Tấn có viết một phong thư đưa cho con là Phan Hiển Đạo quá giang ghe bầu ra Huế, đưa thư cho cụ Phan Thanh Giản, xin gửi con ở chờ dự kỳ thi. Lúc bấy giờ cụ Phan đang giữ chức Hiệp Biện Đại Học Sĩ, thấy Phan Hiển Đạo diện mạo khôi ngô đỉnh đạt, thông minh mẫn tiệp, đối đáp trôi chảy, nên Phan Thanh Giản có ý khen ngợi. Lúc đó cụ Phan đang làm Chánh Chủ Khảo. Kỳ thi có 3 môn, mà Phan Hiển Đạo đã xong 2 môn thì bỗng đâu hung tin từ miền Nam ra báo là thân mẫu qua đời. Cụ Phan Thanh Giản bèn lưu thư lại để chờ cho Phan Hiển Đạo thi xong môn thứ 3 mới báo tin, vì e rằng hung tin đưa ra thì Phan Hiển Đạo vì chữ hiếu mà lỡ bước công danh.

Sau khi thi xong, Phan Hiển Đạo đậu Tiến Sĩ đệ nhị. Lệnh vua Tự Đức ban ra và ban đồ triều phục và đãi yến tân khoa và cho Phan Hiển Đạo về vinh quy bái tổ. Nhưng tối đêm hôm trước đó, cụ Phan Thanh Giản đưa tin ấy ra, Phan Hiển Đaọ vô cùng thương xót mẹ, bèn làm cúc biểu và ghim theo lá thư tang dâng lên vua Tự Đức xin từ khước việc yến tiệc để về chịu tang cho mẹ. Qua ngày sau, vua Tự Đức lâm triều, xem cúc biểu và thư tang, thấy thư ra trước ngày thi mà sao Phan Hiển Đạo không về ngay để chịu tang vì chữ hiếu, mà ở lại lo lập bước công danh, nên nhà vua rất giận và phê rằng: “Hà hữu Phan Hiển Đạo vi tử như thế, vi thần nhược hà(2)?” Mặc dầu vậy, vua Tự Đức khi xem các bài thi của Phan Hiển Đạo, biết đây là một nhân tài, nên vua Tự Đức vẫn gửi thánh chỉ cho quan Bố Chánh Định Tường dạy làm chủ lễ cho Phan Hiển Đạo thọ phong.

Khi Phan Hiển Đạo đứng trước bàn hương án nguyện hương, vọng vái hoàng thiên, lấy đồ triều phục mặc vào, đứng ngững mặt về hướng Bắc lạy vua ba lạy, rồi đỡ thánh chỉ ra xem. Thấy đức vua chê mình, Hiển Đạo ôm đầu nhào lăn xuống đất mà than khóc. Các quan có mặt trong cuộc lễ đỡ ông dây, biết qua sự thể mới hay ông bị hàm oan. Các quan đem hết lời khuyên nhủ và nói rằng: “việc hàm oan này sẽ có ngày được cởi mở.” Mặc dầu ông rất đau khổ trong lòng, nhưng vẫn tuân theo thánh chỉ đi làm quan Huấn Đạo tỉnh Định Tường. Sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông và uy hiếp ba tỉnh miền Tây, trong khi triều đình chủ bại chỉ biết một bề chủ hòa chuộc đất, nên ông cảm thấy chán nãn, và không muốn phục tòng người Pháp, nên ông bỏ quan về ở ẩn tại vùng Sầm Giang. Người Pháp đã nhiều lần cho người đến chiêu dụ ông, nhưng ông cương quyết chối từ. Cuối cùng, để tỏ lòng tận trung báo quốc và gương trung hiếu của mình, ông đã uống thuốc độc tự vận vào năm 1864 lúc mới 42 tuổi.

Lúc bấy giờ, ở vùng đất phương Nam có câu hát như vầy: “Lớp sau Thanh Giản tiếng đồn,

Là Phan Hiển Đạo với Tôn Thọ Tường. Ông thời nho nhã văn chương,

Ông thời thi phú làm đường quan công. Ông về thác Vĩnh Kim Đông,

Ông ra theo giặc khó lòng tương tri. Một còn một mất trọn nghì,

Ngàn thu bia tạc Nam Kỳ danh nho.”

Cháu chắt bên ngoại của cụ Phan là học giả Trần Văn Khê và nghệ sĩ Trần Văn Trạch. Hiện tại mồ mả của cụ Phan Hiển Đạt và gia quyến vẫn còn ở ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Kim, quận Long Định, tỉnh Định Tường. Tấm mộ bia bằng đá trắng có ghi dòng chữ:

“Công húy Hiển Đạo, tánh Phan Thị, Dĩ Tiến Sĩ ly quan chí Định Tường học chính. Tự Đức niên, Pháp lan khâu quốc thông vang, Công bất khuất, tử táng ư Vĩnh Kim Đông chi hương. Ô hô! Sĩ cùng kiến tiết nghĩa, thế loạn thức trung thần Đường cử nhân Phan Bộ Tam.”

Một nhà nho đầy sĩ khí như cụ Phan Hiển Đạo, trọn đời giữ chữ thanh bạch và aí quốc trung quân, trong cơn quốc phá gia vong, biết mình không có cách gì xoay trở thế cờ, để đem lại tự chủ cho đất nước, nên thà thác đi để được trọn nghì, thẳng thừng từ chối hợp tác với người Pháp để hưởng vinh hoa phú quí, và âm thầm mượn chén thuốc độc tuẫn tiết, quả xứng đáng với câu vè trong dân gian: “Ngàn thu bia tạc Nam Kỳ danh nho”, đáng được ngàn đời cho hậu thế chúng ta suy gẫm, dầu cụ đã thác đi từ năm 1864, nhưng tên tuổi cụ Phan Hiển Đạo sẽ sống mãi trong lòng con dân đất phương Nam.

 

Ghi Chú:

(1)          Phan Hiển Tấn là bạn chí thân của cụ Phan Thanh Giản.

(2)          Câu này có nghĩa là Tại sao Phan Hiển Đạo, làm con như thế, thì làm tôi thế nào?

 

4) Phạm Viết Chánh

Phạm Viết Chánh sanh trưởng tại vùng Bến Tre, trong một gia đình giàu có. Ông được cha mẹ cho ăn học, đỗ đạt và làm quan tới chức Án Sát tỉnh An Giang dưới thời vua Tự Đức. Ông là một vị quan thanh liêm và cương trực, lúc nào cũng hết lòng vì nước vì dân. Lúc làm Án Sát An Giang, ông đã hết lòng hoàn tất công vụ, lúc nào cũng giữ câu “Dân Vi Quí.” Chính vì vậy mà ông rất được dân chúng mến mộ. Khi liên quân Pháp-Y Pha Nho đánh chiếm Nam Kỳ, không chịu nổi cảnh triều đình nhu nhược và cảnh nhục nhã mất nước, nên ông từ quan về sống đời dân giả tại quê nhà cho đến khi ông qua đời.

 

5) Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888)

(Xem Nguyễn Đình Chiểu: Nhà Thơ uYêNước,Chương 23)

 

6) Phan Văn Trị(1830-1908)

Phan Văn Trị còn được gọi là Cử Trị, danh nho vùng đất phương Nam dưới thời vua Tự Đức, ông còn là một trong những nhà thơ trứ danh của vùng đất này. Ông sanh năm Canh Dần, 1830, tại làng Hạnh Thông, tỉnh Gia Định. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là thông minh đỉnh đạt, xứng danh là một bậc anh tài. Năm Kỷ Dậu, 1849, lúc vừa 19 tuổi thì ông đã đỗ cử nhân, nên từ đó về sau dân chúng thường gọi ông là Cử Trị. Sau khi đỗ đạt, ông không chịu ra làm quan, mà chỉ về quê ẩn dật. Tuy nhiên, ông vẫn giữ liên lạc và bạn thâm giao của những danh sĩ khoa bảng yêu nước khác như Tiến sĩ Phan Hiển Đạo và Thủ Khoa Huân. Trong hàng xuất thân khoa bảng, Cử Trị đã dùng ngòi bút sâu sắc của mình để cực lực lên án và đả kích những ai vì miếng đỉnh chung mà phản bội lại nhân dân và đất nước. Suốt từ hậu bán thế kỷ thứ XIX cho mãi đến đầu thế kỷ thứ XX, ông là một trong những nhà nho chủ trương không cầm súng chống giặc được thì cầm bút và ông đã luôn nêu cao tiết tháo thanh bần và tinh thần bất khuất trước cường quyền.

Dầu con đường khoa bảng hiển đạt và quan trường mở rộng cho ông, nhưng ông muốn sống ung dung ngoài vòng cương tỏa. Ông độ nhật bằng nghề bốc thuốc và dạy học. Lúc nào ông cũng biểu lộ phong thái của một kẻ sĩ đầy tiết tháo. Ông thường tâm sự với bằng hữu, thời thế đã như vậy, trong khi bao nhiêu chiến sĩ vị quốc vong thân, làm một kẻ sĩ, không cầm súng được thì ít ra cũng phải cầm bút, đem hết tâm huyết của mình đóng góp phần nào trong công cuộc giành lại nền độc lập cho quốc gia, hầu đền đáp phần nào ngọn rau tấc đất của quốc tổ.

Vào năm 1862, sau khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông cùng một số các sĩ phu khác tản cư xuống Vĩnh Long. Cũng như các ông Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, vân vân, ông đứng trong hàng ngũ các sĩ phu chẳng những bất hợp tác với Pháp, mà còn cực lực đả kích và lên án những ai vì quyền lợi cá nhân mà đan tâm làm tay sai cho giặc. Khi Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây, ông lui về ở ẩn trong vùng Phong Điền (thuộc Cần Thơ), cam tâm chịu sống trong cảnh thanh bần để giữ vững khí tiết. Ngày ngày dong ruỗi trên thuyền câu dọc bờ sông Hậu, lấy thi ca làm thú giải khuây. Khi Pháp đặt xong nền cai trị trên vùng đất phương Nam, ông cảm thấy lòng mình như tê dại khi sáng tác bài thơ sau đây:

“Tò le kèn thổi tiếng năm ba Nghe lọt vào tai dạ xót xa. Uốn khúc sông rồng mờ mịt khói Vắng hoe thành phụng ủ sầu hoa. Tan nhà cảm nỗi câu ly hận, Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa! Gió bụi đòi cơn xiêu ngả cỏ, Ngậm cười hết nói nổi quan ta.”

 Sau khi thấy quá nhiều sĩ phu đương thời quay lưng trở mặt với đất nước với nhân dân, Cử Trị quyết một phen sống mái với bọn người cam lòng làm tay sai cho giặc vì miếng đỉnh chung, mà điển hình là Tôn Thọ Tường. Thế hệ hậu bối chúng ta kính trọng và yêu mến Phan Văn Trị bao nhiêu thì lại khinh miệt Tôn Thọ Tường bấy nhiêu. Tưởng cũng nên nhắc lại, Tôn Thọ Tường là một tên Việt gian mãi quốc cầu vinh, có tiếng là tàn độc với dân chúng nhất nhì trên vùng đất phương Nam, nhưng đối với thực dân Pháp, ông lại là người rất có công trạng, Chính vì thế mà họ đã lấy tên ông đặt cho một con đường ở Sài Gòn. Tôn Thọ Tường (1825-1877) còn được gọi là Ba Tường, làm Đốc Phủ dưới thời Pháp thuộc, cũng người gốc miền Nam, ở huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Hồi nhỏ lúc còn đi học, y cũng học giỏi, cũng văn hay chữ đẹp. Lúc đi thi Hương ở Huế, bị phát giác làm bài cho người khác để lấy tiền, nên bị đánh rớt, như vua Tự Đức xét thấy y có vài văn chương nên miễn tội. Khi trở về Gia Định, cùng bạn bè lập ra “Bạch Mai Thi Xã” và sống trong cảnh túng thiếu. Sau đó y quyết định ra làm việc với Tây và được bổ vào chức Tri Phủ Tân Bình. Y được tên Đô Đốc Bonard cử đi điều đình với Lãnh Binh Trương Định, một lãnh tụ kháng chiến đang làm cho Pháp rất đau đầu. Năm 1863, được cử theo Sứ Bộ của Cụ Phan sang Pháp. Sau lại được thực dân Pháp cử ra Bắc làm việc và mất tại Hà Nội vào năm 1877. Trong những thơ văn còn để lại của y gồm có tập thơ liên hoàn có nhan đề là “Tự Thuật” và “Tôn Phu Nhân Qui Thục”. Mặc dầu y muốn gửi gấm nỗi khổ tâm của mình vì túng quẩn nên phải ra hợp tác và làm quan cho Tây, nhưng đối với người yêu nước như cụ Cử Phan, đó cũng là hành động mãi quốc cầu vinh, đáng bị khinh rẻ và nguyền rủa.

Cuộc bút chiến giữa ông và Tôn Thọ Tường quả là một cuộc chiến ly kỳ trong thế kỷ, vì ông đang sống trong lòng địch mà lại dũng cảm đứng thẳng người công kích địch. Đó chính là lý khiến chẳng những người đương thời cảm kích ông, mà cho mãi mãi những thế hệ hậu bối về sau này cũng luôn cảm thấy cảm kích và hãnh diện về ông, một bậc tiền bối làm rạng danh sĩ phu đất phương Nam. Ngòi bút của ông sắc bén đến độ Tôn Thọ Tường cũng phải tự hổ thẹn và tự thu mình lại trong những bài than thân trách phận như các bài “Tôn Phu Nhân Qui Hán,” và “Từ Thứ Qui Tào,” vân vân. Nhưng Cử Trị vẫn không buông tha cho những kẽ mãi quốc cầu vinh, lúc này thì mỗi nét bút trong những bài họa lại của ông giáng xuống còn mạnh hơn trời giáng, nhưng ý vị của vẫn luôn thâm trầm và sâu sắc. Cho đến ngày nay, không ai là không cảm kích những bài họa của ông chọi lại với mười bài liên hoàn vịnh thời cuộc của tên mãi quốc cầu vinh Tôn Thọ Tường (Thập Thủ Liên Hoàn). Trong phạm vi tập sách này, chúng ta không thể nào ghi lại hết mười bài, nhưng ghi lại đây bài mở đầu thôi cũng đủ cho đàn hậu bối chúng ta thấy được tâm huyết của ông Cử Trị và tâm trạng yếu hèn của những tên bán nước, mãi quốc cầu vinh như Tôn Thọ Tường, khi hắn ta thốt lên những câu thơ trơ trẽn sau đây:

“Giang sơn ba tỉnh hãy còn đây, Trời đất xui chi đến nỗi này!

Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo, Mây tuông đen kịch khói tàu bay Xăng văn thầm tính thương đòi chỗ Khấp khởi riêng lo biết những ngày. Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc, Khuyên đàn con trẻ chớ thài lai.”

Không thể tương nhượng trước bọn mãi quốc cầu vinh, cụ Cử Trị đã cảnh cáo một cách gay gắt Tôn Thọ Tường nói riêng, và bè lũ bán nước nói chung:

“Hơn thua chưa quyết đó cùng đây Chẳng đã nên ta mới thế này Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy Con rồng dầu mặc bụi tro bay. Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở Bủa lưới săn nai cũng có ngày. Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ, Lòng ta sắt đá há lung lay!”

Chỉ cần một bài họa liên hoàn đầu tiên này thôi, hậu bối chúng ta cũng đủ thấy tinh thần vững chải của cụ Cử Trị, vững như kiềng ba chân, chẳng hề lay động trước phong ba bão táp, chẳng hề lung lay trước hoàn cảnh đảo điên nào. Với những ai có thời giờ và điều kiện thì nên xem hết mười bài họa liên hoàn của cụ Cử Trị, ở đây chúng tôi chỉ xin đề cử thêm một bài nữa, đó là bài họa thứ mười. Khi Tôn Thọ Tường dùng ngòi bút của mình để ngụy biện cho sự mãi quốc cầu vinh của chính mình như sau:

“Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay. Lỗi đạo sao cho đáng mặt thầy Đất quét đã đành bia lỗ miệng, Chén tàn e nỗi trở bàn tay,

Nghĩa đen dạy trẻ trang còn lấp, Mắt trắng xem trời cánh khó bay. Chỉ muốn ngày nào cho được toại! Giang san ba tỉnh hãy còn đây!”

Tất cả những lập luân theo kiểu ngụy biện trắng trợn này của Tôn Thọ Tường, dầu có mơn trớn, có đẩy đưa, có vuốt ve thế nào đi nữa, cũng phải bị ngọn bút thép của cụ Cử Trị giáng cho một nhát chí tử.

“Năm hàng vốn thiệt thảo cùng ngay, Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.

Gặp lúc chẳng may nên ngọng miệng, Chờ khi thấy máy sẽ ra tay.

Nổ chìm mặc thế tình dày mỏng, Cao thấp dầu ta sức nhảy bay. Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.”

Cụ Cử Trị quyết một phen sống mái, quyết dùng ngòi bút của mình đề đánh tới cùng. Tinh thần bất khuất của cụ Cử Trị cũng giống như tinh thần bất khuất của Nguyễn Đình Chiểu “Chở bao nhiêu Đạo thuyền không khẳm; đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.” Dưới con mắt của Cụ Cử Trị, cụ chỉ xem những tên Việt gian mãi quốc cầu vinh như Tôn Thọ Tường là nỗi nhục của dân tộc. Với ông, nếu không đứng lên lấy lại được đất nước ngay trong lúc này, thà thanh bần mà phải đạo. Và ông đã sống đúng với tinh thần đó kể từ ngày giặc Pháp mới bắt đầu lấn chiếm ba tỉnh miền Đông cho đến khi họ chiếm trọn Việt Nam và cho đến khi ông qua đời. Một đời ông sống ẩn dật, hễ nghe ở đâu có sĩ phu có khí tiết là ngay lập tức ông tìm đến để giao du, cũng như cùng nhau tìm phương cứu nước. Nghe nơi nào phất cờ khởi nghĩa là ông hết lòng khích lệ.

Khi ông về ẩn dật trong vùng Phong Điền, ông thường dong thuyền câu trên dòng nước để thả hồn mình đau theo nỗi quốc phá gia vong, và cất lên lời ngâm cũng ưu sầu và uất hận không kém gí nỗi uất hận trong lòng:

“Xem hết nhơn tình rồi nghĩ nghị, Thú vui chỉ có một thuyền câu.”

Hoặc:

“Người hỡi Nghiêm Lăng có biết chưng Lòng ta ý gã đố ai bằng.”

Lúc Đinh Sâm mới tụ nghĩa đánh Tây, ông cùng dân chúng Cần Thơ một lòng phấn khởi, nhưng đến khi Đinh Sâm dần hao lực lượng, lòng ông cũng sầu úa héo tàn không sao kể xiết. Đến lúc cao tuổi, biết mình không thể làm hơn gì được cho đất nước, ông cảm thấy vô cùng đau đớn cho thân phận của chính mình cũng như đồng bào ruột thịt của mình trước cảnh đất nước bị trị. Tuy nhiên, ông vẫn luôn tin tưởng sẽ có một ngày toàn cõi đất nước Việt Nam sẽ hát khúc hoan ca mà chúng ta thấy rất rõ trong mười bài Cảm Hoài của ông khi ông muốn mượn lời thơ để nói lên nỗi lòng của mình cho đàn hậu bối. Thi văn của cụ Cử Trị rất nhiều và mang nặng tình yêu đất nước, quê hương và dân tộc. Đối với người viết bài này, một con dân của vùng đất phương Nam, khi viết về “Hào Kiệt Đất Phương Nam” mà không nói qua tinh thần bất khuất của cụ Cử Trị sẽ là một thiếu sót lớn lao. Cụ Cử Trị chẳng những đã đóng góp rất lớn trong nền văn học thi văn của nước nhà, mà còn là một sĩ phu bất khuất, một người trai thời loạn có tinh thần với nước với dân. Tấm gương rạng ngời của cụ rất đáng được đàn hậu bối chúng ta nhắc nhở và lấy làm hãnh diện vì bên cạnh những kẻ sĩ rác rưởi, mãi quốc cầu vinh, chúng ta hãy còn rất nhiều những tinh thần bất khuất như cụ Cử Phan Văn Trị.

                                           ( Còn tiếp)

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn