Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000128
Số lượt truy cập
16571644
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-04-01 10:20:48

 

 3) Võ Tánh(?-1801

Tổ tiên Võ Tánh gốc người làng Phước An, huyện Hưng Phước(1), tỉnh Biên Hòa, nay là vùng Tân Uyên, sau dời vào huyện Bình Dương, vùng Gia Định ngày nay. Nội tổ của ông vốn họ Đỗ, được truy tặng chức Cai Cơ, cha ông tên là Toán, làm quan đến chức Chưởng Cơ, anh ông tên Nhàn, là thuộc tướng của Đỗ Thành Nhân, và làm tới chức Cai Cơ. Võ Tánh vốn tính tình khẳng khái, trí dõng hơn người, không chịu thần phục Tây Sơn. Trong khi nghĩa quân Tây Sơn đang truy lùng Nguyễn Ánh trên vùng đất phương Nam thì Võ Tánh và anh là Võ Nhàn từ Bình Dương cũng đứng ra chiêu mộ nghĩa sĩ trên những vùng đất từ Bình Dương đến Gò Công, và phất cở khởi nghĩa tại vùng Vường Trầu, Hốc Môn và Bà Điểm. Nghĩa binh của ông hùng cứ cả một vùng đất rộng lớn từ khoảng Chợ Lớn ngày nay xuống tân vùng Ba Giồng Mỹ Tho. Lúc này rất nhiều quân nghĩa dũng qui tụ về dưới trướng của ông dưới trướng của ông. Sau nhiều trận thư hùng với quân Tây Sơn, ông được người đương thời xưng tụng là Gia Định Tam Hùng, hai vị kia là Đỗ Thành Nhân và Châu Văn Tiếp. Vùng Biên Hòa thì xếp ông vào Đồng Nai Ngũ Hổ, thêm hai vị nữa là Lê văn Quân và Tống Phước Thiêm.

Sau khi tướng Đỗ Thành Nhân bị bức hại, ông cùng anh mình là tướng Võ Nhàn đứng ra qui tụ dư đảng “Đông Sơn” và tiếp tục chiêu dụ anh hùng nghĩa dũng trong vùng mà con số lên tới hàng mấy vạn người. Tổng hành dinh được đặt tại Mười Tám Thôn Vườn Trầu(2). Sau khi đại quân của ông đã tăng vọt trên 10.000 người, ông bèn chia làm 5 cánh và kéo xuống vùng Định Tường, chiếm giữ Khổng Tước Nguyên(3), rồi tự xưng là Tổng Nhung, đặt hiệu đạo là Kiến Hòa. Bên văn ông có Ngô Tùng Châu giúp đỡ. Bên võ có các tướng Nguyễn văn Hiếu, Mạc văn Tô, Mai tấn Huệ và Mai tấn Vạn lo việc tổ chức quân đội. Ngay từ khoảng năm 1780, sau khi nghe danh tiếng lừng lẫy của ông, Nguyễn Ánh nhiều lần sai người đến chiêu dụ ông mà không được. Năm 1787, sau khi ở Vọng Các về, Nguyễn Ánh lại sai Nguyễn Đức Xuyên đến viếng Võ Tánh và khẩn khoản kêu gọi Võ Tánh về hợp tác, nhưng mãi đến năm 1788 ông mới đem bộ tướng về phục vụ dưới trướng Nguyễn Ánh. Ngay sau đó, ông được phong chức Tiên Phong Dinh Khâm Sai Chưởng Cơ và được Nguyễn Ánh đem em gái của mình là công nữ Ngọc Du gả cho. Trong khi đó, tất cả thuộc tướng của Võ Tánh đều được phong chức tước phẩm trật theo triều đình. Các thuộc tướng Võ văn Lương, Nguyễn văn Hiếu, Mạc văn Tô và Trần văn Tín đều được phong chức Chưởng Cơ.

Ngay sau đó, Võ Tánh đem quân bản bộ đi đánh chiếm đồn Ngũ Kiều đang do một vị tướng Tây Sơn là Đốc Chiến Lê văn Minh trấn giữ. Vì đại quân Tây Sơn phải kéo ra Bắc Hà để đánh đuổi quân Thanh(4) nên chỉ chừa lại trong Nam một số rất ít quân để trấn giữ an ninh mà thôi. Đầu năm Kỷ Dậu, 1789, Võ Tánh nhân cơ hội này đã phối hợp cùng với Tiền quân Lê văn Quân, Hậu quân Tôn Thất Hội và Tiên Phong thủy quân Nguyễn văn Trương cùng nhau vây đánh Thái Bảo Phạm văn Tham tại vùng Hổ Châu, Phạm văn Tham cô thế phải đầu hàng và bị giết chết. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, ông lập được nhiều công trận và được thăng tới chức Chưởng Hậu Quân Bình Tây Tham Thặng Đại Tướng Quân Quận Công.

Năm 1790, Võ Tánh lại hiệp sức cùng với tướng Lê văn Quân ra đánh thành Diên Khánh, lúc đó do tướng Tây Sơn là Đào văn Hổ trấn giữ. Như trên đã nói, hầu như toàn bộ quân Tây Sơn đang đánh nhau với quân Thanh ở Bắc Hà chưa kéo về kịp, nên thành Diên Khánh phải thất thủ. Năm 1793, Võ Tánh được thăng chức Khâm Sai Quản Xuất Hậu Quân kiêm Bình Tây Tham Thặng Tướng Quân Hộ Giá, theo Nguyễn Ánh ra đánh và thu phục được các vùng Phan Rí, Qui Nhơn, Bình Khương và Phú Yên. Năm Giáp Dần, 1794, Võ Tánh nhận lãnh nhiệm vụ trấn thủ thành Diên Khánh. Trong khi đó tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân vào bao vây thành, Võ Tánh cố thủ và nhiều lần bất thình lình xua quân ra đánh nhau với Tây Sơn. Sau gần một năm vây thành mà đánh không thủng, tướng Trần Quang Diệu nhận lệnh rút quân về Phú Xuân. Năm 1795, Nguyễn Ánh triệu hồi Võ Tánh về Gia Định và giao thành Diên Khánh lại cho Tôn Thất Hội trấn giữ. Năm 1797, Võ Tánh theo Nguyễn Ánh ra đánh Quảng Nam và thắng hai tướng Tây Sơn là Đô Đốc Nguyễn văn Giáp và Nguyễn văn Ngụ tại cửa biển Mỹ Khê(5). Sau đó ông lại theo Nguyễn Ánh trở về Gia Định.

Năm Kỷ Mùi, 1799, ông lại thân chinh ra đánh thành Qui Nhơn lần nữa. Khi vào tới cửa biển Thị Nại thì Võ Tánh và Chưởng Hữu Quân Nguyễn Huỳnh Đức đóng quân nơi làng Phú Trung. Sau đó ông đánh thắng liên tiếp mấy trận Thị Giả, Tân An và giết được dũng tướng Tây Sơn là Nguyễn Thiệt. Những tướng Tây Sơn khác như Đô Đốc Lê Chất và các thuộc tướng của ông ta đều xin hàng. Kế đó, ông lại xua quân nghênh chiến và đánh bại Thái Phó Lê văn Ưng. Lúc này triều đình của Ấu Chúa Tây Sơn vô cùng rối ren, không có lệnh lạc rõ ràng, nên không có tướng sĩ nào đưa quân đến tiếp viện cho thành Qui Nhơn. Vì thế mà hai vị tướng khác của Tây Sơn đang thủ thành là Lê văn Thanh và Nguyễn đại Phát phải mở cửa thành đầu hàng.

Sau khi chiếm được thành Qui Nhơn, ông được cử giữ chức Lưu Trấn Bình Định. Cùng năm 1799, Tướng Tây Sơn là Thái Phó Trần Quang Diệu đem quân vào vây thành Qui Nhơn. Lúc đó, ông biết sức mình không chống nổi sự dũng mãnh của tướng quân Tây Sơn, nên ông rút hết quân vào thành cố thủ để chờ viện binh từ trong Nam. Đến năm Canh Thân, 1800, Nguyễn Ánh sai Nguyễn văn Thành, Nguyễn Đình Đắc và Nguyễn Huỳnh Đức dẫn ba đạo quân theo đường biển ra đánh Phú Yên, rồi sau đó theo đường bộ ra đánh với quân Tây Sơn tại Qui Nhơn. Trong khi đó thì Nguyễn Ánh lại dẫn thủy binh theo đường biển ra đổ quân trên cửa Thị Nại. Nhưng sức mạnh của Đại Tướng Trần Quang Diệu lúc này như vũ bão nên quân Nguyễn Ánh đành phải rút lui. Phải thật tình mà nói, từ khi hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ băng hà thì triều đình Tây Sơn ngày càng chia rẽ và rối ren, nên quân lực ngày càng yếu dần đi, giống như đèn sắp hết dầu, chỉ cần một cơn gió thoảng qua là tắt ngay.

Đến năm Tân Dậu, 1801, Nguyễn Ánh lại nương theo mùa gió kéo thủy quân ra giải vây cho thành Bình Định. Mặc dầu đánh chiếm được cửa Thị Nại, nhưng không chống nổi với đại quân của tướng Trần Quang Diệu đang vây thành Bình Định. Nguyễn Ánh bèn sai người lẻn vào thành bảo Hậu Quân bỏ thành mà ra, nhưng Võ Tánh đáp thư Nguyễn Ánh, xin được sống chết trong thành chứ quyết làm tướng không bỏ thành. Ông lại góp ý với Nguyễn Ánh, trong khi đại quân Tây Sơn đang co cụm ở Bình Định, chúa nên kéo quân ra đánh lấy Phú Xuân, đó mới là thượng sách. Còn việc giải vây cho thành Bình Định sẽ không là vấn đề một khi đã đánh chiếm được Phú Xuân. Ông khuyên Nguyễn Ánh đừng vì mạng sống của một bề tôi mà bỏ lỡ cơ hội ngàn năm một thuở này. Sau khi tiếp được phúc thư của ông, Nguyễn Ánh đã kéo quân ra đánh chiếm thành Phú Xuân, rồi sau đó đánh chiếm toàn cõi Bắc Hà. Về sau này, một số tướng sĩ trong thành thấy tình thế quá nguy ngập nên khuyên Võ Tánh nên vượt vòng vây mà trốn ra ngoài, ông đã nói một cách cương quyết và khẳng khái: “Không thể được! Ta đã phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà trốn đi một cách hèn nhát, thời sau này còn mặt mũi nào nhìn chúa thượng.” Trong khi đó, lương thực của quân sĩ Võ Tánh trong thành Bình Định đã cạn kiệt, ông biết không thể nào chống lại với đại quân Tây Sơn ở đây, ông nói với quan Lễ Bộ Ngô Tùng Châu: “Ông là quan văn, địch có bắt được ắt không nỡ giết, còn tôi là quan võ, phải chết theo thành.” Ngô Tùng Châu cười đáp lại: “Dầu văn hay dầu võ, ai cũng phải một lòng trung quân ái quốc, xin chớ phân biệt. Tướng quân liều mình với đất nước, tôi há không tận trung với vua hay sao?” Nói rồi quan Lễ Bộ Ngô Tùng Châu quay trở về tư dinh, uống thuốc độc tự vận. Võ Tánh đích thân khâm liệm quan Lễ Bộ. Hai hôm sau đó ông lên lầu bát giác, mặc triều phục, tập họp ba quân tướng sĩ lại và than: “Ta nhờ ba quân tướng sĩ đồng tâm hiệp lực mới giữ được thành, cố thủ trong hai năm, nhưng nay sức cùn lương cạn, ta đành chịu thác vậy.” Nói xong ông bảo tướng sĩ lui ra, rồi tự châm lửa đốt mình tự vận, quan Thống Binh Nguyễn Tấn Huyên ở ngoài cũng chạy vào nhảy vào lửa tự thiêu. Hôm đó là nhằm ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu, nhằm ngày 3 tháng 7 năm 1801. Trước khi tự thiêu, Võ Tánh cũng cho người đem đến cho tướng Trần Quang Diệu của nghĩa binh Tây Sơn một bức thư, có đoạn viết như sau: “Phận ta là chủ tướng, phải chết dưới cờ, còn quân lính chẳng có tội gì, xin đừng giết hại.” Khi tướng Trần Quang Diệu vào thành, thấy vậy sai quan quân làm lễ an táng theo đúng nghi thức một vị tướng. Trần quang Diệu cũng ra lệnh tha cho tất cả các quan tướng của Võ Tánh trong thành Qui Nhơn và cho phép họ ai muốn ở lại thì ở, còn ai muốn trở về theo Nguyễn Ánh thì cứ ra đi. Thật tình mà nói, khó có một vị tướng nào có được lòng nhân từ và đức độ như dũng tướng Trần Quang Diệu của nghĩa binh Tây Sơn. Cả hai bên thắng và thua đều tỏ rõ cái “dũng” và cái “nhân” của người làm tướng. Nhờ vậy mà sau ba năm bao vây thành với bao nhiêu cơ khổ cực nhọc, nhưng khi quân Tây Sơn vào thành thì không có một cuộc trả thù tắm máu nào cả. Quả đây cũng là một tấm gương đức độ mà người đời sau nên ôn cố tri tân.

Năm Nhâm Tuất, 1802, Nguyễn Ánh xưng vương và truy tặng ông chức Thái Úy Quốc Công, thụy là Trung Liệt. Nguyễn Ánh cũng cho xây dựng đền thờ Võ Tánh ngay trên nền cũ của lầu Bác Giác ở Qui Nhơn. Nhà vua cũng truy phong ông làm Dực Vận Công Thần Trụ Quốc Công. Đến năm 1804, vua Gia Long cho thờ tự linh vị của ông trong Thái Miếu. Lại sai quan Cai Bộ Đinh Công Khiêm bốc mộ Võ Tánh về cải táng tại Sài Côn(6). Mặc dầu triều đình đã cải táng mộ của Võ Tánh về Gia Định, nhưng để ghi dấu chỗ Võ Tánh tuẫn tiết, tại lầu Bác Giác, nhà vua cũng cho đắp một ngôi mộ “Gió(7)” cho Võ Tánh, mộ có hình tròn, bên cạn mộ của Nguyễn tấn Huyên, hình vuông. Cả hai ngôi mộ này đều gần tháp Cánh Tiên, nên dân trong vùng thường hay có câu vè:

“Ngó lên Hòn Tháp Cánh Tiên,

Cảm thương quan Hậu, thủ thiềng ba năm.”

Ngoài ra, hiện tại đền thờ ông ở Bình Định vẫn còn hai câu đối do quan Phụ Chính Tôn Thất Hân cảm tác như sau:

“Nhất trường oanh liệt song trung miếu, Vạn cổ linh hương bát giác lầu.”

Năm 1824, vua Minh Mạng lại truy tặng ông chức Thái Sư. Đến năm 1831 lại truy phong chức Hoài Quốc Công. Hiện đền thờ và lăng miếu của Hoài Quốc Công Võ Tánh vẫn còn bên trong trại Võ Tánh, thuộc tỉnh Gia Định. Hậu Quân Võ Tánh quã là một tấm gương trung liệt trong thời phong kiến cho hậu thế. Xả thân mình vì vua để được tiếng tận trung báo quốc. Hiện nay trong tỉnh Gò Công, tại vùng Gò Tre cũng có miếu thờ Võ Tánh. Tương truyền đây là chỗ mà ngày trước ông đã dựng cờ tụ nghĩa. Bên cạnh miếu thờ là ngôi mộ của Bà Cố. Theo các bô lão địa phương, bà Cố là người bản xứ tại đây, là mẹ nuôi của Võ Tánh lúc ông đến đây lập căn cứ địa.

Ghi Chú:

(1)          Huyện Hưng Phước còn có tên là Phước An, thuộc vùng Mô Xoài ngày xưa, thuộc Dinh Trấn Biên, dưới thời VNCH là tỉnh Phước Tuy.

(2)          Mười Tám Thôn Vườn Trầu còn được gọi là Thập Bát Phù Viên, thuộc vùng Hóc Môn, tỉnh Gia Định ngày nay.

(3)          Nguyên là huyện Tân Hòa, thuộc Gò Công.

(4)          Vào khoảng đầu năm 1789, vua Lê Duy Kỳ, hiệu là Chiêu Thống đã đích thân sang Tàu cầu cứu với nhà Thanh, xin mang quân sang đánh Tây Sơn. Tuy nhiên, trong trận thư hùng này, quân Tây Sơn đã đánh một cách thần tốc và tiêu diệt gần như toàn bộ 20 vạn quân Thanh.

(5)          Cửa biển Mỹ Khê thuộc vùng biển tỉnh Quảng Ngãi ngày nay.

(6)          Hiện nay vẫn còn khu lăng mộ của Quận Công tại quận Tân Bình Tỉnh Gia Định. Ngoài ra, tại thành phố Biên Hòa, con đường ở phía đông nam chợ Bình Trước, mang tên Hậu Quân Võ Tánh. Bình Trước thuộc huyện Hưng Phước là sanh quán của Võ Tánh

(7)        Mộ “Gió” là ngôi mộ tượng trưng chứ bên dưới không có thi hài. Theo tục lệ dân gian, khi một người chết mất xác, nhất là trên biển cả hay trong rừng rậm, thì người ta mới xây một ngôi mộ giả, còn gọi là một gió, để hương khói và cúng tế. Nhưng Võ Tánh lại có đến 3 ngôi mộ: ngôi thứ nhất ở trong cung Hoàng Đế thành của Nguyễn Nhạc ở Qui Nhơn. Ngôi mộ thứ hai ở Phú Nhuận, Sài Gòn. Vì không đưa xác Võ Tánh về an táng tại vùng Gia Định, nên khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho làm một ngôi mộ ở quận Phú Nhuận. Ngôi mộ thứ ba do người dân phát hiện nằm dưới tàng cây cổ thụ trong khu phố 7, quận Tân Bình. Chính giữa mộ có ghi hàng chữ “Đại Nam Quốc. Phần mộ: Ông Võ Tánh, mất ngày 27 tháng 7 năm 1801, năm Tân Dậu.”

                              ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn