Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000140
Số lượt truy cập
17482210
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-04-19 09:20:17

 Cuối năm 1821, Trịnh Hoài Đức hộ giá vua Minh Mạng đi tuần du Bắc Thành. Sau chuyến tuần du, ông dâng lên triều đình hai bộ sách: Lịch Đại Kỷ Nguyên và Khương Tế Lục. Đến năm Quý Mùi, 1822, triều đình Huế bắt đầu mở ân khoa thi Hội, Trịnh Hoài Đức là một người có tài đức sâu dầy, khiến mọi người đều ngưỡng mộ, nên nhà vua cử ông làm chủ khảo. Đến kỳ thi Đình năm ấy, ông lại được cử làm quan Độc Quyển. Ông là một vị quan thanh liêm cần chánh, luôn sống đời thanh bạch và kiệm ước, nên đến gần cuối đời ông cũng chẳng có lấy được một căn nhà riêng. Vua Minh Mạng bèn ra lệnh xuất 3.000 quan tiền mua gạch, ngói và gỗ để làm cho ông một căn nhà. Cũng vào năm 1822, ông được giao kiêm lãnh Thượng Thư Lễ Bộ. Đến múa thu năm 1823, nhận thấy mình đã quá già yếu bệnh hoạn nên xin cáo quan về hưu. Vua cho ông tạm nghỉ ngơi, nhưng ngay sau khi hết bệnh, nhà vua lại giao nhiệm vụ như cũ cho ông. Đến mùa thu năm 1824, Trịnh Hoài Đức được sung làm Tổng Tài sửa soạn Ngọc Phả, kiêm lãnh công việc nhà Thương Bạc.

Đến năm Ất Dậu, 1825 thì ông qua đời ở ngoại thành Huế, hưởng thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng truy tặng chức Thiếu Phó Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, và ban tên thụy là Văn Khác. Nhà vua đã ra lệng bãi triều 3 ngày để tưởng niệm ông. Linh cửu của ông được đưa về Gia Định, và khi về đến Gia Định thì đích thân Tổng Trấn Lê văn Duyệt ra đón linh cửu ngoài cửa thành. Chính quan Tổng Trấn đã nói với mọi người rằng: “Hiệp Biện họ Trịnh là người đáng khen đời nay!” Sau đó linh cửu của ông được đưa về xã Bình Trước, thuộc Biên Hòa và an táng tại đó. Năm 1852, vua Tự Đức cho thờ linh vị Trịnh Hoài Đức trong Trung Hưng Công Thần Miếu, và đến năm 1858 lại được tiến tự vào đền Hiền Lương.

Người đời thường biết tiếng Trịnh Hoài Đức là một vị quan thanh liêm cương trực, học rộng hiểu sâu, đã để lại cho đời những tuyệt phẩm vô cùng bổ ích. Nhưng ít ai biết được ông là một người con chí hiếu, ngày ngày chính ông tự tay dâng lên cho mẹ ly trà tách nước. Khi được cử đi sứ sang Trung Hoa, lúc từ giã mẹ, ông đã làm bài thơ vô cùng cảm động của người con chí hiếu:

“Lìa hiệp thương nhau kể mấy hồi, Ân tình ai cũng khéo phanh phui. Trăng lòa ải Bắc nhàn chinh bóng, Thu quạnh trời Nam quạ đút mồi. Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt, Công danh nghĩ lại mướt mồ hôi.

Quân thân tuy cách lòng đâu cách, Trọn đạo con là trọn đạo tôi.”

Chúng ta ai cũng biết, Trịnh Hoài Đức là dòng dõi con nhà quan dưới thời nhà Minh, nên khi được vua Gia Long cử đi sứ nhà Thanh, ông đã vừa mừng được trở lại thăm cố hương, nhưng cũng vừa chua xót đắng cay thốt ra những câu thơ hết sức ngậm ngùi. Dưới đây là một trong mười tám bài thơ của Trịnh Hoài Đức khi về Trung Hoa vào chầu vua nhà Thanh:

“Chi chi nghe đến tấm lòng xiêu, Chập trổi tỳ bà oán hận nhiều.

Riêng trách chẳng vàng người vẻ tượng, Tây than không bạc nịnh mua yêu.

Đất Hồ hoa ủ mùi khôn lạt,

Trời Hán trăng tròn bóng xế theo. Bao quản Ngọc quan tình mấy dặm, Mưa sầu gió thảm thuở Ban Siêu. Ban Siêu bên núi bóng cờ giơ, Tuyết trải năm ba hãy đợi chờ.

Lố dạng ác vàng lòng có Hán, Liếc coi tuyết bạc mắt không Hồ.

Chong sương một cán cờ ngay thẳng, Chải gió năm canh dạ phất phơ.

Vói hỏi xanh xanh kia biết chẳng, Ngày nào về đặng nước nhà xưa?”

Đang khi tưởng mình như cảnh Chiêu Quân đi cống Hồ, nhưng Trịnh Hoài Đức chợt liên tưởng tới Ban Siêu, khiến lòng tràn dâng niềm căm tức đến nỗi phải buộc miệng hỏi ông trời “Ngày nào về đặng nước nhà xưa?” Nước Việt Nam thì đương nhiên là sau khi hoàn thành nhiệm vụ xong là ông sẽ về, nhưng ý của ông Trịnh ở đây là Nước Nhà Minh kìa! Thì ra không riêng gì dòng họ Trịnh Hoài Đức, mà có lẽ tất cả những người Minh Hương đến Việt Nam trước đây đều mong có một ngày được trở về lại bản quán trong ca khúc khải hoàn. Tưởng cũng nên nhắc lại là trước khi đi sứ nhà Thanh, Trịnh Hoài Đức đã có chân trong nhóm “Sơn Hội(7)”, một nhóm được người Minh hương vùng Gia Định tổ chức với mục đích rất rõ ràng là “Phản Thanh Phục Minh”. Chính vì vậy mà dầu cho ở trong bất cứ cương vị nào, dầu đi đâu ở đâu, lòng của Trịnh Hoài Đức luôn hướng về nước cũ “Nhà Minh”. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết về Trịnh Hoài Đức trong tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam này, tác giả không thể nào viết hết được về thân thế, quan trường và sự nghiệp văn chương của cụ Trịnh, nhưng ngày nay người ta đã ấn loát rất nhiều những sách vở viết về cụ. Những ai muốn hiểu biết thêm về một con người Minh Hương họ Trịnh đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển và trị an cho vùng đất phương Nam, có thể tìm đọc thêm để thấy và để biết được những công trình sáng tác và biên khảo rât1 có giá trị của họ Trịnh.

Trịnh Hoài Đức là một trong những người gốc Minh Hương xuất chúng, vì ông chẳng những đạt được đến tuyệt đỉnh trên đường hoạn lộ, ông có tài thao lược về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế và xã hội, vân vân; mà ông còn xuất sắc về mặt văn chương nữa, nhất là về văn học và thi ca. Luận bàn về Trịnh Hoài Đức, sử thần triều Nguyễn đã nhận định trong Đaị Nam Liệt Truyện, Nhị Tập như sau: “Đức là người cẩn thận, phong độ, trầm tĩnh, nghiêm chỉnh, học vấn rộng rãi, nghị luận thường giữ đại thể, đức nghiệp văn chương, đời phần tông trọng.” Lúc đương thời, trong những lúc nhàn rỗi, ông cùng với các bạn Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định , cùng nhau xướng họa thi thơ rất tương đắc trong nhóm “Bình Dương Thi Xã”. Chính vì thế mà nhóm sĩ phu thời đó gọi ba vị này là “Gia Định Tam Thi Gia.” Trong những lần nói chuyện với các bạn đồng liêu, ông đã bày tỏ sự thán phục bậc tiền bối Mạc Thiên Tứ, người đã sáng lập ra “Chiêu Anh Các(8).” Bên cạnh đó, ông còn rất ngưỡng mộ dòng họ Mạc nơi ý chí “Phản Thanh Phục Minh.” Chính bản thân ông, ông đã cùng với Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định sáng lập ra Bình Dương Thi Xã tại vùng Phiên An, Gia Định. Thi Xã này còn được thi nhân đương thời gọi là “Sơn Hội,” vì trong thi đàn ai cũng có thi hiệu có chữ “Sơn” như Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Nhữ Sơn Ngô Nhơn Tịnh, Hối Sơn Huỳnh Ngọc Uẩn, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, vân vân. Ông viết bài tựa cho bộ “Minh Bột Di Ngư(9),” một áng văn tuyệt hảo của nhóm Chiêu Anh Các, bộ Lịch Đại Kỷ Nguyên, bộ Khương Tế Lục(10), bộ Cấn Trai Thi Tập(11) bộ Gia Định Tam Thi Gia Tuyển Tập(12), bộ Bắc Sứ Thi tập(13). Ngoài ra, Trịnh Hoài Đức còn góp nhiều công sức trong việc phát triển văn hóa Đất Phương Nam, ông đã bỏ ra rất nhiều công sức và hy sinh rất nhiều thời gian để biên soạn bộ “Gia Định Thành Thông Chí(14),” là một trong những bộ sách chính đã giúp cho người viết bài này soạn ra bộ sách “Đất Phương Nam” được xuất bản năm 2012 tại Hoa Kỳ. Khi biên soạn bộ Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức đã nói lên hết tâm huyết của một con dân đất phương Nam. Trong quyển II, phần Sơn Xuyên Chí, ông đã mở lời nhận định với tất cả tấm lòng yêu quý và tự hào về mảnh đất nơi mình đã sinh ra và lớn lên như sau: “Núi là xương của đất, nước là máu của đất, xương máu lưu thông, thành ra đất đai một phương. Đất đai ấy sản sanh ra những anh hùng hào kiệt, trung thần liệt nữ, và chứa nhiều bảo vật, sinh sản của cải không vật gì không đủ...”

Trịnh Hoài Đức chẳng những là một đại quan trong triều đình nhà Nguyễn, mà ông còn là một nhà văn hóa lớn có tầm cỡ của Việt Nam, một trong những nhà địa phương chí lỗi lạc của Việt Nam. Mặc dầu là một người Minh Hương, nhưng ông sanh ra và lớn lên ở Việt Nam, nên tâm hồn ông lúc nào cũng hướng về Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ rệt qua các công trình sáng tác và trước tác văn học của ông đối với văn hóa Việt Nam vào những thập niên cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX. Thơ văn Trịnh Hoài Đức khá nhiều về số lượng, nhưng điều quan trọng là phẩm chất của các tác phẩm của ông đã đóng góp lớn lao vào kho tàng văn hóa Việt Nam.

Tác phẩm Gia Định Thành Thông Chí chẳng những là một bộ sách rất có giá trị cho những nhà nghiên cứu sau này về vùng đất phương Nam, mà còn là một tác phẩm có tầm cỡ giá trị lớn đối với toàn bộ văn học Việt Nam.

Nói tóm lại, Trịnh Hoài Đức, dòng dõi của những người Minh Hương, đã góp công góp sức rất nhiều trong việc giữ vững bờ cõi Đất Phương Nam. Nội tổ của ông lại chọn vùng đất phương Nam này làm quê hương thứ hai, nơi mà chính người viết bài này lúc nào cũng chất chứa đầy ấp tình yêu thương, vì đã được thừa hưởng nơi các bậc tiền nhân một truyền thống văn hóa hết sức đặc biệt của Đất Phương Nam. Ông là một trong những khai quốc công thần hồi đầu đời nhà Nguyễn. Bộ mặt của vùng đất phương Nam mà ngày nay chúng ta có được luôn phảng phất đó đây chẳng những hình ảnh của một Trịnh Hoài Đức trung quân ái quốc, mà còn rất thân thương với người dân xứ này. Hôm nay kẻ hậu bối ngồi đây, một nơi viễn xứ, cách xa vùng Đất Phương Nam đến hơn nửa vòng trái đất, nhưng lúc nào cũng nghĩ tưởng về vùng đất yêu thương, vùng đất đã đưa mình vào đời, vùng đất đã tạo nên những nhân kiệt xuất chúng, vùng đất mà một thuở Trịnh Hoài Đức đã hết lòng hết sức góp tay vun đắp. Xin tiền nhân Trịnh Hoài Đức hãy nhận nơi đây một nén hương với trọn lòng biết ơn và kính ngưỡng của đàn hậu bối!!!

Ghi Chú:

(1)          Gia Định Xử Sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản là một nhà nho thuần hậu, đạo cao đức trọng thời bấy giờ. Nhân cách thanh cao của cụ Võ đã ảnh hưởng rất lớn với Trịnh Hoài Đức trên đường hoạn lộ, cũng như trên đường làm văn hóa về sau này. Tưởng cũng nên nhắc lại là chính tại ngôi trường của nhà nho Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức đã kết bạn với hai nhà nho nổi tiếng khác của vùng đất phương Nam thời bấy giờ, đó là ông Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh. Họ chính là Gia Định Tam Gia hồi cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ thứ XVIII, những người đã sáng lập nên Bình Dương Thi Xã. Từ đó mà Gia Định Tam Gia Thi Tập ra đời, để lại cho hậu thế những vần thơ tuyệt trác.

(2)          Chúa Nguyễn Phúc Khoát trị vì ngôi chúa từ năm 1738 đến năm 1765, về sau được truy tôn làm Thế Tông Hiếu Võ Hoàng Đế.

(3)          Giáp Phó Sứ, tức là Phó Sứ thứ nhất; Ất Phó Sứ tức là Phó Sứ thừ nhì. Sứ đoàn dùng hai chiếc thuyền là Bạch Yến và Huyền Hạc, từ cửa Thuận An đi đến Tam Tượng, thuộc hải phận Quảng Đông, thì đoàn gặp bão. Trịnh Hoài Đức ngồi thuyền Bạch Yến đến trước ở bãi cát Thượng Xuyên. trong khi Tịnh và Uyển ngồi thuyền Huyền Hạc trôi giạt vào Vũng Lớn. Đến tháng 7, tất cả mới đến cửa Hổ Môn thuộc tỉnh Quảng Đông. Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Giác La Cát Khánh đem việc tâu lên, Hoàng Đế Thanh Triều giáng chỉ dụ, chuẩn cho sứ bộ đi gấp đến tỉnh Quảng Tây rồi lên Kinh. Lúc đó thì bên Đại Việt, Gia Long cũng vừa lấy xon toàn cõi đất nước, bèn sai Binh Bộ Thượng Thư là Lê Quang Định sang xin tấn phong. Sứ đoàn Trịnh Hoài Đức ở lại Quảng Tây chờ Lê Quang Định. Đến tháng tư năm 1803, thuyền của Trịnh Hoài Đức mới rời Quảng Tây để đi Hán Khẩu, tỉnh Hồ Bắc. Trong khi Sứ đoàn đi ngang qua các trấn Quảng Tây, Hồ Bắc, Hán Khẩu, và Vạn Lý Trường Thành, Trịnh Hoài Đức đã khéo léo giúp quan quân địa phương bắt bọn giặc Tề Ngôi giải về Quảng Đông nên rất được lòng nhà Thanh. Tháng tám năm 1803 thì đến Nhiệt Hà, thuộc Mãn Châu, nơi mà từ nhà Tiền Lê trở về sau này chưa từng đến. Sau khi bái yết và trình quốc thư cũng như thư xin phong vương. Cưối tháng tám, Sứ đoàn cùng sứ giả nhà Thanh lên đường về Việt Nam làm lễ tấn phong cho vua Gia Long. 

(4)          Thời các chúa Nguyễn, chức Hiệp Tổng Trấn là Phó Tổng Trấn, hay phụ tá cho vị Tổng Trấn.

(5)          Tương đương với chứ Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ngày nay.

(6)          Tháng 11 năm Bính Tý, 1816, Tổng Trấn thành Gia Định là Nguyễn Huỳnh Đức dâng biểu nói: “Nay Phó Tổng Trấn Trương Tấn Bửu và Tham Tri Lê Bá Phẩm đều đã về kinh, thần là kẻ thường tài, ở một mình nơi xung yếu bận rộn, nhiều việc chồng chất, xin chọn người làm phó.” Tờ biểu được dâng lên vua Gia Long. Vua bảo nguyễn Văn Nhân rằng: “Gia Định là thành lớn ở phương Nam, lại có việc ngoại giao quan trọng, không được người giỏi thì không xong”. Bèn cử Lại Bộ Thượng Thư Trịnh Hoài Đức vào làm Hiệp Tổng Trấn.

(7)          Ba ông Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh đã lập nên “Bình Dương Thi Xã”, nhưng thi xã này lại còn có một cái tên khác nữa, đó là “Sơn Hội”. Các hội viên của thư xã này đều để hiệu có chữ “Sơn”, như Chỉ Sơn trịnh Hoài Đức, Nhữ Sơn Ngô Nhân Tịnh, Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, vân vân. Tôn chỉ của “Sơn Hội” thời bấy giờ vẫn là văn thơ, nhưng bản hoài của tất cả hội viên trong hội đều là một lòng “Phản Thanh Phục Minh”. Ngay tại “Gia Thạnh Đường” của Trịnh Hoài Đức người ta thấy có đôi liễn nói lên được hết bản hoài của người Minh Hương, chẳng những chỉ để tỏ lòng nhớ thương cố quốc, mà còn nghĩ tới chuyện làm sao cho giống nòi Hán tộc sớm thoát khỏi ách cai trị của nhà Mãn Thanh:

“Minh đồng nhật nguyệt diệu Nam thiên, phụng chử lân tường Gia cẩm tú; Hương mãn càn khôn linh Việt địa, long bàn hổ cứ Thạnh văn chương.”

(Ánh sáng không thua mặt trời mặt trăng, để soi khắp trời Nam; quy mô thì phụng múa lân chầu làm tăng vẻ đẹp như gấm vóc. Mùi hương tung khắp đất trời mà làm thơm cho nước Việt; địa thế thì rồng cọp dựa để nảy ra những ánh tài hoa).

(8)          Sau khi Mạc Cửu qua đời, năm Bính Thìn 1736, chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho con của ông là Mạc Thiên Tích nối nghiệp làm đô đốc trấn Hà Tiên. Từ đó Mạc Thiên Tích nhóm họp các văn nhân học giả bốn phương lại và lập nên một văn đàn lấy tên là “Chiêu Anh Các”. Văn đàn này đã làm cho vùng đất phương Nam rạng danh một thời. Qua đó, người ta thấy non nước Việt Nam đã không nhiều thì ít, cảm hóa được tâm hồn của những di dân nhà Minh. Dầu cho đàn hậu bối của những di thần nhà Minh này khó quên được nổi hận vong quốc ly hương của cha ông mình thuở trước, nhưng cũng như cha anh họ, non nước Việt Nam đã không nhiều thì ít, cảm hóa được tâm hồn của họ. Những nhân vật gốc người Minh hương về sau này như Trịnh Hoài Đức, Phan Thanh Giản đã cho chúng ta thấy rõ điều này.

(9)          Về sau này nhà Nho Ngạc Xuyên đã diễn dịch ra chữ quốc ngữ.

(10)     Ghi lại cảm nghĩ lúc hộ giá vua Minh Mạng tuần du Bắc Hà.

(11)     Gồm những bài ngũ ngôn cổ điệu, hiện còn lưu giữ tại chùa Giác Lâm; và những bài ngũ ngôn đề Ngô Tùng Châu U Cư; cũng như nhiều thi văn của chính Trịnh Hoài Đức.

(12)     Tuyển tập các thơ văn của bộ ba Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh và Trịnh Hoài Đức.

(13)     Thi văn lúc ông đi sứ nhà Thanh.

(14)     Trong kho tàng thư tịch cổ của Việt Nam, Gia Định Thành Thông Chí là một trong ba bộ sách địa dư chí quý giá. Hai bộ kia là Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, soạn xong khoảng năm 1776; và Bắc Thành Địa Dư Chí Lục của Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất biên soạn và công bố vào năm 1846. Khi chúng ta có trong tay 3 bộ sách này, chúng ta có thể có một khái niệm khái quát toàn bộ về 3 miền đất nước đương thời. Văn tài Trịnh Hoài Đức được đút kết qua nhiều tác phẩm rất có giá trị, nhưng nổi bật và sáng giá nhất phải kể đến bộ Gia Định Thành Thông Chí. Đây là một trong số những tác phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp trước tác của ông, một trong những bộ địa phương chí đầu tiên của lịch sử thư tịch Việt Nam. Trịnh Hoài Đức sanh ra và lớn lên trên vùng đất Gia Định, nên hơn ai hết, ông có một cái nhìn toàn diện mà chính xác về một vùng đất mới mà lại có rất nhiều tiềm năng trong lịch sử mở cõi về phương Nam của tiền nhân. Chúng ta có thể nói đây là bộ sách sáng giá và ra đời sớm nhất ở miền Nam vào giai đoạn đầu thời các vua triều Nguyễn. Tác phẩm này được viết khi ông đang làm Hiệp Tổng Trấn Gia Định

(1805-1808, 1816) dưới triều Gia Long. Gia Định Thành Thông Chí là bộ sách địa dư và lịch sử được Trịnh Hoài Đức biên soạn khá công phu, và trình bày cặn kẻ về đất nước, con người, phong tục, đất đai... của đất Gia Định theo thể loại địa chí bao gồm các mục: phương vực, sơn xuyên, phong tục, tập quán, sản vật. Sách này ghi chép về 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên, thuộc Gia Định Thành. Gia Định Thành Thông Chí có 6 quyển: Quyền I là Dã Tinh Chí, chép về khu vực các ngôi sao; Quyển II là Sơn Xuyên Chí, ghi chép về núi sông; Quyển III là Cương Vực Chí, ghi chép về bờ cõi; Quyển IV là Phong Tục Chí, ghi chép về phong tục tập quán; Quyển V là Vật Sản Chí, ghi chép về sản vật; Quyển VI là Thành trì Chí, ghi chép về thành quách. Các vấn đề mà Bộ Gia Định Thành Thông Chí nói đến thì rộng rãi; tuy nhiên, chủ đích chính của tác phẩm này trình bày về quá trình khai thác vùng đất phương Nam, việc bang giao với các lân bang Cao Miên và Xiêm La, vân vân. Phải thành thật mà nói, bộ sách Gia Định Thành Thông Chí có giá trị đến nỗi khi thực dân Pháp vừa mới xâm chiếm miền Nam, ngay lập tức họ đã cho dịch bộ sách này sang tiếng Pháp để dùng vào việc giáo dục các viên chức người Pháp cho họ biết về phong tục, tập quán, đất đai, sông ngòi và con người địa phương này.

                                                                           ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn