Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000066
Số lượt truy cập
22362881
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-04-15 09:39:16

 

7) Hương Hào Hầu Và 18 Liệt Sĩ Biên (1)Hòa

Hồi đầu thế kỷ thứ XX, khoảng năm 1914, vì thấy càng ngày ách thống trị của Pháp càng xiết chặt lên đồng bào Việt Nam với những sưu cao thuế nặng, dân tình phải khổ sở điêu linh, nên các nhà ái quốc trong phong trào Thiên Địa Hội tại Việt Nam đang chuyển hướng sang làm cách mạng chống Pháp để giành lại độc lập cho xứ sở. Riêng tại xứ Đồng Nai, sĩ phu và chiến sĩ yêu nước đã họp laị nhau để thành lập một đảng phái cách mạng chống Pháp, có tên là “Lâm Trung Trại”. Buổi họp mặt ban đầu gồm Hương Hào Hầu, tức Ba Hầu ở Tân Trạch, và mười tám nghĩa dũng khác trong vùng(2). Căn cứ chính của nghĩa binh được đặt tại núi Gò Mọi, thuộc xã Thiện Tân, trong ngọn Rạch Đông, Công Thạnh. Về lương thực, đảng cách mạng ở “Lâm Trung Trại” được rất nhiều nhà hào hiệp vùng Đồng Nai cung cấp gạo, mắm, muối, khô. Về vũ khí, “Lâm Trung Trại” có được một ít khẩu súng trận, một số súng điểu thương, do mua được từ những tên Tây háo sắc. Nhờ tôn chỉ hoạt động đánh Tây nên số nghĩa binh theo về ngày càng đông. Hầu như trong vùng Đồng Nai thời ấy, ai cũng có liên hệ với “Lâm Trung Trại”, vì thanh niên trai trẻ thì làm đảng viên, lớn tuổi thì làm cảm tình viên, còn nhà giáu thì làm ủng hộ viên.

Đến năm 1915, sau khi đại chiến bùng nổ ở Âu Châu, Pháp phải đương đầu với Đức, số dân chính quốc không đủ cung ứng cho chiến trường Pháp-Đức, nên người Pháp đã ra lệnh bắt dân thuộc địa đi lính cho họ. Đảng “Lâm Trung Trại” phản đối việc này bằng cách chiếm đóng công sở để giải vây cho những người bị bắt lính. Đến đêm 12 tháng giêng năm Bính Thân, năm 1916, theo lệnh của đảng “Lâm Trung Trại” thì ai ở làng nào lo việc giải cứu cho người bị bắt lính của làng đó(3). Đêm hôm đó trống hồi một nổi lên khắp nơi, truyền tin vì nhà việc làng bị tấn công thả lính. Trong số các nhà việc làng, thì nhà việc làng Tân Trạch là sôi nổi nhất. Trong đó Hương hào Hầu có chân trong ban hội tề Tân Trạch, ví bất bình trước sự cưỡng bách người Việt phải đi lính qua Pháp, nên ông đã bỏ chức, gia nhập hàng ngũ “Lâm Trung Trại”. Ông rất nổi danh vì là con người khí khái can trường, ông đã bất ngờ từ giả vợ con để đi vào rừng với câu trăn trối bất hủ: “Ta sinh làm tướng, chết làm thần”. Bên cạnh đó, Tư Hổ, đệ tử của ông Đạo Rau Đoàn Văn Cự, đã dột kích nhà làng Tân Trạch, giải vây cho những người bị bắt phải qua Pháp đi đánh với Đức. Ngoài ra, làng Tân Khánh cũng giải thoát được một ít; trong khi các nơi khác Tây đã cho phòng bị nên việc giải thoát không có kết quả.

Riêng tại Khám Biên Hòa, Mười Sót và Mười Tiết chỉ huy phá khám giải thoát tù phạm, nhưng vì vũ khí quá thô sơ nên công cuộc pháp khám thất bại, Mười Tiết và Mười Sót bị bắt sống. Tuy vậy một số đông tù phạm bên trong hay tin cũng đồng loạt nổi dậy phá cửa ngục và thoát thân. Tại khám lớn Sài Gòn, anh em trong đảng “Lâm Trung Trại” cũng ra tay phá khám, nhưng vì giặc Pháp giữ khám quá chặt chẽ nên tất cả anh em xông vào đều bị bắn chết.

Sau đêm bạo động 12 tháng giêng năm 1916, đảng “Lâm Trung Trại” đã dự đoán thế nào cơ mưu cũng bại lộ, các đảng viên sẽ bị truy nã, nên ngay buổi sáng hôm 13 tháng giêng, tất cả đảng viên có mặt tại “Lâm Trung Trại” đã tổ chức một buổi họp khẩn cấp tại chùa Tân Trạch, đề nghị khẩn cấp phân công để tấn công thành Sơn Đá như đã định. Lúc này lãnh tụ Năm Hi bấm quẻ thấy bất lợi, nên bàn với anh em ngưng hoạt động một thời gian chờ cho tình hình lắng dịu rồi sẽ tính tiếp, nhưng không được những thành viên khác trong đảng đồng thuận, và cuối cùng đi đến biểu quyết chung là hành động ngay. Ngay lúc đó, thám báo của “Lâm Trung Trại” chạy về cấp báo là có tàu Tây đến. Năm Hi leo lên nóc chùa quan sát, thấy quả thật lính Lê Dương đang đổ bộ và rầm rộ tiến về hướng chùa. Năm Hi ra lệnh cho anh em tản ra vườn mía sau chùa. Một lúc sau, quân Pháp vào chùa lục soát, chúng thấy dấu hiệu chảo lớn đựng cơm còn nằm trên bếp cùng những chảo đồ ăn, nên chúng nghi là vừa mới có cuộc họp, bèn bắt vị trụ trì hạch hỏi. Sau đó quan Tây cho lính quần thảo phía sau vườn mía, rồi theo lời đốc xúi của bọn Việt gian tay sai, chúng đã cho đốt vườn mía, nhưng đêm đó vì trời đang mưa quá lớn nên mía không cháy được. Quân Pháp quyết định bao vây để đợi đến sáng mới ập vào lục soát vườn mía, nhưng không tìm thấy một ai, vì tất cả đảng viên “Lâm Trung Trại” đã theo đường ngách bí mật mà tẩu thoát từ lúc trời còn đang mưa hồi đêm. Bọn tay sai lại dẫn lính Tây đến từng nhà của các đảng viên, định bắt người thân của họ để làm áp lực, nhưng tất cả chỉ còn lại vường không nhà trống. Duy chỉ một mình cụ Cả Thấm, thân sinh của Tư Hổ, vì già yếu không đi được, nên bị chúng bắt đi tra tấn và hành hạ dã man. Vì chữ hiếu, Tư Hổ phải ra nạp mình cho chúng để cho cha già được yên thân.

Về sau này, một số vị thủ lãnh “Lâm Trung Trại” họp lại quyết định ngừng hoạt động một thời gian, rồi thừa đêm tối đem hết số vũ khí tịch thu được của Tây đem đổ hết xuống sông. Sau đó, cho anh em giải tán về làm ăn sinh sống như bình thường. Tuy nhiên, đám Việt gian tay sai vẫn muốn lập công, nên chúng đã điềm chỉ cho Tây bắt những thủ lãnh Năm Hi, Hai Lựu, Lào Lẹt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh, Mười Tiết và Mười Sót. Riêng Hương hào Hầu dầu đã cải dạng làm lái buôn bên chợ Vỏ Sa, vùng Lợi Hòa, lúc chở ghe cá từ Cà Mau về liền bị bắt. Đến khoảng giữa tháng 2 năm 1916, tất cả đều bị đưa ra xử trước tòa Hiến Binh Áo Đỏ (tòa Đại Hình) dưới tội danh là phiến loạn, cướp của giết người. Kết quả là Hương hào Hầu, Năm Hi, Hai Sở, Lào Lẹt, Bảy Phát, Bếp Đầy bị kết án tử hình. Riêng Tư Hổ và Ba Vạn bị đày đi Côn Đảo. Ngay sau khi kết án, ngày 22 tháng 2 năm1 1916, Pháp đã đưa cả thảy 38 tử tội ra ngay pháp trường, trong đó có 9 tử tội vùng Đồng Nai do tên Biện lý Đỗ hữu Trí đọc bản án: Năm Hi, Hai Lựu, Lào Lẹt, Hai Sở, Hương hào Hầu, Lào Lẹt, Bảy Phát, Bếp Đầy, Mười Tiết và Mười Sót. Họ bị trói vào chín cây cột. Đa số sắc mặt các tử tội đều biến sắc, duy chỉ có Hương hầu Hào và Hai Sở vẫn giữ nét thản nhiên và tươi tỉnh lạ thường. Khi được cho phép nói lời cuối với thân nhân, thì Hương hào Hầu hỏi xem có vợ con ở đây không, rồi ông dõng dạc nói rằng: “Ta sanh làm tướng, chết làm thần. Chào bà con ở lại mạnh giỏi.” Trong khi đó Hai Sở, một thanh niên hãy còn rất trẻ, đã hiên ngang không kém khi nói: “Cứ bắn ta đi. Sở này không sợ đâu. Cái chết đối với ta thị như qui tân gia (coi như là về nhà mới).” Cả hai ông Hương hầu Hào và Hai Sở xin được không bịt mắt nhưng đều bị bọn quan lại tay sai từ chối. Rồi thì tất cả đều bị xử bắn.

Hiện nay, về phía tây Dốc Sỏi, hướng đình Bình Thành, dưới triền thấp, có một cây gỏ cổ thụ, mà người địa phương gọi là “Cây Gỏ Cụt”, vì nó đã nhiều lần bị sét đánh mà vẫn sống, nên người ta cho là nó có hồn, ít ai dám lui tới. Đây chính là pháp trường ngày trước, nơi chôn xác của những vị anh hùng vị quốc vong thân. Ngày đó họ bị giặc Tây bắn chết mà không có lấy được một vài tấm ván làm cổ quan phải bó chiếu vùi thây, nhưng trong lòng người dân Việt Nam, nhứt là con dân đất phương Nam, lúc nào họ cũng là những vị anh hùng đã lấy chính thân mình ra để đền nợ nước. Dưới thời Pháp thuộc, bao nhiêu hào kiệt trên khắp đất nước Việt Nam, trong đó có hào kiệt vùng đất phương Nam đã anh dũng nằm xuống những mong thâu phục lại nến độc lập và tự do dân tộc. Ngày ấy giặc Pháp xem họ là giặc, nhưng trang sử vong quốc đã qua, ngày nay dân chúng vùng Đồng Nai luôn xem Hương hào Hầu và những vị liệt sĩ trong “Lâm Trung Trại” là những vị anh hùng vị quốc vong thân, đồng bào Việt Nam và tổ quốc Việt Nam sẽ đời đời ghi ơn và nhớ ơn các ngài.

Ghi Chú:

(1)          Bài này được viết theo tài liệu từ quyển Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên, quyển II, của tác giả Lương Văn Lựu (tr.190-203).

(2)          Những thủ lãnh đứng ra thành lập Lâm Trung Trại gồm có: Năm Hi, Ba Hầu, Tư Hổ, Hai Lựu, Bảy Đen, Sáu Huyền, Ba Vạn, Hai Danh, Bảy Phát, Tám Tâm, Hai Mạnh (ở vùng Tân Uyên), Ba Thứ và Năm Thanh (gốc Tân Uyên), Ba Nghi, Tư Rùa, Hai Sở, Mười Lợi, Hai Cầm. Các đảng viên tự chọn lãnh tụ và 9 vị trong ban chấp hành. Tất cả đều được xưng danh là “Anh Hùng”. Trong số này, những vị được bầu lên làm thủ lãnh theo thứ tự sau đây: 1) Năm Hi ở Tân Trạch, 2) Ba Thứ ở Tân Lương, 3) Ba Nghi ở Tân Khánh, 4) Tư Hổ ở Tân Trạch, 5) Bảy Đen ở Tân Trạch, 6) Ba Hầu ở Tân Trạch, 7) Sáu Huyền ở Tân Trạch, 8) Năm Thang ở Tân Lương, 9) Năm Rùa ở Tân Khánh, 10) Mười Lợi ở Lò Gạch.

(3)          Lúc đó nhiệm vụ giải thoát cho người bị bắt lính trong làng Tân Trạch được giao cho Năm Hi, Tư Hổ, Ba Hầu, Hai Lựu, và Ba Vạn; làng Tân Lương được giao cho Ba Thứ và Năm Thang; làng Tân Khánh và Ba Trà được giao cho Ba Nghi, Năm Rùa và Hai Sở; Bến Cá được giao cho Hai Cầm; Lò Gạch được giao cho Mười Lợi; và Khám Biên Hòa được giao cho Mười Sót, Mười Tiết, Bếp Đầy, Lào Lẹt (gối người Lào), Bảy Phát, và Hai Danh. Riêng Khám Sài Gòn thì do các đảng viên Thiên Địa Hội tại Sài Gòn đảm nhận việc phá Khám Lớn Sài Gòn.

 

                                         ( Còn tiếp)

 

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn