Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000092
Số lượt truy cập
22363083
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-05-28 08:24:34

 

 4)Nguyễn Trọng Quản(1865-?)

Ông hấp thụ nền văn hóa Tây phương một cách sâu sắc. Sau khi về nước, ông kết hôn với cô con gái của Trương Vĩnh Ký. Phải nói, Ngay từ còn học tiểu học, Nguyễn Trọng Quản đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ cụ Trương Vĩnh Ký. Không có tài liệu nào nói về con đường hoạn lộ của Nguyễn Trọng Quản, chỉ biết ông là một trong những người đầu tiên đã khởi viết tiểu thuyết văn xuôi ở vùng đất phương Nam.

Nguyễn Trọng Quản sanh năm 1865 tại vùng Gia Định trong một gia đình giàu có. Ông là một trong những học trò xuất sắc của cụ Trương Vĩnh Ký. Sau khi học xong bậc trung học thuộc địa ở Nam Kỳ, cha mẹ ông đã cho ông sang Algéri du học vằm năm 1880. Ngay từ thời niên thiếu, Nguyễn Trọng Quả t xong quyển “Thầy Lazarô Phiền”, đây được xem là tác phẩm đầu tiên của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Theo Nguyễn Văn Trung trong “Những Áng Văn Chương Quốc Ngữ Đầu Tiên”, Nguyễn Trọng Quản khi viết truyện “Thầy Lazarô Phiền” đã có ý thức về một lối viết mới: “Xưa dân ta chẳng thiếu chi thơ, văn, phú, truyện nói về những đấng anh hùng hào kiệt, những tay tài trí cả rồi đó; mà những đấng ấy thuộc về đời xưa chớ đời nay chẳng còn nữa. Bởi đó tôi mới dám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mặt ta luôn, như vậy thì sẽ có nhiều người sẽ lấy lòng vui ra mà đọc.” Dầu truyện “Thầy Lazarô Phiền” chỉ dầy có 32 trang, nhưng lại chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại. Nội dung câu chuyện là Thầy Lazarô Phiền đã đem những chuyện tội lỗi của mình nói hết cho một người bạn đồng hành; rồi người bạn đồng hành ấy lại đem câu chuyện này ra mà tường thuật lại. Tâm lý chính của nhân vật trong truyện là đối tượng được miêu tả chứ không phải là sự kiện hay hành động. Và câu chuyện không được kể theo thứ tự thời gian và kết cục không êm ả như truyền thống, mà là một đoạn kết rất bi thảm. Chính vì vậy mà tác phẩm “Thầy Lazarô Phiền” không được quần chúng đón nhận. Cũng theo ông Nguyễn Văn Trung trong “Những Áng Văn Chương Quốc Ngữ Đầu Tiên”, ngay cái tên Thầy Lazarô đã khiến cho người đọc nghĩ rằng đây chỉ là một câu chuyện về đạo Ky Tô nên chẳng màng nghĩ đến chuyện đọc tác phẩm này. Với lại, nội dung câu chuyện đi ngược lại hoàn toàn với quan niệm “ở hiền gặp lành” của người dân đất phương Nam thời bấy giờ. Hơn nữa, chủ đề “phạm tội và xưng tội” rất xa lạ và khó chấp nhận đối với những người đã từ bấy lâu nay luôn sống với luật “nhân quả”. Và kết cục của câu chuyện lại càng làm cho đọc giả thời đó thêm khó chịu khi người vợ hiền lành của Thầy Lazarô Phiền phải nhận lãnh cái chết; trong khi đó thì kẻ gây ra tội ác như vợ của tên quan ba lại không bị trừng phạt gì cả.

Dầu quyển tiểu thuyết “Thầy Lazarô Phiền” thất bại và không được quần chúng đón nhận, vì nó không tuân theo truyền thống từ ngàn xưa, mà nó chỉ viết lên những gì xảy ra, nhưng Nguyễn Trọng Quản luôn được xem là người đầu tiên đem chữ quốc ngữ viết thành tiểu thuyết văn xuôi. Và phải thành thật mà nói, chính quyển tiểu thuyết “Thầy Lazarô Phiền” đã ành hưởng không nhỏ đến giới sáng tác và những nhà viết tiểu thuyết văn xuôi về sau này như Hồ Biểu Chánh.

 

5) Tân Châu Nguyễn Chánh Sắt(1869-1947)

Nguyễn Chánh Sắt, người đương thời hay gọi là Tân Châu Nguyễn Chánh Sắt để phân biệt với Tân An Trần Phong Sắc. Nguyễn Chánh Sắt sanh năm 1869 tại xã Long Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc tỉnh An Giang. Ông sanh ra trong một gia đình bần cố nông, cha ông là ông Nguyễn Văn Tài, không rõ tên người mẹ. Trong xóm có gia đình ông bà Nguyễn Văn Bửu và Đặng thị Nghiêm, không có con, vì muốn có người thừa tự nên nài nỉ cha mẹ ông cho phép ông được làm dưỡng tử. Thấy ông Sắt mặt mày sáng sủa, thông minh đỉnh đạt, nên cha mẹ nuôi cho ông đến thọ giáo với cụ Tú Trần Hữu Thường. Rồi sau đó, ông Sắt được cha mẹ nuôi cho lên Châu Đốc học trường tiểu học Pháp Việt.

Sau khi đậu xong bằng Sơ Học, nay là bằng tiểu học, thì cha mẹ nuôi gọi ông về quê lập gia đình. Từ đó ông Nguyễn Chánh Sắt ở lại quê nhà, nhưng ngày thì lo cho công ăn chuyện làm, còn đêm đến thì ông vẫn tiếp tục học thêm chữ Hán và chữ Pháp. Vì vậy mà ít lâu sau đó, ông rất giỏi về văn chương Pháp và Hán, và trở thành nhà văn viết tiểu thuyết hồi nào cũng không hay. Bạn bè rất quý mến ông và thường khuyến khích ông nên sử dụng tài học chữ Hán của mình vào việc dịch thuật những truyện Tàu. Từ khoảng năm 1906 cho đến khi ông qua đời vào năm 1947, ông đã viết rất nhiều tiểu thuyết và dịch cũng rất nhiều truyện Tàu. Từ đó ông trở thành một trong những nhà văn tiền phong của vùng đất phương Nam.

Khoảng đầu năm 1984, tại vùng Bataan, Phi Luật Tân, tôi có dịp sống gần anh Hứa Hoành, đồng hương Vĩnh Long của tác giả. Chúng tôi có bàn luận rất nhiều về hai ông có tên cùng một âm tiếng việt này. Cả hai ông đều là những bậc thâm nho, nhưng Trần Phong Sắc thì đi dạy học, còn Nguyễn Chánh Sắt thì ra làm quan với tân triều tới chức tri huyện huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ông Nguyễn Chánh Sắt vừa viết tiểu thuyết và vừa dịch truyện Tàu. Tác phẩm tiểu thuyết của ông khoảng 10 bộ, trong đó có chuyện “Chàng Cà Mum” hay “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” đăng lần đầu tiên trên quyển sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Đường vào năm 1919, rất nổi tiếng.

Bên cạnh đó, ông Sắt còn dịch hơn 10 truyện Tàu, trong đó có những bộ rất được người đương thời ưa thích như: Đông Châu Liệt Quốc, Tái Sanh Duyên, và Chung Vô Diệm. Bộ Tái Sanh Duyên, ban đầu do cụ Nguyễn Văn Đẩu dịch quyển I và cho xuất bản vào năm 1906. Sau đó, các ông Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương tiếp tục dịch đến quyển 11 là quyển chót. Riêng bộ Đông Châu Liệt Quốc, các ông Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Công Kiều, và Trần Đình Nghị đều có dịch và lần lượt cho in trong suốt 23 năm, từ năm 1906 đến năm 1929. Ông qua đời vào năm 1947 tại quê nhà Tân Châu.

 

6) Tân An Trần Phong Sắc(1878-?)

Trần Phong Sắc là tên của một nhà nho sanh trưởng tại làng Huê Mỹ Thanh, phủ Tân An, nay thuộc tỉnh Tân An. Tên thật là Trần Đình Diệm, bút hiệu là Đàng Huy. Năm 1945, ông Đào Văn Hội đã viết trong quyển “Tân An Ngày Nay,” nếu mấy mươi năm về trước(1), nếu ở đất Bắc Nguyễn Đỗ Mục nổi danh nhờ dịch thuật mấy bộ diễm tình tiểu thuyết Trung Hoa như “Dư Chi Phu” (Chồng tôi), “Dư Chi Thê” (Vợ tôi), “Song Phụng Kỳ Duyên,” vân vân, thì nơi vùng đất phương Nam, chẳng những dân chúng trong tỉnh Tân An, mà là cả vùng đất phương Nam, không mấy ai là không biết đến tên tuổi nhà nho Trần Phong Sắc.

Ngoài nghề chính để sinh nhai là đi dạy học, ông còn là dịch giả của hơn 40 bộ truyện Tàu sang chữ quốc ngữ, nổi bật nhất là những bộ sau đây: “Phong Thần(2)”, “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Thuyết Đường”, “Tiết Nhơn Quí Chinh Đông”, “Tiết Đinh San Chinh Tây”, “Phi Long Diễn Nghĩa”, “Tam Hạ Nam Đường”, “Tàn Đường”, “Vạn Huê Lầu”, “Ngũ Hổ Bình Tây”, “Ngũ Hổ Bình Nam”, “Thập Nhị Quả Phụ Chinh Tây”, “Dương Văn Quảng Bình Nam”, “Nhạc Phi Diễn Nghĩa”, “Anh Hùng Náo Tam Môn Giai”, “Hậu Anh Hùng”, “Phong Kiếm Xuân Thu”, “Tây Hán”, “Đông Hán”, “Quần Anh Kiệt”, “Phấn Trang Lầu”, “Tái Sanh Duyên(3)”, “Càng Long Hạ Giang Nam”, “Chánh Đức Du Giang Nam”, “Tam Hạp Minh Châu Bửu Kiếm”, “Tây Du Diễn Nghĩa”, “Đông Du Bát Tiên”, “Bắc Du Chơn Võ”, và “Nam Du Huê Quang”, vân vân.

Ông có một phong cách dịch thuật hết sức độc đáo với câu văn vừa trôi chảy mà cũng không kém phần văn hoa bóng bẩy, mà hầu như nam phụ lão niên đều yêu thích. Cũng theo ông Đào Văn Hội, Trần Phong Sắc không những là một nhà dịch thuật trứ danh, mà ông còn là một thi sĩ kỳ tài. Trong các dịch phẩm của ông, thỉnh thoảng ông trước tác một bài thơ tám câu hay bốn câu rất tuyệt. Điều này chứng tỏ ông có một căn bản học vấn rất vững vàng và một tâm hồn hết sức nghệ sĩ. Như trong phần kết của bản dịch “Phong Thần”, ông Sắc đã kết thúc bằng một bài thơ 4 câu với những chữ đầu làm thành tên của ông và chữ đầu của câu thứ tư là chữ “chép” làm thành “Trần Phong Sắc Chép” như sau:

“Trần trọc đêm thanh mấy khắc chầy, Phong thần diễn dịch giaỉ niềm tây; Sắc tài phép tắc bày ra đủ,

Chép để khuyên răn phỉ nguyện này.”

Và trong bộ “Chánh Đức Du Giang Nam”, ông Sắc đã kết thúc bằng một bài thơ 4 câu với những chữ đầu làm thành tên của ông và chữ đầu của câu thứ tư là chữ “chánh” làm thành “Trần Phong Sắc Chánh” như sau:

“Trần thiện can vua kính họ Lương, Phong làm thừa tướng giúp triều Đường; Sắc bà Quốc thái sai tìm chúa,

Chánh Đức về ngai hưởng thái bường.”

Ngoài giờ đi dạy học(4) và dịch thuật, ông còn cùng một số thân hữu như Bộ Thọ (Lê Kiến Thọ), thầy Nguyễn Văn Vân, ông Ngô Văn Chiêu, và Một Kim (Đoàn Văn Kim), vân vân, lập đàn cầu cơ chữa bệnh miễn phí cho bá tánh. Trong nhóm này riêng ông Trần Phong Sắc là người ăn chay trường. Người ta kể lại rằng trong một buổi cầu cơ, ông giáo Vân ngồi đồng dương, ông Bộ Thọ ngồi đồng âm, Trần Phong Sắc làm phép đàn, Đoàn Văn Kim ghi chép và Ngô Văn Chiêu làm độc giả. Cơ lên cho biết:

“Ngũ chơn bửu khí lâm triều thế, Giá hạc đàng vân xiển tự nguyên...”

Lúc này cơ đức Cao Đài Tiên Ông gõ mạnh vào ông Sắc bảo phải sửa lại hai câu thơ ấy. Dầu ông Sắc là một nhà nho tinh thông chữ Hán, nhưng vì không biết đức Cao Đài Tiên Ông là ai, nên ông Sắc bèn suồng sã trả lời: “Bài thỉnh cơ này ra 100 năm rồi, từ bên Trung Hoa qua đây không ai dám cho là sai nay ngài bảo sửa, nói vậy là thiệt trật hay sao?” Đức Cao Đài Tiên Ông quay qua đập mạnh cơ vào đầu ông Sắc, rồi quay qua bảo ông Ngô Văn Chiêu sửa lại, ông Chiêu vâng mệnh sửa lại như sau:

“Bửu chơn ngũ khí lâm triều thế...”

Có lẽ do chính cơ duyên này mà về sau này ông Ngô Văn Chiêu đã khai sáng nền đạo Cao Đài (?).

Ngoài ra, ông Trần Phong Sắc còn là tác giả của nhiều bài ca cổ điển của vùng đất phương Nam. Tại các vùng Thủ Thừa, Vàm Cỏ và Tân An hồi đầu thế kỷ thứ XX, cổ nhạc phát triển rất mạnh. Những thầy đờn nổi danh thời đó như Hai Nghĩa, Mười Tốt, Tư Trinh, vân vân, cũng như các ca sĩ và nhạc công nổi tiếng thờ đó đều nhờ vào những bài ca cổ do các ông Lê Văn Tiếng và Trần Phong Sắc đặt lời. Lúc đó ông Tiếng, còn gọi là ông Cử Thiện, đã hợp cùng với ông Sắc soạn bài “Cầm ca Tân Điệu.” Đây là một tác phẩm tương đối khá đầy đủ các bản đàn cùng lời ca cải lương trong giai đoạn phôi thai. Ông Tiếng thì đặt nhạc, trong khi ông Sắc viết lời ca.

Chẳng hạn như ông đã dựa vào âm điệu của bài Lưu Thủy Hành Vân: “Xự cống xê xang hò, là xự cống xê xang hò. Xế xang hò là xự xang, Xế xang còn xang xe cống...” để đặt ra bài Ngoạn Hứng Hoa Viên như sau:

“Ngoạn hứng hoa viên, hề,

Tình nguyện hứng hoa viên, hề, Nhứt nhựt thanh nhàn thị tiên, Lung linh đào lan mai trước...”

Tập Cầm ca Tân Điệu được nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết in vào năm 1925, gồm những bài: Lưu Thủy Hành Vân, Long Hổ Hội, Bài Tạ, Tây Thi, Lưu Thủy, Bình Bán, Tứ Đại Cảnh, Vân Thiên Tường, Dạ Cổ Hoài Lang (tiền thân của bài vọng cổ), Ngũ Điểm, Khổng Minh Tọa Lầu, Cổ Bản, Phù Lục, Xuân Tình, Tứ Đại Oán, Cửu Khúc Giang Nam, vân vân. Đây cũng là lý do tại sao những bài ca cổ xuất hiện từ khoảng năm 1915 đến năm 1930 lại sử dụng rất nhiều từ chữ Hán, vì các tác giả rất rành Hán văn.

Ngoài ra, ông Trần Phong Sắc còn là đạo diễn kiêm soạn giả cho những gánh hát bội lớn ở Nam Kỳ. Ông là một trong 3 đạo diễn kiêm soạn giả nổi tiếng nhất vào thời đó(5). Ngoài tài dịch thuật, ông còn sáng tác nhiều tác phẩm như: Kim Vân Kiều (1914), Tân Tiếu Lâm, Sĩ Hữu Bá Hạnh (1925), Vệ Sanh Thực Trị (1927), Bàn Dạ Phi Đầu (4 tập), Hậu Vân Tiên Diễn Ca (sáng tác kế truyện Lục Vân Tiên).

Năm 1904, bộ sách dịch Tam Quốc Chí lần đầu tiên được đăng trên tờ báo Nông Cổ Mín Đàm. Phải nói, đạo đức luân lý và phong cách của người dân vùng đất phương Nam hồi cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX đã chịu ảnh hưởng rất lớn trong nhân sinh quan của những bộ sách dịch này, nổi bật nhất là qua các câu châm ngôn: “trọng nghĩa khinh tài”, đối với dân đất phương Nam, anh em bạn bè ăn ở với nhau có thủy có chung, trước sau một lòng một dạ không thay đổi; và câu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giã”, nghĩa là thấy điều nghĩa mà không ra tay hành động không phải là kẻ anh hùng; hoặc “hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly”, có nghĩa là giúp nhau khi lâm nạn, sống chết có nhau khi đã ăn thế làm bạn với nhau.

Ngoài chuyện truyền bá văn hóa Đông phương và giúp cho sự phát triển chữ quốc ngữ, những tác phẩm dịch thuật của ông còn có tánh cách giáo dục đạo đức rất sâu sắc, như trong bộ “Phong Thần”, dưới ngòi bút linh hoạt của ông, tình nghĩa thầy trò thiêng liêng được miêu tả một cách vô cùng thân ái, song không kém phần nghiêm minh, như đoạn Thái Ất mượn tay đạo hữu là Văn Thù sửa trị tánh nết hung hăng của Na Tra Linh Châu Tử. Chính vì vậy mà bao nhiêu dịch phẩm của ông tung ra đều được các nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết, Đinh Thái Sơn, Đặng Lễ Nghi tranh nhau ấn loát và xuất bản. Có những người đã đem hết sức lực cả đời của mình làm ra sự nghiệp để đời, nhưng lại có ít người biết đến và nhắc đến, ông Trần Phong Sắc là một trong những người đó. Nhưng phải thành thật mà nói, trong việc dịch thuật thẳng những bộ truyện Tàu từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, nhà nho Trần Phong Sắc đã góp phần không nhỏ chẳng những về mặt truyền bá văn hóa Đông phương, mà ông còn giúp cho sự phát triển chữ quốc ngữ được vững vàng hơn trong những thập niên đầu thế kỷ thứ XX. Cuộc đời thanh bạch ông Trần Phong Sắc đã để lại một tấm gương sáng(6). Ông đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn hóa đồ sộ, vừa sách dịch, vừa sáng tác, vừa viết tuồng và soạn những bài ca cổ, khoảng 59 tác phẩm với hơn 6.000 trang chữ in. Phải thành thật mà nói, sở dĩ người dân vùng đất phương Nam có đời sống văn hóa biết trọng nhân nghĩa, đôi khi phong các hơi ngang tàng, nhưng dám làm dám chịu, bộc trực, thấy sự bất bình là ra tay can thiệp, phần lớn là nhờ vào những bài học đạo lý và nhơn nghĩa trong các truyện Tàu thời xa xưa, mà Trần Phong Sắc là một trong những người đã góp công sức rất lớn trong việc dịch thuật và phổ biến những câu truyện này.

Ghi Chú:

(1)          Ông Đào Văn Hội viết quyển “Tân An Ngày Nay” vào năm 1945, như vậy khi ông nói mấy mươi năm về trước có nghĩa là khoảng đầu thế kỷ thứ XX.

(2)          Truyện Phong Thần kể lại khung cảnh thờ ban sơ của lịch sử Trung Hoa, với nhiều phép thuật hết sức huyền bí, trước khi so tài đấu sức, các nhân vật trong truyện thường ngâm nga một bài thơ rồi mới bắt đầu đánh võ. Trong khi dịch bộ Phong Thần, Trần Phong Sắc diễn tả lại tình cảm các nhân vật một cách tế nhị và thâm trầm, chứ không sổ sàng. Nhưng đến khi diễn tả lại cảnh hai bên lâm chiến, ấu đả kịch liệt, thì ông lại dùng một giọng văn mạnh mẽ như là tiếng đao kiếm chạm vào nhau chan chác chẳng hạn như trong đoạn sau đây: “thật là kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ, lương tài, một qua, một lại, bốn mươi hiệp cầm đồng”, tuy là văn biền ngẫu, nhưng lại có giọng rất mạnh mẽ.

(3)          Thường thì các bộ truyện Tàu, mỗi bộ gồm từ vài ba quyển đến hàng mấy chục quyển, nên phải do nhiều người chung nhau dịch. Chẳng hạn như bộ “Đông Châu Liệt Quốc”, trên 10 quyển, được dịch và in từ từ, kể từ năm 1906 đến năm 1929, nghĩa là trong vòng 23 năm, được các ông Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Công Kiều, Trần Đình Nghị cùng nhau chung dịch. Riêng bộ “Tái Sanh Duyên” quyển 1 do ông Nguyễn Văn Đẩu dịch và in năm 1906. Rồi sau đó các ông Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương và Trần Phong Sắc tiếp tục dịch đến quyển chót là quyển thứ 11.

(4)          Theo quyển Tân An Ngày Xưa của ông Đào Văn Hội, do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa xuất bản năm 1972, kể về chuyện đi dạy học của ông Trần Phong Sắc như một ông thầy đồ hết sức thanh bạch. Khi đi dạy học, Trần Phong Sắc vẫn luôn luôn mặc bộ áo dài bằng xuyến đã cũ, đầu đội chiếc khăn cũng đã phai màu, mang giày hàm ếch, dầu mưa hay dầu nắng, ông vẫn luôn đi bộ, từ nhà đến trường. Bên trong cái túi áo trắng của ông, lúc nào cũng kè kè những sách. Ông dạy môn Luân Lý từ lớp Năm đến lớp Nhì (bây giờ là từ lớp Một đến lớp Bốn). Lúc đó, lương dạy học của ông khoảng 10 đồng bạc Đông Dương mỗi tháng. Tính tình ông Sắc rất trầm lặng, ít giao thiệp với ai. Mỗi khi học sinh đến giờ ra chơi, ông thường lấy trong túi ra một cuốn truyện Tàu bằng chữ Hán để giải trí.

(5)          Hai vị kia là ông Trương Duy Toản và ông Nguyễn Trọng Quyền.

(6)          Hồi cuối năm 1984, đầu năm 1985, tác giả có dịp ở chung với anh Hứa Hoành, đồng hương Vĩnh Long, tại vùng Bataan, Phi Luật Tân. Anh Hứa Hoành kể về Trần Phong Sắc như là một người con chí hiếu với mẹ. Khi mẹ mất, ông cho tạc tượngđể trên bàn thờ, mặc y phục và có để cả đầu tóc như ngày mẹ còn sinh tiền. Ông còn là một nhà Nho đúng nghĩa, khi vợ ông mất lúc ông chưa đầy 30 tuổi, thế mà mãi đến năm hơn 40 tuổi ông mới tục huyền. Trong đời sống hàng ngày, ông ăn ở không hể để mích lòng một ai, không gây thù oán với ai, bạn bè lối xóm ai ai cũng thương yêu và kính nể.

                                 ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn