Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000130
Số lượt truy cập
21865212
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-05-05 08:43:26

 

 15) Nguyễn Văn Sâm(?-1947)

Nguyễn Văn Sâm, sanh trưởng tại vùng Gia Định (?), có sách nói ông sanh tại miền Nam nhưng lại không rõ nơi chốn. Gia đình ông vốn là một trong những gia đình phú nông giàu có trong vùng. Từ nhỏ ông đã được cha cho theo học văn chương.

Khi ra làm việc ông trở thành một nhà chính trị và cũng là nha viết báo trứ danh của miền Nam vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ XX. Ông từng hợp tác với tờ “La Tribune Indigène,” và làm chủ nhiệm tờ “Đuốc Nhà Nam” và tờ “Quần Chúng.” Ông cũng là Chủ Tịch Hội Ký Giả Việt Nam. Ông chủ trương tranh thủ nền độc lập tự chủ cho đất nước bằng cách nâng cáo ý thức tự chủ của dân tộc qua phương tiện truyền thông báo chí. Ông cũng từng gửi cho nhà cầm quyền và Quốc Hội tại chính quốc Pháp thời bấy giờ một bức thư tả rõ tình trạng báo chí nước ta dưới chế độ áp bức của chính quyền thực dân. Khi thế giới đại chiếnlần thứ hai bùng nổ, ông bị bắt và bị lưu xứ tại vùng Sóc Trăng.

Khi chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, biết ông là một nhân sĩ quốc gia rất có uy tìn, nên mời ông sung vào chức Khâm Sai Đại Thần tại Nam Kỳ. Sau ngày Việt Minh cướp chính quyền, ông thành lập đảng Dân Chủ Xã Hội, về sau ông tham gia Mặt Trận Thống Nhứt Quốc Gia. Ông là một trong những chiến sĩ quốc gia chống chủ nghĩa cộng sản thoát thai từ Nga Sô một cách rất cương quyết. Và ông luôn chủ trương kết hợp các đảng phái quốc gia chân chính để đấu tranh cho một nước Việt Nam Độc Lập và Thống Nhất, không dính dáng gì đến bất cứ một chủ nghĩa ngoại lai nào. Chính vì vậy mà vào chiều ngày 10 tháng 10 năm 1947, ông bị bọn khủng bố thuộc một đảng phái lai căng vọng ngoại sát hại tại vùng Chợ Lớn.

 

16) Đạo Tưởng Cùng Bổn Đạo Trong Cuộc Dấy Binh Tân Châu Năm 1939

Đạo Tưởng tục danh là Lâm Văn Quốc, tự là Ba Quốc, quê quán vùng Cái Cùng, xã Long Điền, một thôn nằm giữa xã Vĩnh Mỹ và Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Ông sanh ra trong một gia đình bần nông, là con của ông Lâm Văn Nguơn và bà Nguyễn thị Nhỏ. Gia đình ông có ba anh em trai, gồm có ông, người em thứ Năm tên Lâm Văn Bửu và người em út tên Lâm Văn Út. Tưởng cũng nên nhắc lại, ông là cháu kêu ông Nguyễn Chánh Sắt ở Tân Châu bằng cậu ruột. Ngay từ lúc nhỏ, vì gia đình túng quẩn, nên ông không được cha mẹ cho đi học như chúng bạn. Hơn nữa, nhà ông lại ở trong vùng thôn quê hẻo lánh, rất xa trường học.

Đến khi trưởng thành, khi song thân của ông đã qua đời, thì ông rày đây mai đó, lấy bốn biển làm nhà. Nhờ có thân hình vạm vỡ và sức mạnh phi thường, nên ông đã theo học võ nghệ, nên đã tìm đến thọ giáo với những tay anh chị giang hồ khắp nơi. Có khi ông lên đến tận Nam Vang, hay qua các xứ Lào và Xiêm La. Khoảng năm 25 tuổi, ông nghiễm nhiên trở thành một tay anh chị với võ nghệ và bùa ngãi đầy mình(1). Đây cũng chính là những yếu tố chính khiến ông trở thành một lãnh tụ chống Pháp sau này. Vào khoảng năm 1925, ông trở về xứ và lưu trú tại nhà cậu ông là ông Nguyễn Chánh Sắt ở Tân Châu, hằng ngày ông phụ lo việc đồng áng với cậu mình. Trong suốt thời gian ở đây, ba Quốc tỏ ra là một người nông dân hiền lành và là một người cháu rất ngoan ngoãn. Ông đã quán xuyến hết thảy mọi việc được cậu giao cho mà không hề than phiền lấy một câu.

Mọi chuyện đều trôi qua êm ả trong vài năm. Đến năm 1928, bỗng một đêm, ông bất thần lên cơn, vỗ đầu đấm ngực, la hét thất thanh, hơi thở hổn hển. Có khi ông tự xưng là “Ông Tướng Núi”, có khi lại tự xưng là “Ông Lèo”... Thế là người cậu Nguyễn Chánh Sắt của ông bèn dựng cho ông một cái am tranh(2) trong đất mình, để cho ông ngày đêm tu tâm dưỡng tánh. Kể từ đó, Ba Quốc thoát tục, thành một tu sĩ, luôn mặc đồ tu màu vàng. Bài kinh nguyện của ông cũng tương tự như bài kinh nguyện của phái Bửu Sơn Kỳ Hương bên vùng Thất Sơn. Trên bàn thờ chỉ cúng nước lạnh, bông hoa và thắp nhang, chứ không đốt giấy vàng mả. Mỗi ngày ông hành lễ 3 lần: công phu khuya, công phu trưa, và công phu chiều. Ông lạy các bàn thờ theo thứ tự bàn Thầy, bàn Thánh, bàn Thần, và bàn chư vị Năm Ông. Mỗi bàn lạy 12 lạy. Sau khi lễ xong bên trong, ông ra làm lễ lạy tứ phương ngoài bàn Thông Thiên, mỗi hướng cũng lạy 12 lạy. Mỗi tháng ông thường ăn chay 10 ngày, thường là món muối sả ớt với cơm, trái cây, và đặc biệt là món khoai lang. Người nào muốn vô đạo của ông, chỉ cần lạy thề trước bàn Thầy là không Phản Đạo là đủ. Tưởng cũng nên nhắc lại là ông Đạo Quốc hay Đạo Tưởng có tài trị bá bệnh, nên danh tiếng của ông lan truyền đi rất nhanh, và số tín đồ của ông chẳng mấy chốc đã lên đến con số rất lớn, hầu như khắp vùng Tân Châu, Hồng Ngự và Thất Sơn, nhiều nhứt là ở vùng kinh Thần Nông, (xã Phú Vĩnh), Giồng Trà Dên (xã Tân An), Long Thuận, Long Sơn, Phú Lâm, và Thường Phước, vân vân, ai nấy đều đổ xô về Tân Châu xin làm đệ tử của ông.

Vì thấy ông đạo Ba Quốc thường ngồi trầm tư mặc tưởng, nên người dân Tân Châu gọi ông là “Ông Đạo Tưởng”. Kỳ thật theo quyển Tân Châu Xưa của hai ông Nguyễn Văn Kiềm và Huỳnh Minh, trang 167, Đạo Tưởng ở đây là tưởng cao cả về “Giang San Tổ Quốc”, chứ không phải là trầm tư mặc tưởng bình thường. Ông muốn lập đạo ra với chủ ý là thâu nhập quần chúng thành một khối để chống Pháp về sau này. Những khi ông Đạo Tưởng ngồi im lặng tham thiền trong liêu giữa đêm khuya canh vắng, nhất là vào những ngày lành tháng tốt, các đệ tử của ông đều thấy mình ông tỏa ra những ánh hào quang lập lòe. Vì vậy mà người ta truyền nhau rằng đây là một quới nhơn khác người, hiện thân của một đấng “Quân Vương”. Từ đó bổn đạo của ông lại càng tin tưởng hơn, và mừng trong lòng rằng rất có thể đây là một đấng “Minh Vương” xuất thế để đánh đuổi bọn thực dân Pháp, đem lại độc lập tự chủ cho đất nước. Thế là các đệ tử của ông suy tôn ông làm “Minh Hoàng Quốc”. Tính tứ năm 1928 đến năm 1939, số tín đồ của ông đã lên đến hơn 10.000 người. Mỗi khi ông đi đâu, người ta cũng tiếp rước ông rất trọng thể.

Cũng theo quyển Tân Châu Xưa của hai ông Nguyễn Văn Kiềm và Huỳnh Minh, trang 168, có lần ông đụng đầu vào cây đinh cỡ một tấc trên cột, đầu ông thì chẳng hề hấn gì, mà cây đinh thỉ bị vẹo sang một bên; có khi ông cho người ta dùng dao cắt và chém ông cũng không hề hấn gì. Thế là tín đồ lại càng tin tưởng nơi huyền năng của ông nhiều hơn. Đêm đêm, ông hội tụ thanh niên lại để tập võ nghệ cho họ, biến họ thành những chiến sĩ thiện nghệ khi phải đánh sáp lá cà. Mà thật vậy, nếu ai có dịp mục kích những cuộc tập dượt đệ tử của ông đều phải thán phục tài nghệ phi thường của ông. Chẳng mấy chốc, ông đã huấn luyện được một số đông đệ tử của mình thành những võ sĩ dũng mãnh. Đặc biệt là ông tập cho hai người em của ông là Lâm Văn Bửu và Lâm Văn Út trở thành những võ sĩ ngang bằng tài nghệ của ông. Bên cạnh đó, ông Đaọ Tưởng lại cho tổ chức một ban tham mưu cai quản hành chánh giống như chính quyền, trong đó có các ông: quân sư Nguyễn Văn Hương, Định Phan Vương Lèo, Đô Đốc T... Tiên Phong X..., Ngự đệ Út, Nguyên Soái Năm, vân vân.

Việc tổ chức cũng như hành đạo của ông “Đạo Tưởng” rồi cũng bị đám mật vụ báo cáo cho sở mật thám Pháp và chính quyền thực dân. Mặc dầu khoảng thời gian cuối thập niên 1930s, chính quyền mẫu quốc Pháp đang gặp khó khăn vì trận thế chiến thứ II, nhưng bên các xứ thuộc địa, thực dân Pháp cũng sẳn sàng thẳng tay đàn áp. Trong số những tên tay sai chó săn cho Tây có ông Hương tuần Trương văn Hiếm, nhà ở cách am của ông “Đạo Tưởng” chừng 100 mét. Tuy nhiên, những hành động của tên Hiếm không qua mặt được ông “Đạo Tưởng”, vì thế tên Hiếm bị ngầm xử án tử về tội gián điệp. Sau đó, ông cho một số tín đồ võ nghệ cao cường của mình tình nguyện gia nhập vào quân đội Pháp để làm nội ứng cho ông. Chính ông đã đích thân đến quận lỵ Tân Châu để nộp đơn xin nhập ngủ cho 36 đệ tử của mình. Đạo Tưởng đã làm giấy cam kết với ông chủ quận Tân Châu: “Đại bác và thần công của Đức không thể nào sát hại nổi mình đồng xương sắt của bổn đaọ ông. Nếu không tin thì cứ đem đệ tử của ông ra sân vận động Tân Châu mà thí nghiệm”. Tuy nhiên, chủ quận Tân Châu bác đơn xin của ông. Trong lúc ông “Đạo Tưởng” đang nói chuyện chủ quận Tân Châu thì tên Hiếm cũng đang lảng vảng bên ngoài, khiến cho ông “Đạo Tưởng” càng nghi ngờ là chính tên Hiếm đã nhúng tay vào làm kỳ đà cản mũi vụ tình nguyện đầu quân theo kế hoạch của ông.

Sau đó, ông “Đạo Tưởng” thấy không thể trì hoản lâu hơn nữa được nên quyết định sẽ hành động(3) vào đêm 14 rạng 15 tháng giêng âm lịch, năm Kỷ Mão, 1939. Tuy nhiên, đã có tay sai lọt vào hàng ngũ báo cho chính quyền thực dân biết ngày hành động, nên “Đạo Tưởng” bèn ra lệnh hành động sớm hơn, tức sẽ hành động vào đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng giêng âm lịch. Tối đêm mùng 8, ông “Đạo Tưởng” cho tổ chức thuyết pháp cho bổn đạo. Đến gần giờ bắt đầu thuyết pháp, người ta kéo tới am của ông “Đạo Tưởng” để nghe thuyết giảng rất đông. Rồi ngay trong buổi thuyết giảng, ông “Đạo Tưởng” đã khéo léo chuyển sang đề tài đất nước. Ông nói: “Hỡi đồng bào! Dân tộc ta đã bị người Phú Lang Sa cai trị nhục nhã gần một thế kỷ nay! Bây giờ thì thời của chúng sắp hết, vậy đồng bào hãy đoàn kết chặt chẽ sau lưng chúng tôi để đánh đuổi quân thù cướp nước, hầu đem lại hạnh phúc cho toàn dân.” Có khi quá cảm hứng, ông đã tự xưng mình là “Chánh Vì Vương”, thừa mạng trời để lập quốc. Hơn nữa, ông tự hào rằng mình đã có đủ tài phép cao cường, có thể làm cho súng đạn của Tây trở nên vô dụng. Một số người trong nhóm đến nghe giảng cảm thấy sợ nên đã âm thầm rút lui.

Lúc 4 giờ sáng ngày mùng 9 tháng giêng năm Kỷ Mão, 1939, ông “Đạo Tưởng” ra lệnh cho người đi mời ông Hương tuần Hiếm và Hương quản Huỳnh Công Minh, nhưng ông Minh từ chối, còn ông Hiếm ra đi. Khi đi ngang qua nhà hai ông Mai văn Du và Mai văn Lang đang uống trà, ông Hiếm liền rủ hai ông này cùng đi theo cho có bạn. Đến nơi, ông Hiếm không thấy thầy Hương quản Minh, nên dự định cáo từ rút lui. Nhưng ông “Đạo Tưởng” đã ra lệnh bắt giữ cả 3 lại. Ông Mai văn Du và Mai văn Lang lách mình ra chạy thoát thân, nhưng ông Du đã bị đâm một chĩa vào mặt, và ông Lang bị một búa trên đầu. “Đạo Tưởng” chỉ vào mặt Hương tuần Hiếm và nói rằng: “Mầy có còn nhớ không lời thề trước Bàn Thầy? mà mầy đành phản Thầy phản Đạo? Vậy thì để mầy sống chi cho chật đất.” Vừa nói xong là ông “Đạo Tưởng” ra lệnh hạ thủ tên Hiếm để lấy máu tế cờ. “Đạo Tưởng” ra lệnh cho bổn đạo tới đình Long Phú đem hết gươm giáo về am rồi sắp song song theo bàn Thông Thiên, với khoảng 60 bổn đạo tất cả đều mặc đồng phục màu vàng và đầu cạo trọc. Dọc theo kinh Vĩnh An và bờ sông chợ Tân Châu, ghe của những bổn đạo giả làm ghe buôn, chở những đồ tiếp tế như khoai lang, bắp, và bí rợ, vân vân, đang cập bến chờ đến giờ hưởng ứng. Ông “Đạo Tưởng” biết là ông quận Nguyễn văn Lễ đang cùng với tên cò Tây Laffont và khoảng hai tiểu đội lính bảo an đang bố trí dọc theo Đường Chùa, nhưng ông cũng chẳng hề nao núng. Đến khi hai bên chỉ còn cách nhau chừng vài mươi thước, thì ông quận Nguyễn văn Lễ có ý muốn giảng hòa với “Đạo Tưởng”, nhưng “Đạo Tưởng” nói với ông Lễ một cách hiên ngang chứ không có vẻ gì sợ sệt: “Người Lang Sa cướp nước chúng tôi đã lâu rồi. Vậy người Tây nên thức thời trả nước lại cho chúng tôi tự lèo lái.” Sau khi thấy rõ lực lượng của ông “Đạo Tưởng”, chủ quận Lễ ra lệnh tấn công. Kết quả là ông “Đạo Tưởng” cùng một số bổn đạo chết ngay tại trận. Số còn lại bị tên cò Laffont và quận Lễ cùng những tay sai khác của Tây bắt đem về huyện đường và bị chúng tra tấn vô cùng dã man. Sau đó, tất cả bổn đạo bị bắt, kể cả hai đứa con của ông Đạo Quốc là Lâm Quốc Huỳnh và Lâm Quốc Đạt, chỉ mới 10 và 11 tuổi, cũng bị bắt giải về tỉnh Châu Đốc. Riêng xác của “Đạo Tưởng” và một số bổn đạo bị chúng chôn vào một hố(4).

Ngày nay mỗi lần giở lại trang sử bi tráng này, người viết bài này vừa kính phục ông “Đạo Tưởng” mà cũng vừa buồn vừa tiếc. Kính phục nơi tấm lòng yêu nước vô bờ bến của bậc tiền nhân, nhưng lại buồn và tiếc phải chi tiền nhân biết được tấm gương của hoàng đế Phan Xích Long vào năm 1913 trên vùng Biên Hòa, Sài Gòn và Gia Định, mà chịu khó tổ chức kỹ càng và bí mật một chút, nhứt là phải trang bị cho bổn đạo của mình ít nhất bằng với những loại vũ khí mà tên quận Lễ và tên cò Laffont đang có, thì rất có thể, với quân số áp đảo hơn quân số của quận Tân Châu nhiều, ít ra bên phía quân của ông “Đạo Tưởng” cũng làm nên được một tiếng vang cho cuộc khởi nghĩa tại quận Tân Châu thời đó. Nói gì thì nói, dầu ông “Đạo Tưởng” và một số bổn đạo đã hy sinh, nhưng tinh thần yêu nước của mấy ông sẽ sống mãi trong lòng dân tộc. Giờ này trang sử vong quốc cũng đã sang trang. Tính đến nay đã gần 80 năm kể từ ngày xãy ra biến cố ông “Đạo Tưởng”, và biết bao nhiêu thế sự thăng trầm đã xảy đến cho vùng đất phương Nam, nhưng mãi cho tới ngày nay, những hậu duệ của các tín đồ của ông “Đạo Tưởng”, nhứt là dân chúng ở kinh Thần Nông, vẫn luôn giữ một lòng tôn kính Thầy. Hàng năm cứ đến 2 ngày mùng 8 và mùng 9, tức là ngày ông thọ hại, họ đều cùng nhau dùng những món đạm bạc mà ngày trước ông “Đạo Tưởng” đã dùng, rồi tổ chức những buổi lễ đơn giản để tưởng niệm vong linh người Thầy, người chiến sĩ đã gây nên một phong trào chống xâm lăng và đã vị quốc vong thân. Cuối cùng, người viết bài này xin đê đầu kính bái và xin đốt lên một nén hương lòng để tưởng nhớ đến sự bất khuất của tiền nhân trước họng súng xâm lăng của quân thù. Tấm gương anh dũng này của ông “Đạo Tưởng” sẽ sống mãi với con cháu của đàn hậu bối chúng ta.

Ghi Chú:

(1)          Theo các bô lão địa phương ở Tân Châu, vào khoảng năm 1925, tại nhà ông Nguyễn Chánh Sắt có một thanh niên tướng người vạm vỡ, lực lưỡng, cao trên 1,70 mét, lưng rộng, mặt vuông, đôi mắt sáng, tay chân gân guốc. Đôi bàn tay có một bộ móng bén nhọn như móng cọp. Người ta có cảm tưởng khi lâm trận với ai, người đó có thể dễ dàng dùng mười móng tay nhọn của mình mà móc ra trọn bộ đồ lòng của đối phương. Thêm vào đó, ông có dáng đi hiên ngang, giọng nói sang sảng, trông giống như một vị võ tướng, với đầy đủ phí khách ngang tàn bất khuất. Đó là ông Ba Quốc từ bên Cao Miên mới trở về.

(2)          Vào khoản năm 1928, ông Nguyễn Chánh Sắt dựng cho cháu mình là Ba Quốc một cái am tranh trên đất nhà, toạ lạc giữa Long Đức Tự và khu Ấp Long An A, mà sau này người ta gọi là “Đường Chùa”, thuộc xã Long Phú, cách quận lỵ Tân Châu khoảng 1 cây số. Trong am có Bàn Tổ hay Bàn Thầy, thờ Quan Công, tức Quan Vân Trường, hiển thánh đời Tam Quốc bên Tàu (Thục, Ngô và Ngụy). Bên trái thờ Thần, bên phải thờ Thánh. Đối diện bàn thờ Quan Công là khánh thờ chư vị Năm Ông. Bên trên gác là một cái liêu kín, nơi để cho Ba Quốc tịnh tâm.

(3)          Do sự mật báo của ông Hiếm, nên mật thám Tây đã cho người giả dạng thường dân đến tham dự để theo dỏi những hoạt động trong am của ông “Đạo Tưởng”. Chính vì vậy mà ông “Đạo Tưởng” phải thay đổi kế hoạnh của mình.

(4)          Hố này tọa lạc phía sau trường trung học bán công Tân Châu. Lúc Pháp còn cai trị, bổn đạo ít ai dám lại thăm mộ Thầy.

                                                              ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn