Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000169
Số lượt truy cập
14607055
Hương Mía Tình Em. -Thầy Nguyễn Văn Hiệp sưu tầm-
Ngày đăng: 2020-08-08 10:42:58

 

 
 
 
 

 
 

 
https://www.youtube.com/watch?v=6MkuPb9j9Pc
 
8 Tháng Chín 2017 ...
 

 
https://www.youtube.com/watch?v=xOWpIVCKifg
 
12 Tháng Giêng 2019 ...
 
 
Mía Cẩm Tân là một trong những đặc sản nổi tiếng của làng Hà Cảng. Ảnh: Vnexpress
 
 

Hương Mía Tình Em

 

 

 
 
Con cá dưới sông anh ngồi anh tặc lưỡi, không biết chừng nào anh mới cưới được em
Chiều qua sông thấy dáng em chèo, thấy em phận nghèo bán mía mà thương anh
Xa cách mấy năm anh về nơi bến cũ, cô Út chèo xuồng đi bán mía ngày xưa
Đành xa quê bỏ bến đi theo chồng, để anh đau lòng đêm ngày anh nhớ mong

Hò ơi hò ơi, gió thổi bên sông ai đờn câu vọng cổ, cô Út đi rồi bỏ lại mối tình quê
Hương mía thơm như tấm lòng em đó, sống nơi thị thành có còn nhớ đến anh
Xin gửi cánh chim bay về nơi phố nhỏ, cô Út giờ này đang sống trong giàu sang
Về thăm quê sương gió em e ngại, mong em giữ lại hương mía mang tình em.

Xa cách mấy năm anh về nơi bến cũ, cô Út chèo xuồng đi bán mía ngày xưa
Đành xa quê bỏ bến đi theo chồng, để anh đau lòng đêm ngày anh nhớ mong
Hò ơi hò ơi, gió thổi bên sông ai đờn câu vọng cổ, cô Út đi rồi bỏ lại mối tình quê

Hương mía thơm như tấm lòng em đó, sống nơi thị thành có còn nhớ đến anh
Xin gửi cánh chim bay về nơi phố nhỏ, cô Út giờ này đang sống trong giàu sang
Về thăm quê sương gió em e ngại, mong em giữ lại hương mía mang tình em.
 

Nhớ mùa mía ngọt tháng giêng

21:19, 21/02/2020 [GMT+7]

.
.
(Báo Quảng Ngai)- Khi những cơn mưa tầm tã ở miền Trung vừa dứt, thì cũng là lúc người nông dân vùng mía Quảng Ngãi bắt đầu dựng chòi để đạp mía thủ công. Nơi nào khô ráo thì tháng Chạp rục rịch dựng chòi, nhưng đa số là tháng Giêng, mùa mía mới bắt đầu. Đó là câu chuyện của 40 năm trở về trước.

Dựng chòi đạp mía
Có nơi thì gọi là “che”, nhưng ở Sơn Tịnh quê tôi thì gọi là “chòi”. Từ “đạp mía” thay cho “ép mía”. “Bao giờ thì dựng chòi đạp mía vậy?”. Thấy trời quang mây tạnh, có vẻ hết lũ lụt, mấy lão nông thường hỏi ông chủ chòi mía câu đó.
 
Chọn một chỗ đất bằng phẳng và rộng rãi, người ta dựng một cái chòi. Chòi có hai nửa, nửa bên ngoài được che lá dừa sơ sài, người ta đặt 3 ống hàng. Ống trống ở giữa, có cái cổ cao nhất để nối với chiếc ách, nơi có hai con bò tham gia đạp mía. Hai bên là ống mái, thấp và nhỏ hơn. Ba ống hàng này cấu tạo theo nguyên tắc xoay tròn, nhưng khi quay thì ngược chiều nhau để cây mía luồn qua và bị ép lại cho ra nước. Thành ngữ “ép cho ra bã” chính là cách ví von này.
 
Ống hàng được làm bằng một loại gỗ cứng, bào thật nhẵn. Kết nối chúng lại là một miếng gỗ được đục lỗ giữa để “cổ” của 3 ống lọt vô trong, khỏi dịch chuyển khi xoay tròn. Dưới chân 3 ống hàng cũng là một bệ gỗ được khoét lỗ tròn để “cắm” chân 3 ống hàng vào.
 Chung quanh đế của bệ gỗ này là một cái mương để dẫn nước mía về thùng, đặt ở cuối 3 ống hàng. Có thể hiểu nôm na công đoạn trên như sau: Dùng sức bò đi vòng quanh bộ che để ép mía ra nước, mang đổ vào chảo, nấu thành đường. 
 
Nấu đường thủ công.
Nấu đường thủ công.
Thường thì hai ba người hùn hạp nhau để làm một chòi, những ai có mía nhiều thì làm riêng. Người ít mía thì ké vào và nộp cho chủ chòi số đường (hoặc tiền) theo thỏa thuận. Thường thì chủ chòi chỉ giúp nhau là chính, vì cũng là họ hàng trong xóm cả thôi. Toàn bộ công đoạn ép mía này phải có từ 3 đến 4 nhân công.
 
Một người luôn theo sau đuôi bò để thúc giục chúng “tiến lên” chứ nhiều con bò đi xà quần mệt quá là nó “biểu tình” bằng cách... đứng im chứ không chịu đi. Trai tráng thường đảm nhận vai trò này vì anh ta còn phải múc nước mía và bê vào đổ trong chảo nấu đường nữa. Cứ đủ 5 thùng (khoảng 10 lít/thùng) gọi là một lường, thì đổi ca, thay một cặp bò khác. Ba nhân công còn lại có nhiệm vụ “chụm” mía vào ống hàng.
 
Công đoạn này cũng đòi hỏi khéo léo vì đẩy mía vào ống hàng nhiều quá thì bị “nghẹn”, bò không đi nổi, mà ít quá thì biết đến bao giờ mới đủ một lường? Người ngồi bên kia thì gom xác mía mới ép lần đầu ấy để luồn qua lại lần thứ hai. Xác mía nọ sẽ được luồn qua một lần nữa để cho sạch nước, gọi là “xác chín”.
 
Nấu đường
Nửa còn lại của căn chòi được lợp rất kỹ, có thể che được mưa nắng trong lúc nấu đường. Đây là công đoạn khó nhất của nghề làm mía thủ công ở Quảng Ngãi. Khi chủ chòi rục rịch “khai móng”, thì cũng là lúc hai ông thợ nấu đường bắt đầu đào lò và đặt 4 chiếc chảo bằng gang lên lò. Hai ông thợ nấu đường, nhưng chỉ một ông là quan trọng nhất, gọi là thợ cả. Ông này quyết định mía có thành đường hay mãi mãi chỉ đến ngưỡng “mật” mà thôi. Trong làng chỉ có vài ông được coi là “thợ cả”. “Lương” mà chủ chòi trả cho ông thợ cả cũng cao gấp nhiều lần ông thợ còn lại.
 
Nước mía đổ vô chảo, nấu sôi lên, nhưng có thành đường hay không thì phải qua bàn tay đầy kinh nghiệm của ông thợ cả. Đun lửa để đường sôi ở mức độ nào, cho bao nhiêu vôi vào chảo đường, rồi dùng ngón tay quẹt vào chiếc gáo nấu đường, đưa vào miệng “thử” xem đường đã “tới” chưa để còn múc ra muỗng... Bằng con mắt nhà nghề, ông thợ cả sẽ quyết định sự thành công của mỗi mẻ đường.
 
Nếu ở Quảng Nam, sau khi mía nấu thành đường, người ta cho vào tô (bát) rồi “đánh trứng cá” (tức dùng đũa quậy cho đường thật nhuyễn), còn ở Quảng Ngãi, thì cho vào một cái muỗng được làm bằng đất nung từ các lò gốm ở sông Vệ. Muỗng hình chiếc loa kèn, cao chừng 30cm, đựng được khoảng 20 - 30kg đường, tùy loại.
 
Ông thợ thứ hai của ê kíp nấu đường được gọi là “thợ nùi”, chỉ việc ra ruộng mía cào rác gánh về chòi, bó thành từng “nùi” rồi cho vào lò. Ông thợ này cũng kiêm luôn việc chà rửa những chiếc muỗng cho thật sạch trước khi đổ đường vào. Phải thật sạch thì sau mấy hôm đường nguội, mới úp “bánh” đường ra khỏi muỗng dễ dàng nếu không muốn đập bỏ chiếc muỗng để lấy “bánh” đường ra!
 
Có một đội buôn đường cũng là người trong làng, luôn ứng trực đợi đường nguội rồi “úp” ra khỏi muỗng, xong thồ về vùng Vạn Tượng (Nghĩa Dõng bây giờ) để bán cho các lò nấu đường phèn. Để ra được muỗng đường như thế, ngoài đội “hậu cần” như đã kể trên, trên ruộng mía còn có một đội “trai mía” chuyên đốn, róc cho sạch lá rồi thồ mía về chòi. Đội này thường thì 3 - 4 người, gồm một người chặt (đốn) và ba người róc. Cứ thay phiên nhau, nay anh này chặt thì ba anh kia róc, mai lại tới phiên anh khác chặt.
 
Ngày xưa, ông bà ta chỉ làm thủ công, kể cả việc phải gánh mía bằng sức người từ ruộng về chòi. Mùa mía lại rơi vào sau Tết âm lịch, cũng là mùa thu hoạch củ lang và gặt lúa vụ đông xuân nên việc luôn “ngập đầu” người nông dân.
 
Quảng Ngãi được xem như thủ phủ của nghề làm mía đường thủ công. Không biết nghề này được du nhập từ đâu, chỉ biết rằng, cứ mỗi độ sau Tết âm lịch, khắp các làng quê, đi đâu cũng nghe dậy lên một mùi hương mật mía, thơm đến nao lòng. Một thế hệ trên dưới 60 tuổi đã lớn lên từ mùi hương đầy mê dụ ấy. Họ đã in dấu chân mình lên khắp rộng dài Tổ quốc, mùi hương ấy vẫn cứ luôn phảng phất theo sau. Giờ thì hương mật mía chỉ còn trong ký ức để rưng rưng thương cảm mỗi bận tháng Giêng về.
 
Bài, ảnh: TRẦN ĐĂNG
 
 

  

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn