Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000144
Số lượt truy cập
22363341
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2022-02-25 05:06:52

 CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY

 

Những Chí Sĩ Cách Mạng

Đầu Thế Kỷ XX

 

1) Nguyễn Thần Hiến(1856-1914)

Nguyễn Thần Hiến còn có tên là Nguyễn Khuê, bút hiệu là Phát Đình, biệt hiệu là Chương Chu và Hoàng Xương. Người đương thời thường gọi ông là Hội Đồng Hiến. Ông sanh trưởng tại xã Mỹ Đức, thuộc tỉnh Hà Tiên. Ông là con của ông Nguyễn Như Nguơn và bà Huỳnh thị Chu tự là Thoại Liên. Cha ông làm quan tới chức Tuần Phủ dưới thời vua Tự Đức. Ngay từ thởi niên thiếu, ông đả tỏ ra là một thanh niên thông minh đỉnh đạt, uyên thâm Hán học, có tinh thần yêu nước nồng nàn. Ông sanh ra trong một gia đình giàu có, lại có tính hào hiệp và khảng khái, nên ông luôn ngấm ngầm giao du với các chí sĩ yêu nước từ các miền Bắc, Trung, Nam. Khi lớn lên, xuất chính, ông làm đến Hội Đồng địa hạt Hà Tiên, nhưng không màng lợi danh quyền quý, mà chỉ dốc lòng tìm đường cứu nước.

Năm 1902, sau khi thân mẫu qua đời, ông dời nhà về sinh sống tại Cần Thơ, rồi viện cớ bận lo cư tang cho mẹ mà từ chức Hội Đồng. Từ đó, ông tỏ thái độ dứt khoát không phục vụ cho chính quyền thực dân, và cũng từ đó ông luôn dấn thân vào con đường tranh đấu đòi lại chủ quyền cho đất nước. Tháng giêng năm 1904, ông gặp gỡ cụ Phan Bội Châu tại Sa Đéc và quyết định gia nhập phong trào Đông Du, sáng lập Khuyến Du Học Hội và đã đem phần lớn tài sản riêng bỏ vào quỹ của hội để đưa thanh niên Nam Kỳ sang du học tại Nhật Bản, và chính ông đã gây thành một phong trào chống Pháp rất mạnh mẽ thời đó. Để làm gương, ông đã cho người con trai của mình tên Nguyễn Như Bích sang Nhật Bản du học trong đợt đầu. Do vậy mà ông rất được các sĩ phu miền Nam cảm kích, cùng ngấm ngầm hưởng ứng rất nhiều. Sau những hoạt động tích cực đó, ông đã nghiễm nhiên trở thành một trong những lãnh tụ hoạt động tích cực chống thực dân Pháp và đòi lại nền độc lập tự chủ cho dân tộc.

Và cũng chính vì vậy mà ông bị chính quyền thuộc địa truy nã gắt gao. Năm 1908, ông đã phải vượt biên sang Cao Miên, rồi sang Xiêm La, lưu lại vùng Vọng Các hơn một năm trước khi lên đường sang Trung Hoa. Lúc lưu trú tại Xiêm La, ông cùng cụ Phan Bội Châu thuyết phục được Thiệu Quảng Thiền Sư, tục gọi là Thầy Rau, một người Việt Nam gốc Bến Tre đang tu hành tại Thái Lan. Thiền Sư Thiệu Quảng rất cảm kích việc làm của 2 ông nên đã chấp thuận về lại Việt Nam để vận động quyên tiền giúp cho các du học sinh tại Vọng Các.

Tại trung Hoa, ông đã không quản ngại bất cứ nhiệm vụ nào mà những người đồng chí hướng tin cẩn giao cho. Khi trú ngụ ở Hàng Châu, mến mộ một nữ chí sĩ Trung Hoa đã hăng say hoạt động cứu quốc mà các đấng trượng phu chưa chắc gì đã sánh bằng, nên ông đã đề tặng một bài thơ như sau:

“Mưa Âu gió Mỹ tạt về Đông. Lò tạo Hàng Châu đúc má hồng. Hồ hải bốn phương rầy tới gái,

Cương thường riêng gánh chẳng cần chồng. Thân hèn bao quản không nhà ở,

Chí cả toan đền nợ nước chung. Son phấn như vầy đâu dễ kém, Tây hà cây cỏ thảy thơm nồng.”

Tuy nói là đề tặng cho người nữ chí sĩ yêu nước Hàng Châu, nhưng trong thâm tâm cụ Nguyễn Thần Hiến là muốn gửi gắm lời nhắn nhủ và mong ước của mình đối với thanh thiếu niên trong nước, mong sao họ nhìn về những hoạt động của nữ chí sĩ Hàng Châu cho đất nước mà làm gương, rồi từ đó dốc chí lên đường làm nghĩa vụ gái trai trong cơn quốc phá gia vong.

Khi Chính Phủ Lâm Thời Giải Phóng Dân Tộc được thành lập tại Quảng Đông vào tháng 5 năm 1912, thì ông được cử giữ chức vụ Tổng Ủy Viên Sự Vụ. Tại đây ông lãnh trách nhiêm quyên góp tiền của dùng vào công cuộc cứu nước. Vào năm 1913, ông bị liên hệ trong vụ lưu trữ tạc đạn tại Hương Cảng, nên bị nhà cầm quyền Anh tại đó bắt và giải về Hà Nội cùng với các ông Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu Thuật và Huỳnh Hưng.

Tại Hà Nội, ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án chung thân và chờ ngày đày đi Côn Đảo, nhưng lúc đó ông lâm trọng bệnh và thiếu thuốc men, lại thêm ông cương quyết tuyệt thực để phản đối các đối xử tàn tệ của thực dân Pháp, nên ông đã qua đời tại nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội vào ngày mồng 1 Tết năm Giáp Dần 1914. Sau khi ông mất, người bạn chiến đấu cùng ông là ông Nguyễn Quang Diêu, cũng gốc người đất phương Nam, đã làm bài thơ khóc bạn như sau:

“Bấy lâu bay bổng cánh chim hồng, Lạc lối giờ ra phải máy cung. Chín suối có thiêng hồn Tổ Quôc, Trăm năm còn tạc gánh tang bồng. Đổi dời nghĩ gớm câu dâu bể,

Thố lộ cùng ai chuyện núi sông? Thôi để làm gương cho sắp bé,

Ngàn năm trong nước dấu anh hùng.”

Trong khi thực dân Pháp đang giam giữ cụ tại Hà Nội, thì chính quyền thực dân tại Cần Thơ cũng phát lệnh bắt giam cháu nội của cụ là Bác sĩ Nguyễn Như Giu. Tuy nhiên, 5 tháng sau đó vì không tìm được chứng cứ hoạt động chính trị nào của bác sỉ Giu nên chúng đành phải phóng thích. Hiện tại dòng họ và hậu bối của cụ Nguyễn Thần Hiến vẫn còn sống tại Cần Thơ.

 

2) Hồ Văn Chư(1856-1926)

Hồ Văn Chư sanh năm 1856 tại làng An Tịnh, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Từ nhỏ, ông đã là một cậu bé khôi ngô đỉnh đạt, và tinh thông Hán học. Cậu Chư có vóc người cao lớn, đi đứng nghiêm trang, mắt sáng và giọng nói nồng ấm và oai nghi lạ thường. Khi vừa lên 5 tuổi là giặc Pháp đã lấn chiếm thành Gia Định, rồi ông lớn lên trong cảnh quốc phá gia vong. Ông là một sĩ phu có tiết tháo bất khuất, thà sống thanh bạch chứ không a tòng theo đám tay sai mãi quốc cầu vinh. Ông luôn canh cánh bên lòng nỗi nhục vong quốc, nỗi buồn bị trị với sưu cao thuế nặng, nên ông luôn tìm mọi cách kết hợp nghĩa dũng để tìm phương cứu nước.

Đến khi triều đình đã hoàn toàn bị giặc Pháp khống chế, không còn trông mong gì được nơi cái triều đình chủ hòa và chủ bại ấy được, ông bèn quy tụ các bạn đồng chí hướng và có căn bản nho học để thành lập nên nhóm Thiên Địa Hội, hoạt động chống sự cai trị hà khắc của thực dân Pháp. Bạn bè thân hữu đương thời thấy ông là người có chí cả với tinh thần ái quốc cao độ, dám hy sinh cho đại cuộc, không màng danh lợi, nên đồng thuận đề cử ông làm thủ lĩnh cầm đầu nhóm Thiên Địa Hội trong toàn quận Trảng Bàng. Nghĩa sĩ trong vùng đứng lên đáp lời sông núi ngày càng đông. Đêm 12 tháng giêng năm Bính Thân, năm 1916, ông cùng nhóm nghĩa binh Thiên Địa Hội đánh phá khám lớn tại Sài Gòn để giải cứu cho lãnh tụ kháng chiến Phan Xích Long đang bị Pháp giam cầm tại đó. Chẳng may, cuộc đánh phá khám lớn bị thất bại, và cơ sở Thiên Địa Hội bị bạo lộ. Vào tháng 3 năm 1916, Pháp cho người đến bắt ông cùng một số anh em khác như hương hào Nguyễn Văn Ngay, hương bộ Chót, và nhiều anh em khác trong tổ chức. Ông bị đem về giam tại công sở An Tịnh. Dầu giặc Pháp tra tấn ông dã man thế nào ông cũng nhất quyết không khai một ai khác, mà chỉ một mình nhận lãnh hết trách nhiệm. Sau đó Pháp giải ông về tòa án Sài Gòn và tại đó, ông bị kết án chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo. Ông qua đời tại Côn Đảo vào ngày 3 tháng 11 năm Bính Dần, 1926, thọ 71 tuổi. Dầu lãnh tụ kháng chiến Hồ Văn Chư đã đền nợ nước hơn 80 năm nay, nhưng tên tuổi của ông vẫn luôn sáng ngời trong lòng dân tộc, và những chiến tích của ông lúc nào cũng đậm nét trong trang sử chống xâm lăng của đất nước. Thời VNCH, người con ông là ông Hồ Văn Tý cùng gia đình vẫn sinh sống tại vùng Trảng Bàng. Sau này giáo sư Nguyễn Tài Năng, gốc người Cần Thơ, đã có làm mấy vần thơ cảm tác về ông và những lãnh tụ cùng bị bắt với ông như sau:

“Trảng Bàng đã có Hồ Văn Chư, Chống Pháp hăng say, Pháp cũng đừ! Bộ Chót noi gương, nguy chẳng lánh, Hào Ngay theo dấu, khổ không từ, Thực dân tra tấn dầu tàn nhẫn, Đồng chí che nhau dẫu ngất ngư. Thiên Địa Hội xưa nêu chí cả, Thù Tây cướp nước dạ khư khư.”

 

3) Nguyễn Quang Diêu(1880-1936)

Nguyễn Quang Diêu, hiệu là Tử Ngọc, biệt hiệu Cảnh Sơn và Nam Xương. Ông sanh tại xã Tân Thuận, tổng An Tịnh, quận Cao Lãnh, tình Kiến Phong thời VNCH, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Ông là con của ông Hội Đồng Sách Nguyễn Quang Huy và bà Nguyễn thị Huệ. Ngay từ nhỏ, ông đã tỏ ra là một thanh niên thông minh đỉnh đạt, tánh tình khoan dung điềm đạm, và chí hướng yêu nước thương dân dạt dào. Bên cạnh đó, ông được cha mẹ cho đến thọ giáo với nhà chí sĩ Trần Hữu Thường, nên ông đã sớm ý thức được sự nhục nhã của một dân tộc bị trị. Chính trong khoảng thời gian theo học với nhà chí sĩ Trần Hữu Thường, ông đã tự vạch cho mình đi theo con đường giành lại độc lập cho xứ sở, nên về sau này ông trở thành một chiến sĩ hăng say hoạt động trong phong trào Đông Du tại Nam Phần.

Năm 1907, ông cùng người bạn đồng chí hướng là ông Nguyễn Thần Hiến đã hăng say hoạt động trong KHuyến Du Học Hội để cổ võ cho phong trào được nhiều người hưởng ứng, hai ông đã phái nhiều người đi khắp các vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh để vận động và khuyến khích những gia đình phú nông và phú thương nên cho con em mình du học để trở về canh tân xứ sở. Đến tháng 12 năm 1913, ông dẫn đầu một phái đoàn gốm 12 người lén sang Trung Hoa để liên lạc với các phong trào cách mạng tại đó. Tuy nhiên, khi đến Hương Cảng, chưa kịp hoạt động, chẳng may khi cảnh sát Hương Cảng bắt gặp một số tạc đạn và tài liệu quan trọng tại khách sạn nơi phái đoàn đang lưu trú, nên ông và các bạn trong đoàn đều bị bắt. Nhà cầm quyền Anh ở Hương Cảng lại ra lệnh trục xuất tất cả các nhà cách mạng Việt Nam về Hà Nội để giao cho chánh quyền Pháp.

Trong phiên tòa của Pháp tại Hà Nội, ông bị kết án 10 năm khổ sai, và bị đày sang đảo Guyane ở Nam Mỹ Châu. Đến đầu năm 1917, ông và một số bạn tù người Việt vượt ngục và trốn sang đảo Trinidad thuộc Anh. Sau đó, ông tìm cách trở về Hương Cảng vào năm 1920. Đến năm 1926, ông lại tìm đường về nước với tên Trần Văn Vẹn. Ông cùng các bạn đồng ý hướng thường đi khắp các miền Lục Tỉnh để phát động phong trào chống Pháp. Họ thường sáng tác những bài ca mang tính ái quốc dùng làm lợi khí tuyên truyền và phổ biến về ý thức bị ngoại bang cai trị là nhục nhã như thế nào. Tuy nhiên, lúc đó, mật thám Pháp lùng bắt ông một cách ráo riết, nên ông phải thường xuyên thay đổi chỗ ở, có lúc ở trong trại ruộng tại vùng Rạch Giá, có lúc ở Bến Tre, lúc ở Núi Sam trong cùng Châu Đốc, có khi phải lẩn tránh lên tận vùng biên giới Việt-Miên.

Từ đầu năm 1932, nhờ một số người có thế lực trong chính quyền Pháp che chở cho ông, ông đến dạy học và hành nghề đông y sĩ tại làng Vĩnh Hòa, kế cận Tân An. Lúc này ông sáng tác nhiều văn thơ để gửi gấm lòng yêu nước yêu dân của mình. Tuy nhiên, dầu trong bất cứ hoàn cảnh nào ông vẫn kiên trì theo đuổi chí hướng cứu nước. Bằng mọi cách ông tiếp tục phát huy tinh thần tự do dân chủ và cải cách những hủ bại trong xã hội. Khi rảnh rỗi ông phiên dịch sách “Tam Dân Chủ Nghĩa” và “Ngũ Quyền Hiến Pháp” của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên bên Trung Hoa. Không may cho dân tộc, giữa mùa hè năm 1936, ông nhuốm bệnh rồi qua đời ở tuổi 57. Những anh em đồng chí hướng vô cùng thương tiếc và đã làm một đôi câu điếu:

“Ngót hai chục năm dư,

Hồ hải từng quen Âu-Á-Mỹ; Vừa năm mươi tuổi lẻ,

Dạ đài còn tạc hiếum Trung Cang.”

Hiện tại chúng ta vẫn còn một số sáng tác thi văn yêu nước của ông Nguyễn Quang Diêu, đặc sắc hơn cả có những bài: “Viếng Hoàng Hoa Cương,” “Viếng mộ Phan Tây Hồ,” “Sầu Non Nước,” “Hà Thành Lâm Nạn,” “Tự Di Diễn ca,” “Chiêu Hồn Dân Ruộng,” “Ngỏ Cùng Nữ Giới,” vân vân, tất cả đều rào rạt lòng thương dân thương nước của một nhà cách mạng đã một đời hy sinh vì sự độc lập của dân tộc.

                                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn