Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000141
Số lượt truy cập
17482206
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-05-14 10:49:12

 

 (VII)Thay Lời Kết: 

Tất cả những lời cáo buộc của vua Minh Mạng đều xuất phát từ sự trả thù và những bịa đặt của một ông vua vì thù hiềm đức Tả Quân Lê văn Duyệt. Theo thiển ý, đức Tả Quân Lê văn Duyệt không có tội gì cả. Nếu có chăng là tội đã dám hợp cùng với Nguyễn văn Thành trong việc khuyên can vua Gia Long không cho con của một bà thứ thiếp của Gia Long(26) lên ngôi vua, tội thương dân thương nước, tội chặt đầu những tên tham quan ô lại, hà hiếp dân lành, tội không chấp nhận cho những tên quan lại hống hách tham ô được làm việc với mình. Ở đây không phải nói nhiều về công hay tội của đức Tả quân Lê văn Duyệt, vì vấn đề nầy đã được nhiều nhà sử học chân chính làm sáng tỏ từ lâu rồi, và ngay cả cháu nội của Minh Mạng là Tự Đức cũng phải khôi phục lại vinh dự cho đức Tả quân. Thật tình mà nói, người dân đất phương Nam thật là may mắn có được một vị quan Tổng trấn tài ba thao lược về tất cả các mặt quân sự, chánh trị và kinh tế. Trong suốt 12 năm làm tổng trấn lần thứ nhì của đức Tả quân Lê văn Duyệt, người dân đất phương Nam đã từng có một cuộc sống hết sức thanh bình thạnh trị. Nếu thời đó đất nước Việt Nam có được một ông vua có phong thái như đức Tả Quân Lê văn Duyệt thì may mắn cho dân tộc ta biết dường nào. Nhưng ngược lại, chính vì vua quan thiển cận, quân binh yếu kém, vũ khí lại quá thô sơ, nên không đầy 3 thập niên sau ngày đức Tả Quân Lê văn Duyệt qua đời, đất nước phải rơi về tay của người Pháp. Giờ đây có nói gì hay viết gì đi nữa thì dân tộc Việt Nam cũng đã phải chịu oằn oại hơn 80 năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp mà những hệ quả của nó vẫn còn rỉ máu đến ngày nay. Ở đây chúng ta chỉ tiếc một điều là phải chi ngày ấy vua quan nhà Nguyễn khôn ngoan hơn một chút, học được cách cai trị dân nơi ngài Tả Quân Lê văn Duyệt, hết lòng vì dân vì nước, mở cửa giao thiệp buôn bán với các nước phương Tây, thì chắc hẳn giờ nầy Việt Nam đã không thua bất cứ quốc gia phát triển nào ở châu Á. Thôi thì lịch sử vong quốc đã sang trang, hãy để cho các nhà làm sử chân chánh luận công và tội của vương triều nhà Nguyễn. Riêng với tôi, một con dân đất phương Nam, lúc nào cũng hết lòng biết ơn đức Tả quân, vì chẳng những ngài là một ông tướng giỏi, một nhà chánh trị tài ba và đức độ, mà ngài còn là một ông quan luôn chí công vô tư, và luôn đứng về phía công lý. Ngài luôn trị dân bằng tấm lòng nhân hậu, hết mực yêu thương dân chúng, chăm sóc dân chúng như con đỏ(27). Vì vậy, cho dù cái triều đình hủ lậu ấy có kết tội ngài như thế nào đi nữa thì trong lòng người dân, nhất là người dân đất phương Nam, ngài vẫn luôn là một vị Thần, sống mãi trong lòng dân tộc trong mọi thời đại. Cuộc đời hết lòng vì dân vì nước của ngài vẫn luôn là tấm gương chói sáng cho người đời sau noi theo. Xin Đức Thượng Công hãy nhận nơi đây một nén hương lòng với tất cả lòng thành kính và biết ơn của những người hậu bối chúng con!

Chú Thích:

1)   Lê Văn Duyệt gốc người Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, ông nội của ông là cụ Lê Văn Hiếu đi cùng với con trai là ông Lê Văn Toại, còn có tên là Phước (cha của Lê Văn Duyệt) vào đất Nam Kỳ, ngụ tại vàm Trà Lọt, vùng Hòa Khánh, tỉnh Định Tường, ngày nay thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Về sau này ông Toại sanh đặng 4 người con trai, Lê Văn Duyệt là con trai trưởng. Ông vốn có dáng vẻ lùn thấp, ăn nói nhanh nhẹn, tỏ ra thông minh đỉnh đạt. Ông thường nói với thuộc tướng sở dĩ ông thích đá gà là vì gà là một giống vật gan lì, thà chịu chết chứ không chịu lùi bước trước sự tấn công của địch thủ, nhờ học được tính của loài gà mà ông mới nuôi được cái chí can cường và tinh thần bất khuất. Đến năm lên 8 tuổi thì ông nội lâm trọng bệnh mà qua đời, cha ông vì buồn mà dời qua cư ngụ bên vùng Rạch Gầm (Sầm Giang), làng Long Hưng, ngay tại vàm Ông Hổ, cụng trong địa phận tỉnh Định Tường. Lúc nhỏ ông cũng được cha cho theo học chữ Nho, nhưng ông lại thích theo nghiệp binh đao cung kiếm hơn. Vì gia đình ông đã đến định cư từ thời ông nội, nhưng ông sanh trưởng ở Định Tường, nên người ta xem ông là dân Nam Kỳ chính gốc.

2)   Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 22, năm Gia Long thứ mười hai, 1813, Duyệt cùng Nhân Tĩnh (có lẽ là Ngô Nhân Tịnh) vâng chiếu chỉ, đem chiến thuyền với 13.000 quân binh đưa Phiên Vương là Nặc Chân về nước. Khi ấy, sứ nước Xiêm La là Phi Nhã Man A Mặc cũng từ kinh thành Huế về đến Gia Định, bèn đi theo đoàn quân của Đại Việt. Khi quan quân ta vừa đến Long Úc thì nhóm tướng lãnh Xiêm La là Phi Nhã, Phi Sai và Phủ Liên bèn đích thân đến cửa quân để lạy chiếu thư. Sau khi Nặc Chân đã vào thành La Bích, Lê Văn Duyệt sai tướng Chân Lạp là Cao La Hâm đem theo 500 quân lo việc bảo vệ cho Phiên Vương. Trước đó, người Xiêm La cứ nghĩ rằng quân Nam đi xa, số lượng hẳn là không đông, cho nên bề ngoài thì vờ làm hòa, mà bên trong thì lại cho lệnh chuẩn bị vũ khí và chiến cụ, nhằm thừa cơ đánh úp quân ta, nhưng khi Lê Văn Duyệt đến với quân binh quá đông vaaà khí thế quá cao, tướng lãnh Xiêm La sợ nên không dám động thủ. Trong khi đó Lê Văn Duyệt ban rõ hiệu lệnh, cấm không cho binh sĩ cướp bóc của dân, do vậy mà Chân Lạp được yên. Vua Xiêm và các tướng Xiêm La đều đem báu vật đến tặng cho Duyệt, nhưng Duyệt đã cho báo cáo về triều trước khi nhận tặng phẩm. Vua Gia Long lại ban cho Duyệt 10.000 quan tiền để Duyệt có thể mua tặng vật mà tặng lại cho người Xiêm. Sau đó khi thấy quân Xiêm La vẫn tiếp tục trú đóng tại Long Úc, mà không chịu rút đi như giao ước, nên Lê Văn Duyệt bèn tâu về Kinh tự sự như sau: “Người Xiêm La muốn lấy đất Chân Lạp tất nhiên phải sử dụng đến con bài Nặc Nguyên, còn như ta muốn bảo vệ Chân Lạp thì phải dùng Nặc Chân làm Phiên Vương. Nay nếu ta đưa Nặc Chân về Chân Lạp, tất nhiên nước Xiêm rất bất lợi, người Xiêm La ắt hẳn sẽ có mưu chước khác, Phiên Vương không sao tránh khỏi nỗi lo sợ về sau này. Nếu ta đóng quân lại đây lâu ngày thì quân sẽ mệt mỏi, mà kinh phí chi dùng cho việc quân cũng sẽ rất cao. Phiên Vương đơn độc yếu thế, mà thành La Bích không đủ sức pphòng thủ, vậy xin cho Phiên Vương ở lại Nam Vang và dùng thành Lư Yêm làm nơi dự trữ quân nhu. Ổn định xong hai thành này thì chỉ cần lưu lại một ít quân để bảo vệ còn đại quân thì cho rút về Gia Định, đợi xem động tĩnh ra sao. Như vậy, thuận nghịch đều minh bạch mà quân sĩ cũng đở mệt mỏi. Sau này, ta muốn đánh thì đánh, muốn hòa thì hòa, phần toàn thắng nằm hết trong tay ta.” 

3)   Ngũ Hổ Gia Định thời đó gồm Lê văn Duyệt, Nguyễn văn Trương, Nguyễn văn Nhơn, Nguyễn huỳnh Đức, và Trương tấn Bửu.

4)   Lần đầu từ năm 1813 đến năm 1816; lần thứ nhì từ năm 1820 đến khi ngài qua đời vào năm 1832.

5)   Theo quan niệm Khổng Nho, sắp xếp thứ tự trong xã hội là nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương.

6)   Người Trung Hoa, Miên, và người ngoại quốc khác.

7)   100 cây số khoảng 12.410 tầm.

8)   Mỗi trượng tương đương với khoảng 3.20 mét.

9)   Theo Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Viện Sử Học, NXB Giáo Dục, 2007, Tập I, tr. 997.

10) Theo Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Viện Sử Học, NXB Giáo Dục, 2007, Tập I, tr. 952.

11)   Trước đây là Dinh Long Hồ. 

12)  Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành Thông Chí, bản dịch Lý Việt Dũng, NXB Đồng Nai, 2006, phần Xuyên Sơn Chí.

13)  Tháng 7 năm 1819, Đại Nam Thực Lục, tập 1, tr. 994, có ghi lại như sau: “Sai trấn thủ Hà Tiên là Mạc Công Du xem đo dường sông Châu Đốc. Rồi triệu về kinh, đem bản đồ dâng lên cho vua.”

14) Tưởng cũng nên nhắc lại, trước khi vua Minh Mạng xuống chỉ dụ cho Lê văn Duyệt trông coi công trình đào kinh Vĩnh Tế từ năm 1820 đến năm 1824, thì Thoại Ngọc Hầu đã đào gần xong khoảng sông Châu Đốc. Tuy nhiên, đây là đoạn sông rất dễ đào, thứ nhất vì đất mềm và thứ nhì hiện trường không xa vùng Châu Đốc nên thiên nhiên cũng không khắc nghiệt cho lắm.

15)  Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Tập 2, sơ tập, quyển 23, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Viện Sử Học VN, NXB Thuận Hóa, 2005, truyện các quan của Quốc Sử Quán triều Nguyễn.

16)  Đại Nam Thực Lục, Tập 2, tr. 239.

17)  Theo Đại Nam Thực Lục, Tập II, tr. 281.

18)  Có nhiều nguồn tin khác nhau về việc xử chém Huỳnh công Lý, nhưng theo Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, đệ nhị kỷ, quyển V, tr. 150-151, Tả quân Lê văn Duyệt đã bẩm báo sự việc với vua Minh Mạng trước khi thi hành án lệnh, trong đó có đoạn như sau: “Sai đình thần hội bàn. Tất cả đều nói ‘Công Lý bị người kiện, nếu triệu về kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, chi bằng để ở thành Gia Định mà tra xét là tiện hơn.’ Vua cho là phải, bèn hạ ngục Công Lý tại thành Gia Định, rồi sai Thiêm Sự Bộ Hình là Nguyễn Đình Thinh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi.”

Như vậy, sau khi nhận được báo cáo của Lê văn Duyệt, triều đình đã ra lệnh cho Lê văn Duyệt hạ ngục Huỳnh công Lý tại thành Gia Định. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển IX, tr. 223, sau khi điều tra, số tiền tham nhũng lên đến trên 3 vạn quan bạc khi làm phó tổng trấn tại thành Gia Định. Ngoài ra, khi Công Lý còn làm Tả Thống Chế Quân Thị Trung tại Huế, ông nầy đã bắt lính xây dựng nhà riêng bên bờ sông Hương, ngay bên cạnh kinh đô mà nhà vua không biết. Vua bèn cho tịch biên nhà ấy, bán lấy tiền giúp cho cấm binh. Cũng kể từ đó, vua Minh Mạng cho phép biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn, cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép được đón xa giá mà tâu. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển V, tr. 170-171, sau khi nghe phúc trình về tội trạng của Huỳnh công Lý, chính vua Minh Mạng mà còn phải thốt lên: “Trẫm nuôi dân như con, thật không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Huỳnh công Lỳ làm phó tổng trấn mà bóc lột của dân trên 3 vạn. nếu các quan mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được.”

19) Lần đầu từ năm 1813 đến 1816 và lần sau từ năm 1820 đến khi Ngài qua đời vào năm 1832.

20)  Bạch Xuân Nguyên là người mà trước đây đã bị đức Tả quân từ chối không thâu nhận khi triều đình cử vào làm phụ tá cho ngài.

21)  Con nuôi của Lê văn Duyệt.

22) Nguyễn phúc Mỹ Đường là cháu đích tôn dòng chính của Nguyễn Ánh.

23)  Kể cả người già và trẻ em.

24)  Xẻo thịt ra từng miếng.

25) Phải thành thật mà nói, ngoài những lăng tẩm các vua triều Nguyễn ở miền Trung, trong tất cả những lăng mộ ở Sài Gòn và Gia Định hay cả vùng đất phương Nam, chưa có lăng mộ nào so được với lăng mộ đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, về mọi mặt: bề thế, kỳ vĩ và ngay cả tâm linh. Ngày nay mỗi lần nhắc tới đức Tả Quân Lê Văn Duyệt thì hầu như ai trong chúng cũng đều có một niềm tin tưởng giống như nhau và đều thốt lên một câu gần giống như nhau: “Ngài sống làm tướng, chết làm thần hộ trì cho dân chúng vùng đất phương Nam.” Hiện nay Lăng Ông Bà Chiểu hay Lăng mộ của Tả Quân Lê Văn Duyệt và Phu Nhân tọa lạc trong quận Bình Thạnh, Sài Gòn, với một diện tích khoảng 18.500 mét vuông, nằm giữa bốn con đường Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, và Vũ Tùng, trên một gò đất cao nằm sát bên chợ Bà Chiểu. Có lẽ vì vậy mà người ta thường gọi là Lăng Ông ở Bà Chiểu, một lúc người ta lại bỏ đi chữ “ở” nên chỉ còn bốn chữ Lăng Ông Bà Chiểu mà thôi. Chung quanh lăng đều có vòng tường bao bọc, được trổ 4 cổng ra vào theo 4 hướng. Kiến trúc lăng mộ từ cổng Tam quan đi vào gồm có: nhà bia, lăng mộ và miếu thờ.

(26) Dầu hoàng tử Cảnh đã qua đời, nhưng con là hoàng tử Nguyễn phúc Mỹ Đường là cháu nội đích tôn của Gia Long, đáng lý theo tục lệ phải được nối ngôi; tuy nhiên, năm 1816, vua Gia Long đã không chọn con dòng chánh, mà quyết định chọn hoàng tử Đảm là con của bà Thuận Thiên, một thứ thiếp của Gia Long. Chính sự can ngăn nầy của đức Tả Quân Lê văn Duyệt đã khiến Minh Mạng đem lòng thù hận và đã thù trả oán đức Tả Quân một cách nhỏ nhen ngay khi Tả Quân vừa mới qua đời.

(27)Người bình dân dùng từ ‘con đỏ’ để chỉ những đứa con còn nhỏ và cần được sự thương yêu chăm sóc đặc biệt của cha mẹ.

                                                                     ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn