Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000136
Số lượt truy cập
17481884
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-04-23 02:58:44

 

 CHƯƠNG MƯỜI BẢY

 

Công Lao Của Đức Tả Quân

Lê Văn Duyệt Trên Vùng Đất Phương Nam

 

(I)      Tiểu Sử Và Công Nghiệp Của Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt-1832):(1763

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 22 và 23, Lê văn Duyệt sanh năm 1764 và mất năm 1832. Ông đã theo Nguyễn Ánh từ năm 17 tuổi và lập được rất nhiều chiến công. Ông là một danh tướng trung thành và hiển hách nhất vào thời Nguyễn sơ. Ông là một khai quốc công thần và là người có công rất lớn trong việc giúp cho Nguyễn Ánh đánh chống nhà Tây Sơn vào hậu bán thế kỷ thứ XVIII. Lê văn Duyệt vốn gốc ở làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi; từ đời nội tổ dời về Nam lập nghiệp ở làng Hòa Khánh thuộc tỉnh Định Tường, gần vàm Tà Lọt, làng Hòa Khánh, châu Định Viễn, thuộc dinh Long Hồ. Qua đến đời cha ông, ông Lê Văn Toại, thì lại dời đến ở vùng Rạch Gầm, nay thuộc làng Long Hưng, gần chợ ông Hổ(1) cũng trong tỉnh Mỹ Tho. Tại đây Lê văn Duyệt chào đời vào năm 1764. Ông là người có sức khỏe, rất thông minh, và rất ham võ nghệ. Tuy là bị tật hoạn từ lúc nhỏ, nhưng ông lại có sức khỏe hơn người. Ông thường nói với các bạn cùng lứa trong xóm: “Laà trai sống trong thời loạn, không giúp ích gì cho quê hương xứ sở là một điều rất tủi nhục, phải nuôi ý chí chờ cơ hội thực hiện nguyện vọng.” Khi Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn đến Rạch Gầm, đã gặp và chiêu nạp Lê văn Duyệt làm bộ hạ. Ông là người có công lớn trong việc giúp Nguyễn Ánh giành giựt lại giang sơn từ tay ấu chúa Tây Sơn. Vào năm 1780, Nguyễn Ánh xưng vương tại thành Gia Định, vì biết ông có tật ẩn cung, nên bổ ông vào chức Thái Giám Nội Đình, quản lãnh hai đội Thuộc Nội. Sau đó ít lâu, ông bị quân Tây Sơn bắt, nhưng trốn thoát, trở về được thăng chức Cai Cơ.

Năm Quí Mão, 1783, nghĩa binh Tây Sơn lại vào đánh chiếm thành Gia Định, Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm La, Lê Văn Duyệt rước cung quyến ra tránh nạn ngoài những hải đảo trong Vịnh Xiêm La. Cuối năm Giáp Thìn, 1785, liên quân Xiêm La-Nguyễn Ánh bị đại bại tại vùng đất phương Nam, Lê Văn Duyệt cùng 12 cận thần đưa Nguyễn Ánh chạy bộ từ Vân Dã đến Thi Giang, vô cùng gian truân. Sau đó, ông lại theo Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu cứu. Như vậy, tính đến năm 1785, ông đã hai lần phò tá Nguyễn Ánh chạy trốn sang Xiêm. Đến mùa thu năm Đinh Tỵ, 1787, nhân lúc toàn quân Tây Sơn phải kéo về Bắc để dẹp giặc Thanh, ông đã nhân cơ hội này tuyển mộ thêm quân sĩ giúp Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Gia Định, ông được phong chức Thuộc Nội Vệ Úy Quần Thần Sách. 

Như vậy, kể từ năm 1787, Lê văn Duyệt đã bắt đầu đứng trong hàng tướng lãnh cao cấp của quân đội Nguyễn Ánh. Năm 1793, Lê văn Duyệt cùng với các tướng Nguyễn văn Trương, Nguyễn huỳnh Đức, Nguyễn văn Thành, Võ di Nguy và Võ Tánh theo Nguyễn Ánh ra đánh thành Qui Nhơn. Sau đó, vào năm Ất Mão, 1795 ông lại có công trong việc tiếp viện hạ thành Qui Nhơn nên được phong chức Vệ Úy Diệu Võ, lại đổi làm Chánh Thống Tả Đồn Thuộc Quân Thần Sách, lãnh Trấn thủ thành Diên Khánh. Đầu năm Kỷ Mùi, án ngữ tại đèo Bình Đê, ngăn lối viện binh của Tây Sơn, khiến Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng phải bỏ thành rút lui. Sau khi Nguyễn Ánh lấy Qui Nhơn rồi giao cho Võ Tánh và Ngô Tòng Châu trấn giữ. Năm 1799, quân Tây Sơn kéo vào vây Bình Định, ông đem quân áng ngữ tại vùng Bình Đê ngăn chận viện binh Tây Sơn. Nhờ tài dụnh binh và phép hỏa công của Lê văn Duyệt mà Nguyễn Ánh thắng trận này. Lúc này, trong thành Qui Nhơn, quan Thiếu Phó Tây Sơn là Trần Quang Diệu và quan Tư Đồ Võ Văn Dũng bị cô lập, không giữ nổi nên phải rút quân về đóng tại Đồn Thanh Hảo, thuộc Quảng Ngãi. Sau khi chiếm thành Qui Nhơn, Lê Văn Duyệt đề nghị Nguyễn Ánh giao thành cho Hậu Quân Võ Tánh và Lễ Bộ Ngô Tùng Châu trấn giữ để lo việc phòng thủ, còn toàn bộ rút về Gia Định dưỡng quân chờ cơ hội thuận tiện sẽ đem quan ra đánh chiếm Phú Xuân.

Đến tháng chạp năm Kỷ Mùi, 1799, nghĩa binh Tây Sơn lại kéo vào vây hãm thành Qui Nhơn. Đầu năm Canh Thân, 1800, Tả Quân Lê Văn Duyệt cùng Nguyễn Ánh đưa quân ra tiếp cứu thành Qui Nhơn. Tuy nhiên, lúc này hỏa lực của quân Tây Sơn quá mạnh, nên quân của Nguyễn Ánh đành phải rút lui về phía Nam thành Bình Định. Đến ngày rắm tháng giêng năm Tân Dậu, 1801, Lê Văn Duyệt lại dùng phép hỏa công giúp cho quân của Nguyễn Ánh đốt phá đội Thủy Quân của Tây Sơn tại vùng cửa Thị Nại. Rồi sau đó đã cùng theo Nguyễn Ánh ra đánh lấy Phú Xuân một cách dễ dàng.

Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng “Đệ nhất khai quốc công thần”, nhà vua liền phong cho ông là Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân, cử ông cùng Lê Chất và Tống Viết Phúc mang quân theo ngả Quảng Ngãi vào tấn công và tái chiếm thành Bình Định. Sau đó vua Gia Long lại cử ông lại cùng Trung Quân Nguyễn văn Trương và Hậu Quân Lê Chất tiến quân đánh ra Bắc Hà. Sau khi bình định xong Bắc Hà, vua Gia Long cử ông giữ chức Kinh Lược xứ Thanh Nghệ. Từ năm 1803 đến năm 1808, ông lãnh sứ mạng dẹp giặc “Mọi Đá Vách” ở Quảng Ngải. Năm Quí Dậu 1812, tại Cao Miên có nội loạn, các em của vua Nặc ông Chân sang Xiêm cầu cứu để cướp ngôi, ông phụng mệnh làm Tổng Trấn Gia Định Thành và cất quân dẹp được loạn lạc cho xứ Cao Miên. Năm 1813, ông cùng Ngô Nhân Tịnh vâng mệnh vua, đem chiến thuyền cùng 13.000 quân binh đưa Vua Chân Lạp là Nặc ông Chân về thành La Bích (Lovek) và đưa lên ngôi vị cũ. Từ đó quân Xiêm La cũng tự động rút lui và Nặc Ông Chân cũng chịu quyền bảo hộ của Việt Nam. Trước khi rút đại quân về Gia Định, Lê Văn Duyệt đã dâng sớ về triều đình đệ nghị với nhà vua điều hơn lẽ thiệt(2). Vua Gia Long đã chấp thuận đề nghị của Lê Văn Duyệt. Nhà vua ra lệnh cho Duyệt đem thủy binh đóng ở Xà Năng, đem bộ binh đóng đồn ở những nơi trọng yếu, rồi đưa quốc thư sang trách nước Xiêm La. Sau khi nhận được quốc thư, quân Xiêm La bèn rút về Bắc Tầm Bôn. Lệ văn Duyệt ra lệnh cho quân ta xây đắp 2 thành Nam Vang và Lư Yêm. Đồng thời, dựng đài An Biên và dựng nhà Như Viễn để làm nơi cho Phiên Vương vọng bái. Xong việc, vua Gia Long ra lệnh cho Lê Văn Duyệt rút quân về Gia Định, chỉ lưu lại tướng Nguyễn Văn Thoại ở lại chỉ huy 1.000 quân binh tại Nam Vang để bảo vệ Phiên Vương.

Trong đời làm tướng của Tả Quân Lê Văn Duyệt, ngoài sự nghiệp một thời trai trẻ bôn ba phò Nguyễn Ánh bôn tẩu khắp nơi, giúp Nguyễn Ánh giành lại chiếc ngai vàng cho dòng họ Nguyễn, Lê Văn Duyệt còn có những chiến công hiển hách khác như bình định đất Nam Kỳ trừ hung khử bạo, bắt tên hung đồ “Phụng Ba Đuôi”, dẹp giặc “Mọi Vách Đá” dọc theo dãy Trường Sơn từ Quảng Ngãi đến Quảng Nam. Khi ông được bổ nhậm vào chức Tổng trấn thành Gia Định, chịu trách nhiệm luôn cả trấn Bình Thuận. Riêng tại thành Gia Định, trong vòng chưa đầy một năm mà Lê Văn Duyệt đã tiểu trừ sạch bọn cướp lộng hành nhân khi quan quân Việt kéo lên Nam Vang. Đến năm Bính Tý 1816 ông được vua Gia Long triệu về Kinh để nghị bàn về việc lập ngôi Thái Tử. Đến năm Canh Thìn, 1820, vào năm Minh Mạng nguyên niên, ông lại được cử vào làm Tổng Trấn Gia Định để dẹp giặc Miên do một người Thổ tên Kê nổi lên cướp phá các tỉnh miền Nam. Dẹp xong giặc, ông vẫn tiếp tục ở lại làm Tổng Trấn cho đến khi ông mất vào ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832), thọ 70 tuổi. Khi làm Tổng trấn Gia Định Thành, uy danh ông lừng lẫy không chỉ trong nước mà còn lan ra các xứ lân cận. Các nước Cao Miên, Xiêm La và Diến Điện đều nễ vì và thường gọi ông là “Cọp Gấm Đồng Nai”. Người đương thời liệt ông vào năm vị hổ tướng của miền Nam(3).

(II)     Lê Văn Duyệt, Một Danh Tướng Và Một Nhà Chánh Trị Tài Ba:

Phải thành thật mà nói, lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử miền Nam thời khẩn hoang nói riêng, Lê văn Duyệt không những là một danh tướng, mà còn là một nhà chánh trị tài ba. Trong suốt thời gian giữ chức Tổng Trấn Gia Định Thành, Tả Quân Lê văn Duyệt đã đem lại sự thanh bình, ấm no và thịnh vượng cho dân chúng trong toàn vùng. Ông đã hết lòng lo việc cho dân cho nước, ban bố một đường lối ngoại giao hết sức sáng suốt, một đường lối cai trị hết sức nhân đạo và công bằng. Do đó dân gian trong vùng gọi ông là Đức Thượng Công. Tuy nhiên, đường lối ngoại giao cởi mở và cai trị nhân hậu của ông hoàn toàn đi ngược lại với chánh sách bế quan tỏa cảng và cai trị hà khắc của vua quan nhà Nguyễn thời bấy giờ, nên Minh Mạng không ưa gì Lê văn Duyệt, ngặt vì uy danh và công trạng của ông quá lớn nên Minh Mạng không dám đụng đến ông lúc còn sống. Ngoài ra, Lê văn Duyệt còn là một nhà ngoại giao khôn khéo, có óc thức thời, luôn chuộng tiến bộ, chứ không khư khư thủ cựu như đám sĩ phu đương thời. Ngài hết lòng giúp Nguyễn Ánh đánh Nam dẹp Bắc để lấy lại giang sơn, lập nên Nhà Nguyễn. Ngài là một trong những đệ nhất công thần của Nguyễn triều, được hưởng đặc quyền vào chầu vua không phải lạy, và được quyền tiền trảm hậu tấu ở biên cương. Thế nhưng không vì thế mà Ngài lạm quyền tiếm vị, không vì thế mà Ngài hống hách hay hà hiếp dân chúng. Dù không ưa gì Minh Mạng và cũng không bao giờ chủ trương tôn Minh Mạng lên nối ngôi, vì lúc nào Ngài cũng chủ trương tôn con Hoàng Tử Cảnh, tức cháu đích tôn của Gia Long lên ngôi tức vị. Tuy nhiên, ngài luôn giữ dạ trung thành đối với Nhà Nguyễn, khi Minh Mạng đã lên ngôi, ngài không vì thế mà hiềm khích. Ngược lại, ngài luôn hết lòng phò trợ vua Minh Mạng cho đến hết đời mặc dầu trong lòng ngài không một chút kính phục vị vua nầy. Trong khi đó, Minh Mạng thì luôn nhớ tới chuyện xưa, chuyện Ngài không tôn phù ông, nên luôn tìm cách hãm hại ngài, nhưng không thể hại ngài được lúc sanh tiền vì uy danh của ngài trải khắp miền Nam và cả nước. Tuy vậy, lúc mới lên ngôi Minh Mạng rất cần sự trợ giúp của ngài nên đã không ngần ngại ân thưởng ngọc đái cho ngài, một thứ mà từ xưa đến giờ trong hoàng thân quốc thích cũng chưa được ân thưởng.

Đức Thượng Công là một người luôn giàu lòng từ thiện nhân ái đối với những kẻ yếu đuối cô thế, lúc nào Ngài cũng sẵn sàng đem hết tài sức mình ra giúp đỡ bảo vệ họ, chống lại sự chèn ép, hà hiếp, áp bức của những kẻ mạnh, ỷ quyền, cậy thế. Ngài vốn hết sức thanh liêm, đi tới đâu là thẳng tay trừng trị bọn quan lại tham tàn bốc lột, bức hiếp dân lành tới đó. Ngài không lòn cúi nịnh bợ ai bao giờ, Ngài rất ghét đám quan lại đội trên đạp dưới. Ngài rất sáng suốt trong chánh sách trị loạn. Ngài biết rõ sở dĩ dân lành phải nổi loạn vì họ không còn sống nổi dưới ách cai trị áp bức tàn nhẫn của bọn quan lại tham lam ích kỷ cho nên muốn bình định cho hữu hiệu thì phải quét sách hết đám quan lại tham nhũng kia đi. Ngài đến đâu là đem lại sự an bình thịnh vượng cho người dân đến đó. Nơi nào được đặt dưới sự cai trị của ngài, dứt khoát nơi đó không chấp nhận tham quan ô lại. Ngài sẳn sàng chặt đầu những tên tham quan ô lại hống hách với dân chúng, ngay cả khi người đó là cha vợ của nhà vua. Chính vì thế mà quan quân từ trên xuống dưới rất có kỷ luật và rất nể phục uy danh của ngài. Lúc làm Tổng trấn Gia Định Thành, chẳng những ngài là một vị quan hết mực thanh liêm, mà ngài còn bỏ tiền bổng lộc của chính mình ra để giúp đở dân nghèo. Lúc đó, ngài đã cho thành lập trong thành Gia Định hai cơ quan từ thiện, thứ nhất là “Anh Hài” để rèn luyện võ nghệ cho những trẻ thích kiếm cung, thứ nhì là “Giáo Dưỡng” để giúp cô nhi quả phụ học nghề nghiệp hay văn chương. Chính nhờ vậy mà đa số dân chúng trong phạm vi lãnh thổ của thành Gia Định đều được an cư lạc nghiệp.

Tưởng cũng nên nhắc lại về đức độ của ngài đối với những người nổi loạn. Mỗi khi được triều đình cử đi dẹp loạn, khi đến nơi việc đầu tiên ngài làm là điều tra về hành vi của các quan lại địa phương. Sau khi tìm hiểu rõ vấn đề, nếu cần ngài chỉ cần ra tay diệt trừ bọn cường hào ác bá tại địa phương là không còn ai muốn nổi loạn nữa. Bằng chứng cụ thể là từ năm 1803 đến năm 1808, ngài lãnh sứ mạng dẹp giặc

“Mọi Đá Vách” ở Quảng Ngãi, ngài đã không cần đánh dẹp đâu xa mà chỉ đánh dẹp bọn cường hào ác bá tại địa phương, ngài đã cho xử trảm Chưởng cơ Lê Quốc Huy, vì tội tham nhũng và bức hiếp dân chúng. Kết quả là những người làm loạn trở về với triều đình, thế là hết loạn và dân chúng trong vùng trở lại cảnh an cư lạc nghiệp. Đến năm Quí Dậu 1813, tại Cao Miên có nội loạn, các em của vua Nặc ông Chân sang Xiêm cầu cứu để cướp ngôi. Khi ngài phụng mệnh làm Tổng Trấn Gia Định Thành, nhờ tài năng và đức độ, sau khi cất quân đến đất Cao Miên, ngài đã giải quyết việc loạn lạc cho xứ Cao Miên và đưa Nặc ông Chân về ngôi vị cũ. Đến năm 1819, ngài được vua Gia Long cử đi kinh lược hai trấn Thanh Hóa và Nghệ An. Tại đây ngài đã thẳng tay trừng trị bọn tham quan ô lại, rồi chiêu dụ những kẻ làm loạn về với triều đình. Sau đó ngài cho những người làm loạn thành lập 3 đội lính ‘Hồi Lương’ với các tên An Thuận, Bắc Thuận và Thanh Thuận. Chính nhờ ở tài năng và đức độ của ngài mà ngài đã trị an được nhiều nơi loạn lạc một cách hữu hiệu mà không gây tổn thất cho quân triều đình cũng như phía làm loạn.

Công lao lớn nhất của Ngài mà người dân miền Nam phải đời đời mang ơn tôn kính là công khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Gia Định xưa chạy dài từ Bình Thuận đến Cà Mau nơi Ngài đã từng hai lần làm Tổng Trấn. Ngài biết rõ hơn ai hết cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã gây bao nhiêu điêu tàn đổ vở cho Miền Nam trên đường phát triển, gây trở ngại lớn lao cho dân chúng Miền Nam trên đường gầy dựng sự nghiệp. Đâu đâu dân chúng cũng mong đợi cảnh hòa bình, cuộc trị an, cơ hội thuận lợi để làm ăn xây dựng lại cuộc đời, xây dựng lại nền an ninh thịnh vượng cho xứ sở. Những mong ước chính đáng đó của người dân Đồng Nai Cửu Long đã được đáp ứng sau khi Gia Long thống nhất đất nước và nhất là khi Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt hai lần vào làm Tổng Trấn Gia Định, một chức vụ rất quan trọng thời đó, được xem như là Phó Vương, chỉ dưới quyền của vua mà thôi. Sau khi nhậm chức Tổng trấn lần thứ hai(4), ngài đã lo xây đắp thành trì nhằm phòng bị nếu có chiến tranh với Chân Lạp hay Xiêm La. Đến năm 1830 thì thành Gia Định đã xây xong, tường thành rất cao được xây bằng đá ong, bên ngoài có hào sâu. Để làm an lòng dân chúng cũng như thị uy các nước lân cận, hàng năm ngài đều cho diễn binh biểu dương sức mạnh quân sự của nước Nam.

                                                                        ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn