Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000103
Số lượt truy cập
22829646
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-08-17 10:56:47

 Cụ Trương Vĩnh Ký mất ngày 1 tháng 9 năm 1898 tại Gia Định tại vùng Chợ Quán. Trước khi qua đời, cụ Trương đã chuẩn bị cho mình ngôi nhà mồ và bia mộ, trong đó có ghi lại một dòng chữ bằng tiếng La Tinh mà ông đã mượn từ Kinh Thánh

để nói lên lời kêu bi thống của chính mình “Miseremini Mei Saltem Vos Amici Mei”, có nghĩa là “Xin hãy thương xót tôi, hỡi các anh chị là những người bạn tôi(10).” Dầu

người ta có phê phán cụ Trương thế nào đi nữa, riêng đối với người viết tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam này lúc nào cũng xem cụ là một con dân ưu tú, một hào kiệt xuất chúng, một nhà tiên phong đã đem chữ quốc ngữ từ trong các tu viện ra, hoàn chỉnh lại, và viết thành cú pháp hẳn hoi, để cho mọi người Việt Nam có thể sử dụng được.

Trong công việc phê phán, xin những nhà phê bình hãy suy xét cho kỹ trước khi sử dụng chữ quốc ngữ để phê phán chính cái người đã bỏ ra cả đời để hoàn chỉnh thứ chữ đó cho mọi người chúng ta xử dụng một cách vô cùng tiện lợi hôm nay. Không ai trong chúng ta biết được trong chiều sâu tâm hồn của cụ Trương nghĩ gì khi cụ bắt buộc trong tình thế chẳng đặng đừng phải ra làm việc với Tây. Cụ làm việc với Tây mà cả đời nghèo khó, vì bao nhiêu tiền của làm được cụ đều chi tiêu cho công cuộc phát triển và truyền bá chữ Quốc ngữ, một việc không ai bắt buộc cụ Trương phải bỏ hết gia sản tiền của ra để làm. Trước khi nói bất cứ điều gì về cụ Trương Vĩnh Ký, xin người người nên nhớ một điều: Miền Vĩnh Long của vùng đất phương Nam có một trong mười tám “Toàn Cầu Bác Học Danh Gia”, con người chỉ sống trên cõi đời này có 61 năm, nhưng con người ấy đã để lại cho con cháu ngàn đời sau một công trình văn hóa lớn lao bằng chữ Quốc ngữ, một di sản không thể nghĩ bàn cho dân tộc Việt Nam.

Riêng tác giả Người Long Hồ thật vô cùng cảm động khi đọc được bài thơ bát cú mà trước khi qua đời, cụ Trương đã viết lên để diễn tả nỗi khổ tâm của mình:

“Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quay, Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.

Học thức giữ tên: Con sách nát Công danh rốt cuộc, cái quan tài. Dạo hòn lũ kiến men chân bước, Bò xối con sùng chắt lưỡi hoài. Cuốn sổ bình sanh, công với tội, Tìm nơi thẩm phán để thừa khai!”

Trong quyển Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long, số 3, tháng 1 năm 2006, trang 94-95, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ Trưởng bộ Giáo Dục VNCH đã có một nhận định về công lao của Trương Vĩnh Ký đối với nền văn học mới như sau: “Nói đến Petrus Ký là phải nói đến vai trò khai đường mở lối của ông trên các địa hạt: 1) Dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo, trước tác. 2) Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho. 3) Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ của nho gia. 4) Làm báo theo đúng ý nghĩa một tờ báo của Tây phương. Petrus Ký đã hoàn tất vai trò khai đường mở lối đó nhở ở sự gặp gỡ của những yếu tố đặc biệt này: thứ nhất là bản chất hết sức thông minh cùng với khả năng bẩm sinh đặc biệt về ngôn ngữ và tính tò mò, hiếu học của ông. Thứ nhì là môi là môi trường học hỏi và nội dung chương trình học mà ông đã được đào luyện. Thứ ba là hoàn cảnh xã hội Việt Nam và hướng tiến chung của thế giới hồi hạ bán thế kỷ thứ XIX. Tính hiếu học, bản chất thông minh, khả năng bẩm sinh và môi tr7ờng học hỏi đã giúp Petrus Ký có một quá trình học vấn và một vốn liếng kiến thức khác hẳn các nhà nho đương thời như Nguyễn Khuyến hay Trần Tế Xương chẳng hạn. Khi cái vốn liếng hiểu biết đó được dùng để khảo cứu, biên soạn, phổ biến, thì hoàn cảnh xã hội bên ngoài đã trở nên vô cùng thuận tiện để ông có thể thành công tốt đẹp. Đây là lúc người Pháp bắt đầu cuộc đô hộ ở miền Nam và đang bành trướng thế lực ra miền Trung và miền Bắc. Cùng lúc với sự thất trận và mất chủ quyền của triều đình Huế, nền học thuật cũ chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa cùng với sự ngự trị của nhà nho trong xã hội xưa cũng sụp đổ theo, trước hết là ở miền Nam bắt đầu từ năm 1870 và những thập niên sau đó rồi đến miền Bắc và miền Trung vào đầu thế kỷ thứ XX. Điều kiện đã trở nên thuận tiện để xây dựng và phát triển nền học thuật mới, tân tiến, thích hợp với đà tiến chung của nhân loại. Cuộc đời và sự nghiệp của Petrus Ký đã chứng minh những điều vừa nói trên.”

Thật vậy, đúng như lời Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm vừa mới nhận định ở trên, Trương Vĩnh Ký là một trong những học giả hiếm hoi của vùng đất phương Nam đã để lại cho dân tộc một sự nghiệp trước tác lớn lao cho nền văn chương chữ quốc ngữ và nền học thuật mới của nước nhà, một công trình xây dựng văn hóa qui mô, mà trước ông và sau ông, chưa một học giả nào có thể làm được như thế. Petrus Ký có cái vốn liếng kiến thức thật sâu xa rộng rãi, và rất hiện đại, vượt xa hẳn các nhà nho cùng thời với ông, nhất là những hiểu biết về khoa học kỹ thuật và những phương pháp nghiên cứu, biên khảo, suy luận rất khoa học theo kiểu Tây phương mà những người Việt Nam đương thời chưa biết được. Bên cạnh đó, Petrus Ký đã dồn hầu hết thời giờ, công sức, và tiền của vào sự tiếp tục học hỏi, nghiên cứu và biên khảo, chỉ với một ước mơ là ai ai cũng đều biết chữ Quốc ngữ, để từ đó có thể sở hữu được những kiến thức vô cùng bổ ích, trong đó có cái kiến thức mà người Pháp sợ nhất: tự do ngôn luận và báo chí. Bởi vì theo ông, một khi ngôn luận và báo chí đã được tự do thật sự thì mọi thứ khác như tự do tín ngưỡng, sự đòi hỏi độc lập dân chủ , vân vân, sẽ tự nhiên hanh thông. Phải nói, công trình văn hóa của ông không chỉ gây ảnh hưởng trong miền đất phương Nam, mà nó còn có tầm ảnh hưởng hết sức đáng kể đối với toàn bộ xã hội Việt Nam trong buổi giao thời từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ thứ XX. Và trước khi ông mất đi, ông đã mở toang cánh cửa “Học Thuật Mới” bằng chữ Quốc Ngữ cho dân tộc Việt Nam, trong đó ông kết hợp đạo đức Á Đông với khoa học Tây phương. Có một lần ông đã nói với vua Đồng Khánh như sau: “Theo hạ thần, bắt đầu từ thế kỷ thứ XIX, nhờ có sự phát triển về khoa học kỹ thuật mà con người đã tiến bộ vô cùng nhanh chóng so với nhiều thế kỷ về trước. Nếu chúng ta từ chối khoa học hay lẫn tránh kỹ thuật là chúng ta tự mình hủy diệt mình. Muốn sinh tồn, phải tiến bộ, phải hiện đại hóa như người ta; mà muốn tiến bộ và hiện đại hóa thì không gì hơn là học hỏi tất cả những khoa học kỹ thuật của Âu Mỹ. Tuy nhiên, theo hạ thần, nếu chỉ trau dồi khoa học kỹ thuật không mà thôi thì cũng rất nguy hại cho loài người. Từ hơn hai thế kỷ về trước Rabelais đã bảo là có kiến thức khoa học mà không có ý thức đạo đức thì đó là sự đổ vỡ của tâm hồn. Đối với người Việt Nam chúng ta, ý thức đạo lý vững chắc đó có thể tìm thấy ở trong nến luân lý đạo đức của nho gia, vốn đã ăn sâu vào đời sống dân ta từ ngàn xưa.” Tuy nhiên, dầu có nói gì đi nữa thì ngay từ những ông vua đầu triều Nguyễn cũng đã không muốn mở rộng lòng mình để đón nhận sự tiến bộ của Tây phương, nên Petrus Ký vẫn tiếp tục lui về Nam dành hết thời giờ mình có được cho công cuộc biên khảo và nghiên cứu mà ông cho là rất cần thiết cho sự phát triển của dân tộc về sau này.

Phải thực tình mà nói, trên đường hoạn lộ và khoa cử, địa vị của ông rất khiêm nhường, nhưng trong sự nghiệp văn hóa công trình biên khảo trước tác của ông thì vô cùng đồ sộ và sáng chói. Cụ Trương chưa từng đỗ đạt một bằng cấp nào cả, không có lấy tú tài hay cử nhân, chứ đừng nói chi đến tiến sĩ. Và khi bị buộc phải ra hợp tác với người Pháp, cụ Trương chỉ giữ những chức vụ khiêm nhường, miễn sao có thể làm được chiếc gạch nối giữa Pháp và dân chúng cho họ được đỡ khổ. Chuyện ra làm thông ngôn hay đi dạy học, đối với Trương Vĩnh Ký chỉ là chuyện đi làm lãnh lương để sinh nhai, mục tiêu quan trọng nhất của đời cụ Trương là học hỏi, học hỏi và học hỏi để có được một kiến thức uyên bác, để rồi đem những gì mình đã học hỏi được ra phụng sự cho dân tộc. Phải nói, thời đó cái vốn kiến thức của cụ Trương sâu xa và rộng rãi hơn tất cả bất cứ người Việt Nam nào trong xứ. Riêng đối với người viết tập sách này, Trương Vĩnh Ký rất xứng đáng được xếp vào hàng Hào Kiệt Đất Phương Nam, và ngôi sao Trương Vĩnh Ký lúc nào cũng là một ngôi sao sáng, thật sáng trên vùng đất phương Nam, chẳng những hồi thế kỷ thứ XIX, và đến ngày hôm nay, mà chừng nào người Việt Nam chúng ta còn sử dụng chữ quốc ngữ, thì ánh sáng ấy vẫn còn lan tỏa đến tim đến óc từng con người Việt Nam cho đến mãi mãi về sau này.

 

Chú Thích:

(1)          Nguồn gốc chữ quốc ngữ, tức loại chữ dùng mẫu tự La Tinh A, B, C..., để ráp vần, đã thành hình từ đời nhà Lê. Đây là sáng kiến của các cố đạo Âu châu trong nhu cầu truyền giáo sang Việt Nam từ trước thế kỷ thứ XVII. Năm 1624, cố đạo Alexandre de Rhodes, một người Pháp, sanh trưởng tại Avignon, được bổ vào nhóm truyền giáo Xứ Đàng Trong. Sau 6 tháng học tiếng Việt qua chữ quốc ngữ với một thầy người Bồ Đào Nha tên là Francis de Pina, ông nói được tiếng Việt rất sành sỏi. Thế là ông cố biên soạn chữ Việt viết theo mẫu tự La Tinh và sắp xếp thành bộ Tự Điển Việt-Bồ-La đầu tiên, Dictionarium Lusitanum et Latinum. Sau đó, giám mục Pigneau de Béhaine đã nhuận lại bộ tự điển trên, và giám mục Taberd đã tiếp nối công trình này.

(2)          Chữ La Tinh.

(3)          Ông Trương Vĩnh Ký đã để lại cho hậu thế 118 tác phẩm đã in, và khoảng 20 tác phẩm còn đang viết dang dở. Công trình to lớn của ông nhằm cải cách giáo dục, tạo phương tiện học vấn trước, rồi truyền bá tư tưởng sau, theo phương pháp khoa học và căn bản sư phạm hữu hiệu.

(4)          Bộ Văn Phạm Việt Nam được viết bằng chữ Pháp để cho người Pháp học chữ Việt.

(5)          Tác phẩm này cụ Trương đã dày công biên soạn trên 10 năm. Trong đó, cụ Trương trình bày những điểm tương đồng giữa chữ xưa như Hán và Nôm, và chữ quốc ngữ ngày nay.

(6)          Trong cuốn Vietnam Records Books cũng có ghi Trương Vĩnh Ký là nhà báo Việt Nam đầu tiên. Ông là người hiếu học có tiếng, ngay từ bé ông đã thông thạo chữ Hán, Quốc ngữ. Lớn lên, ông trở thành một học giả lớn, thông thạo 26 ngoại ngữ phương Tây và phương Đông. Ông còn là tác giả của hơn 100 tập sách, hàng nghìn bài viết, có chân trong nhiều hội khoa học quốc tế, cống hiến xuất sắc cho các chuyên ngành: văn hóa, ngôn ngữ, địa lý, nhân chủng học... Đương thời, Trương Vĩnh Ký là 1 trong 18 nhà bác học trên thế giới.

(7)          Theo Tạp chí Phổ Thông Chuyên San, số 3, tháng 9, năm 1943, nhà báo Lê Thanh đã ghi lại việc Trương Vĩnh Ký đã viết trong nhật ký của mình có đoạn như sau: “Bị hai cái khánh tận, nhà in...

nối nhà... mất hơn sáu ngàn đồng bạc. Phần thì sách vở bán không chạy, mắc nợ nhà in Rey et Curiol, phần thì bị nhà phải bảo lãnh nợ cho nó hết hơi. Laị thêm phát đau hư huyết.”

(8)          Nguyễn Phúc Ưng Thiều (1893-1975) là cháu đích tôn của hoàng thân Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh.

(9)          Có một số người cho rằng Trương Vĩnh Ký cộng tác với Pháp bằng cách đào tạo cán bộ thông ngôn tiếp tay làm công cụ tay sai cho người Pháp trong việc cai trị dân tộc Việt Nam.

(10)     Câu này trích từ trong Kinh Cựu Ước theo Thánh Job 19-21-27, thuật việc ông bị Thượng đế và loài người ruồng bỏ như sau: “Xin hãy thương xót tôi, hỡi các anh em những người bè bạn, vì chính tay Thiên Chúa đã đánh tôi! Tại sao các anh bắt chước Thiên Chúa mà đi săn đuổi tôi, và vẫn chưa no nê với máu thịt của tôi sau? Ôi, những lời tôi nói đây, phải chi có người chép lại, phải chi có người ghi vào sách, có người đục bằng sắt, trám bằng chì, tạc vào đá cho đến muôn đời.” 

 

Phần Mười Hai

 

Những Nhà Lãnh Đạo Các Giáo Phái Lớn Trên Vùng Đất Phương

Nam Đầu Thế Kỷ XX

 

CHƯƠNG BA MƯƠI


Từ Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang ĐếnGiáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới 

1) Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang Và Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam

Tưởng cũng nên nhắc lại là tỉnh Vĩnh Long là một trong những vùng địa linh của đất nước đã sản xuất ra rất nhiều nhân kiệt, từ thời Pháp thuộc có một trong thập bát tú của thế giới là ông Pétrus Trương Vĩnh Ký, về sau này địa linh này đã sản sanh ra nhiều vị cao Tăng như Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Hòa Thượng Thích Thanh Từ...và rất nhiều nhân tài gương mẫu của đất nước trong đó có cụ Trần văn Hương. Vì khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, chúng tôi chỉ viết về Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang mà thôi.

Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, tên thật là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi 1923 tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long miền Nam Việt Nam. Ngài sanh ra trong cơn nghiêng ngửa của đất nước. Một nửa Việt Nam là thuộc địa và một nửa kia là vùng bảo hộ của Pháp. Quan lại Pháp thì độc ác tham tàn, trong khi Vua Quan lại Việt Nam thì hèn nhát tham ô. Triều đình đổ nát. Vua chỉ là hư vị hay bù nhìn do Pháp áp đặt, nên lê dân đồ thán dưới ách đô hộ của ngoại bang, mang thân làm trâu cày ngựa cỡi cho bọn thực dân thâm độc. Vào thời đó thực dân Pháp muốn áp đặt sự cai trị vĩnh cửu trên đất nước Việt Nam nên chúng cố hủy diệt nền văn hóa văn minh cổ truyền Việt Nam để thay vào đó bằng văn hóa mất gốc của thực dân. Họ chỉ mở ra rất ít trường sơ đẳng, dạy chữ Pháp để đào tạo những tay thông ngôn bồi bếp, hoặc những tay tay sai hạ cấp, chứ không cốt tạo cho người Nam học được cái tinh hoa của nền văn minh Tây phương.

Thân phụ Ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Nhàn. Dẫu trong cơn quốc phá gia vong ấy, từ bao đời gia đình song thân vốn có nền nếp ăn ở theo đạo thánh hiền, tu nhân tích đức, được người đương thời khen ngợi là gia đình hiền lương nhân nghĩa. Trong gia đình ông bà cụ có tất cả 5 người con. Ngài là con út. Trước Ngài có 4 anh chị, cụ bà đều thọ thai và sinh nở bình thường, nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Mười tháng sau, ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý 1924, cụ bà bịnh nặng và qua đời, hưởng dương 32 tuổi (sau này Ngài vắng bóng cũng năm 32 tuổi). Từ đó về sau Ngài được thân phụ và bà kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ ông mất ngày mùng 5 tháng Giêng năm Mậu Thân 1968, thọ 75 tuổi.

Thuở nhỏ tuy sinh trưởng và lớn lên ở một làng vùng quê nhưng Ngài có trí thông minh khác hơn những trẻ cùng thời. Phong cách đi, đứng, ăn, mặc, nói, làm... đều thể hiện đức tính trang nghiêm điềm đạm hơn chúng bạn. Chính nhờ vậy mà ngay từ lúc tuổi còn niên thiếu Ngài được thân phụ rất yêu quý và mọi người chung quanh đều một lòng thương mến. Đến tuổi cắp sách vào trường, Ngài luôn chăm chỉ học hành, bài vở thầy dạy đến đâu Ngài thông suốt đến đó và mỗi năm mỗi tiến phát. Vào khoảng cuối thập niên 20s của thế kỷ thứ 20, vì chiến tranh lan rộng khắp nơi tại miền nam nên thân phụ Ngài dọn nhà về cư ngụ tại xóm Cầu Kinh Cụt, thuộc thị xã Vĩnh Long. Tại đây Ngài được thân phụ cho đi học xong các bậc tiểu học và Trung học.

Ngoài giờ học tập ở trường, Ngài giúp đỡ việc nhà, hầu hạ cha mẹ. Và hơn nữa, Ngài rất siêng năng ưa thích nghiên cứu tìm hiểu sách vở ghi chép sử liệu các tôn giáo, nhất là tam giáo: Thích – Đạo – Nho... Ngài tìm tòi học hỏi rất tường tận. Nhờ vậy mỗi khi chuyện vãn với nhũng người thiện duyên quen lạ gặp gỡ, Ngài đều luận giải mọi vần đề một cách tinh tường và được người người cảm phục. Trong thời buổi loạn ly đó, Ngài đã thấy quá rõ hoàn cảnh bi thảm của đất nước và đạo pháp, trong khi đó cái triết lý trung dung của đạo Khổng, cái khoan đại của Thánh nhân cũng bị lu mờ, mà đa số chỉ còn thấy những kẻ hủ nho, xu thời nịnh thế mà thôi. Ngoài xã hội hội thì dẫy đầy tệ nạn, với toàn mê tín dị đoan, phù thủy, bùa phép, đồng bóng, tà thuật... làm hoen ố đạo lý chân chánh. Còn Phật giáo thì đang trải qua một thời kỳ suy vi trầm trọng do hệ quả của việc đàn áp tôn giáo của thực dân, chúng cho rằng chỉ có Gia Tô là chánh giáo, còn thì tất cả đều là tà đạo cần phải được giáo hóa hay xóa bỏ.

Vốn được hấp thụ nề nếp đạo đức nho phong nên Ngài thường tới lui các nhà đạo đức trưởng thượng đương thời để tham vấn đạo lý. Tuy nhiên, vấn đề nghiên tầm bối diệp quả là khó khăn vì hầu như kinh điển Phật giáo còn nằm nguyên trong Hán Tạng (tạng kinh được viết bằng chữ Hán), trong khi đa phần hạnh nguyện của người xuất gia bị mất định hướng, họ quên mất chí nguyện cao cả và đại hạnh đại nghiệp của người trưởng tử Như Lai là “Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự” để hoằng trì chánh pháp và phổ độ chúng sanh, và đa phần họ chỉ là những “Thầy Cúng” hay “Thầy Tụng Đám Ma” không hơn không kém. Họ chỉ thuộc lòng một vài bài “kinh tụng” chứ không còn biết “Phật Pháp” là gì nữa. Người xuất gia đã vậy, thì người tại gia còn biết vin vào đâu để mà về nương. Chính vì thế mà trong thời gian này, Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang đã tạo phía sau nhà một cái thất nhỏ để hằng ngày tiện bề tu tập tham thiền và ôn tầm bối diệp. Ngài thường trầm tư mặc tưởng, có khi cả đôi ba giờ đồng hồ. Có những buổi chiều Ngài thường hướng mắt về chân trời bao la với vẻ mặt đăm chiêu như đang suy nghĩ điều gì mà chưa giải quyết được.

                                                                         ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn