Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000052
Số lượt truy cập
16041246
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2021-02-16 10:27:21

 3) Lê Văn Duyệt(1763-1832)

(Xem  Công Lao Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt nơi Chương Sáu)

 

4) Trương Tấn Bửu(1752-1827)

Trương Tấn Bửu là một trong những danh thần nhà Nguyễn trải qua hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, được ghi lại trong Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, Quyển 16, Trương Tấn Bửu tục danh là Luông, con thứ 3 của ông Trương tấn Khương(1) và bà Trần thị Nghĩa, người quê quán tại làng Hưng Lễ, huyện Bảo An, ngày nay thuộc tỉnh Bến Tre, tổng Bảo Phước, tỉnh Vĩnh Long. Kỳ thật, thuở nhỏ ông cùng gia đình sinh sống tại ngọn Cái Da, một vùng rừng rậm thanh u chứ lúc đó chưa phân định làng mạc. Khoảng gần 90 năm sau, khoảng đời vua Tự Đức năm thứ bảy, người dân mới qui tụ về sống tại đây đông đúc hơn, nên lập ra làng Hương Lễ, và ngày nay là làng Hiệp Hưng, thuộc quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ, Trương Tấn Bửu đã tỏ ra là người cương trực, trầm tĩnh và có dũng lược(2).

Năm Đinh Mùi, 1788, khi nghe tin Nguyễn Ánh từ Xiêm La về tụ họp sĩ tứ bàn kế hoạch chống lại nghĩa quân Tây Sơn. Khi Nguyễn Ánh đến Hồi Oa(3), lại bị nghĩa binh Tây Sơn truy đuổi ráo riết, sức cùng, lực kiệt, nên Nguyễn Ánh cùng vài ba cận thần thân tín phải đi lần vào một con rạch nhỏ để lẩn trốn. Đó là rạch Cái Da, thông với sông Ba Lai trên Cù Lao Bảo, thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay. Lúc này Nguyễn Ánh cùng vài ba cận thần giả dạng thường dân, ghé vào tá túc nhà của ông Trương Tấn Khương và xin dùng một bửa cơm đạm bạc. Lúc này Trương Tấn Bửu mới bước ra gặp Nguyễn Ánh. Vừa gặp gỡ Trương Tấn Bửu lần đầu tiên, Nguyễn Ánh đã ngầm thán phục và Trương Tấn Bửu cũng biết rằng người ăn bửa cơm ở nhà mình hôm nay chẳng phải là kẻ tầm thường. Sau khi được biết Nguyễn Ánh là chúa duy nhất còn lại của của dòng họ Nguyễn, Trương Tấn Bửu được gia đình đồng ý cho theo phò Nguyễn Ánh. Nhưng Khi Nguyễn Ánh vừa mới rời khỏi Rạch Cái Da là gặp ngay trận chiến. May nhờ sự thông minh lanh lẹ và tỉnh táo của Trương Tấn Bửu mà cả chúa tôi đều thoát nạn. Sau đó Nguyễn Ánh phải qua lánh nạn bên Cù Lao Đất trước khi đi qua An Giang. Sau trận này, Trương Tấn Bửu được ban chức Khâm Sai Đốc Chiến Cai Cơ chuyên lo việc tuyên truyền và chiêu mộ dân quân, sung vào Hậu Quân của Tôn Thất Hội, rồi sau đó được thăng làm Hậu Quân Hậu Chi Chánh Trưởng Chi. Và cũng từ đó Nguyễn Ánh ban cho ông tên Long, và sau này lại ban tước Hầu, nên người ta mới gọi ông là Long Vân Hầu. Vì gia đình Trương Tấn Bửu rất có uy tín trong vùng này, nên việc chiêu mộ nghĩa dũng đối với ông rất dễ dàng. Cũng từ đó, Trương Tấn Bửu lập được rất nhiều công trạng, nên rất được chúa Nguyễn Ánh tin dùng, chẳng bao lâu sau đó thì được phong tước Long Vân Hầu. Năm Canh Tuất, 1790, khi đang giữ chức Hậu Chi Chánh Trưởng Chi Hậu Quân, ông được cử qua làm Tiền Quân Phó Tướng vì lập được nhiều chiến công.

Tháng 2, năm Đinh Tỵ, 1797, ông lại được thăng lên Tiền Quân Phó Tướng. Từ thời điểm này, ông bắt đầu lập được rất nhiều chiến công trong việc đánh phá quân Tây Sơn từ vùng Bình Định ra đến Quảng Nam. Năm Kỷ Mùi, 1799, Trương tấn Bửu thừa mệnh Nguyễn Ánh đem quân ra đánh thành Qui Nhơn, đánh thắng mấy trận An Giá, Bàu Sán và Ngạc Đàm; sau đó lại chiến thắng tại Xích Thổ và Thanh Kỳ ở Phú Yên. Đến Canh Thân, 1800, Trương tấn Bửu theo Nguyễn văn Thành đánh thắng trận Kỳ Dã và Hà Nha. Đến tháng 7, năm Nhâm Tuất, 1802, Trương tấn Bửu được thăng Chưởng Doanh, nhưng vẫn giữ chức Tiền Quân Phó Tướng, đóng ở Bắc Thành. Cùng với Nguyễn văn Xuân và Nguyễn đình Đắc đem quân ngăn chặn quân Tây Sơn ở Hải Dương và Quảng Yên. Kể từ sau khi vua Gia Long lên ngôi, Trương Tấn Bửu là một trong những vị khai quốc công thần được vua Gia Long tin dùng và giao cho nhiều trọng trách từ Nam ra Bắc.

Năm Giáp Tý, 1804, cùng với Binh Bộ Đặng Trần Thường và Tham Tri Nguyễn văn Lễ được sung vào Sứ Bộ ở cửa quan. Năm Bính Dần, 1806, giặc biển và nhóm Tề Ngôi(4) vào cướp phá cửa biển Quảng Yên bị Trương tấn Bửu dẹp tan. Sau đó, vua Gia Long cho triệu hồi Trương tấn Bửu về Kinh. Ít lâu sau, khoảng tháng 11, năm 1806, ông lại được cử giữ chức Chưởng Dinh, lãnh trách nhiệm chỉ huy tất cả quân sĩ tại Bắc Thành kiêm Quyền Lãnh Bắc Thành, tức là chức Quyền Tổng Trấn Bắc Thành, thay cho tướng Nguyễn Văn Thành. Sau đó lại một lần nữa ông cùng các tướng Nguyễn đình Đắc, Nguyễn văn Xuân, Phan Tấn Huỳnh và Đặng Trần Thường dẹp tan đám giặc biển Tề Ngôi(5) ở vùng Bạch Đằng. Khi giữ chức Tổng Trấn Bắc Thành, trước sau ông đã tham dự 36 trận thư hùng với các băng cướp ở Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây và Quảng Yên(6). Sau đó, ông được triệu về Kinh nhận chức Trung Quân Phó Tướng. Từ tháng 11 năm Bính Dần, 1806, ông giữ chức Tổng Trấn Bắc Thành thay thế Nguyễn Văn Thành.

Năm Canh Ngọ, 1810, sau khi phát chẩn cứu đói dân Bắc Thành, ông được vua Gia Long triệu về Kinh nhận chức Trung Quân Phó Tướng(7). Khi quan Tổng Trấn Gia Định là Nguyễn văn Nhân nhận lệnh đi tuần vùng biên giới, Trương tấn Bửu được cử làm thụ lý Tổng Trấn Ấn Vụ(8). Đến năm Nhâm Thân, 1812, Trương tấn Bửu được cử làm Phó Tổng Trấn Thành Gia Định(9), dưới quyển Tổng Trấn Lê văn Duyệt.

Năm Ất Hợi, 1815, triều đình triệu hồi Tổng Trấn Lê văn Duyệt về Kinh, Trương tấn Bửu lại được cử giữ chức Tổng Trấn Ấn Vụ. Tháng 3, năm Bính Tý, 1816, ông đã đứng ra coi sóc việc xây đắp thành Châu Đốc. Sau khi hoàn tất, vào khoảng tháng 9 cùng năm, ông được triệu về Kinh giữ chức Trung Quân Ấn Vụ. Năm Kỷ Mão, 1819, ông được giao phó việc trông coi Thái Miếu. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), Trương tấn Bửu được bổ làm Đề Đốc Tả Biên Bộ Binh. Năm Minh Mạng năm thứ hai, nhằm năm Tân Tỵ 1821, ông lại được bổ nhậm chứ Phó Tổng Trấn thành Gia Định thay thế cho Hoàng Công Lý. Trước khi lên đường vào Nam nhậm chức, vua Minh Mạng đã dụ rằng: “Khanh là bậc lão thành, làm việc đã lâu năm, trẫm biết là khanh không phải là kẻ không biết giữ phép nước như Hoàng Công Lý. Nhưng quan trưởng thượng mà quá hiến hòa thì con em và người nhà sẽ rất dễ bị sanh lờn, cho nên khanh phải lưu ý ngăn cấm.” Nên biết Phó Tổng Trấn Hoàng Công Lý bị tội tham ô. Đến năm Minh Mạng thứ ba, 1822, khi Tổng Trấn Lê văn Duyệt về Kinh thì Trương tấn Bửu được lãnh chức Tổng Trấn Ấn Vụ. Ông được thăng ngạch Chánh Nhất Phẩm, thân phụ là ông Trương Tấn Khương thì được truy phong là Nghiêm Oai Tướng Quân Thượng Bộ Quân Trung Quân Thống Chế. Thân mẫu ông là Trần thị Nghĩa cũng được truy phong Mệnh Phụ Phu Nhân.

Cuối năm Nhâm Ngọ, 1822, ông được nhà vua đề cử trông coi công việc vét kinh Vĩnh Tế thay thế cho quan Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đang bị bệnh(10). Đến tháng 8

năm Quí Mùi, 1823, ông lãnh chức quyền Tổng Trấn Gia Định, thay thế Lê Văn Duyệt được triệu về Kinh. Sau đó ít lâu, vào khoảng năm 1825, ông cảm thấy có

bệnh nên dâng biểu từ quan vì tuổi già sức yếu. Vua Minh Mạng chuẩn thuận cho ông được giữ nguyên hàm hưởng lương lúc hưu trí(11). Ngày mồng 10 tháng 6 năm Đinh Hợi, 1827, Trương tấn Bửu qua đời, thọ 76 tuổi(12). Đến năm Tự Đức thứ năm,

1852, Trương tấn Bửu được thờ trong miếu Trung Hưng Công Thần. Đến năm 1858, vua Tự Đức phê chuẩn cho phép thờ Trương tấn Bửu trong đền Trung Hưng Công Thần và Hiền Lương Từ. Hiện vẫn còn phần mộ của ông ở ấp Phú Thành, xã Phú Nhuận, tỉnh Gia Định. Dân địa phương thường gọi là Lăng Phú Thành. Ngay cửa vào

đền, trên hai cột có đắp câu đối chữ nổi như sau: “Uy đức Bắc thành an vũ trụ. Thống huyền Nam địa tịnh biên cương(13).” Mỗi năm cứ đến mồng 9 và mồng 10 tháng 6 âm

lịch, hội Phú Thành tại đây đều tề tựu về làm lễ giỗ cho ngài Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu. Và tại làng Hiệp Hưng, tổng Bảo Phước, quận Ba Tri, Bến Tre, cũng có ngôi đền thờ của ông. Riêng phần mộ của song thân Trương Tấn Bửu vẫn còn ở vùng Cái Da và Cái Mít, làng Hiệp Hưng, nơi chôn nhau cắt rún của ông. Hiện nay tại vùng này vẫn còn một nhà thờ họ Trương, được các hương chức hội tề cai quản cũng như trông lo phần hương khói và cúng tế.

Ghi Chú:

(1)          Cha ông còn có tên là Diễn, mà nhà lại cất trên một cái gò cao nên người trong vùng gọi đó là “Gò Ông Diễn”. Gia đình ông bà Trương Tấn Khương và Trần thị Nghĩa có cả thảy bảy người con gồm 6 trai một gái theo thứ tự sau đây: Trương Tấn Lợi, Trương Tấn Sĩ, Trương Tấn Bửu, người thứ tư không có tên vì chết từ nhỏ, Trương Tấn Tinh, Trương Tấn Toán, và Trương Thị Thọ (bà Thọ còn có tên khác là Giàu).

(2)          Ngay từ nhỏ, Trương Tấn Bửu đã tỏ ra là một thanh niên khôi ngô đỉnh đạt và có sức mạnh vô song, dám một mình đương đầu với cọp. Ngay khi lúc đã 36 tuổi, ông vẫn lanh lẹ không kém gì thanh niên đôi tám. Tuy là võ nghệ tinh thông, nhưng ông nổi danh là người có tính tình điềm đạm ít nói, chẳng bao giờ dùng võ lực để hiếp đáp bất cứ một ai.

(3)          Theo ông Lê Thọ Xuân trong sách “Tiểu Sử Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu (1752-1827), Nhà In An Ninh (24 đường Nguyễn An Ninh, SG), Sài Gòn 1959”, nơi trang 8, có đoạn viết: “Một đêm về tháng 10 năm Đinh Vị, 1787, cả nhà đương chuyện trò bỗng nghe tiếng gọi cửa. Ba người khách lạ, áo quần xốc xếch, ra dáng đói lả, xin cho tá túc. Thương người lỡ bước, ông lão bảo dọn chỗ cho khách nằm và còn bảo nấu cơm đãi khách. Trong lúc chờ cơm, ông lão hỏi han nguyên lai của khách. Khách thưa rằng mình vốn dân Trung Kỳ vừa vào buôn bán ở Mỹ Lồng, chẳng may gặp hồi quân chúa Nguyễn đánh với Tây Sơn tại đó, thuyền buôn bị đốt phá, ba người phải xuống ghe nhỏ chạy trốn. Họ định chaỵ vô làng Tân Hào (làng này nay có chợ Hương Điểm, trước khi người Pháp xâm lăng VN, ai ở Ba Tri muốn đi Bến Tre cũng đều phải đi bộ lên Hương Điểm rồi đi ghe ra Bến Tre, chứ không có đường sá nào khác), rồi băng bộ xuống phía biển.”

(4)          Nhưng theo ông Lê Thọ Xuân trong sách “Tiểu Sử Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu (1752-1827), Nhà In An Ninh (24 đường Nguyễn An Ninh, SG), Sài Gòn 1959”, nơi trang 16, có đoạn ghi như sau: “Tháng 7 năm Nhâm Tuất, 1802, Long Vân Hầu được thăng Chưởng Dinh, nhưng vẫn lãnh chức Tiền Quân Phó Tướng và cai quản đạo binh tại Bắc Thành. Tháng 9 năm sau (nghĩa là năm 1803), bọn Tề Nguy Hải Phỉ đem hàng trăm chiếc thuyền khuấy phá từ Vân Đồn (vịnh hạ Long, tỉnh Quảng Yên) tới Kinh Môn (Hải Dương), Long Vân Hầu cùng Nguyễn Đình Đắc, Nguyễn Văn Xuân, Phan Tấn Huỳnh, Đặng Trần Thường đem binh đánh đuổi. Nhờ có thổ hào giúp sức nên quan quân giết giặc rất nhiều, lại bắt được Thiếu úy giặc tên Vân cùng tặc đảng ngót bảy chục đứa, Bọn sống sót tháo chaỵ ra khơi.”

(5)          Có sách ghi là Tàu Ô. Lúc này giặc đem 30 ghe tới lui cướp phá vùng Vịnh Hạ Long. Nhờ tài dụng binh mà Trương Tấn Bửu đã dẹp tan được bọn cướp biển này, đem lại an cư lạc nghiệp cho dân chày vùng này.

(6)          Sau khi trương Tấn Bửu được vua Gia Long triệu về Kinh, thì ở Bắc Hà bọn giặc Tàu Ô lại kéo sang quấy nhiễu dân chày vùng Hạ Long với một lực lượng gấp ba lần trước với hơn 90 chiếc thuyền. Nhưng Trương Tấn Bửu đã ra lệnh cho các tướng sĩ lại dụ cho giặc đi vào sông Bạch Đằng và đánh cho chúng tan tác trên dòng sông này.

(7)          Năm 1810, dân Bắc Thành gặp nạn đói kém. Thừa lệnh vua Gia Long, Trương Tấn Bửu tổ chức chẩn bần. Vì quá sốt sắng trong việc cứu đói dân chúng, ông đã ra lệnh đánh đòn một viên chức không hăng say trong công việc. Vua Gia Long sợ có chuyện rắc rối nên đã cho ông thuyên chuyển về Huế và giao cho nhiệm vụ cũ là Trung Quân Phó Tướng.

(8)          Tổng Trấn Ấn Vụ thời nhà Nguyễn là chức Quyền Tổng Trấn.

(9)          Vì vậy mà trong dân gian vẫn còn truyền tụng câu vè: “Chánh tướng Duyệt, Phó tướng Luông.” Luông tức là Long nói trại ra, là tên riêng của Trương Tấn Bửu.

(10)     Lúc này nhà vua cử Trương Tấn Bửu điều khiển 35.000 quân và dân của toàn vùng đất phương Nam để lo nạo vét kinh Vĩnh Tế. Kinh này được ông Thoại Ngọc Hầu đốc suất từ thời Gia Long. Tuy nhiên, vào năm 1822, thời tiết nóng bức khiến quân dân mắc bệnh và chết rất nhiều. Trương Tấn Bửu phải tìm cách cho quân dân thay phiên nhau nghỉ ngơi. Khi công cuộc nạo vét kinh này hoàn tất, ông đã đượ nhà vua khen thưởng vì đã cố gắng cùng quân dân hoàn thành nhiệm vụ vô cùng khó khăn này. Lúc này uy tín của ông đối với triều đình và quần thần đã lên đến tột đỉnh.

(11)     Năm 1825, nhân dịp Tết nguyên đán, vua Minh Mạng nhớ đến công lao các tôi trung ở miền Nam nên cho người đem phẩm vật ban thưởng. Trương Tấn Bửu đứng đầu trong danh sách những người này. Khi nhận được tờ biểu xin về hưu của Trương Tấn Bửu, nhà vua đã triệu ông vào cung và nài nỉ ông lưu lại, nhưng hồi nầy họ Trương đã 74 tuổi, sức đã yếu nhiều lắm rồi, nên cuối cùng vua Minh Mạng chuẩn thuận cho ông về hưu. Nhà vua đã ban thưởng cho họ Trương một đặc ân, dầu về hưu nhưng hưu bổng của ông cũng bằng lúc còn tại chức. Sau đó họ Trương quay về đất Gia Định và sống ở đây 2 năm trước khi qua đời. Khi ông qua đời thì các con của ông đều đã mất trước ông. Người thứ nhất tên Trương Tấn Cần, không rõ quan tước. Người thứ nhì tên Trương Tấn Cường, làm quan đến chức Gia Định thành Gia Võ Vệ Phó Vệ Úy, trật tùng tứ phẩm, tước Cường Uy Hầu. Ông này mất trước cha mình, nhưng không rõ năm nào, chỉ biết vaà ngày 16 tháng 9 năm Canh Thìn, 1820, được quan Tổng Trấn Lê Văn Duyệt cho về Cái Mít. Người thứ ba là Trương Tấn Thuận, làm chức Gia Định Thành Gia Võ Vệ Quyền Trí Tạm Quản Quan, trước kia ông này có một sở đất từ Cái Mít đi Cái Da, ngày nay vùng này vẫn còn được gọi là Đồng Tạm Quản. Người thứ tư là Trương Thị Của. Vì tất cả những người con trai đã mất trước, nên khi ông qua đời, người cháu đích tôn tên là Trương Tấn Lượng (con trai đầu lòng của ông Trương Tấn Cẩn) được y lệ cấp tập ấm theo hàng con quan nhất phẩm.

(12)     Khi Trương Tấn Bửu qua đời, vua Minh Mạng truyền lệnh xuất 2.000 quan tiền và 5 cây gấm hảo hạng cho việc tống táng. Người đứng làm chủ lễ tống táng là quan Tổng Trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt. Sau đó, Tả Quân Lê Văn Duyệt lại cấp một phần đất ở làng Phú Nhuận, coi như công điền, bất khả xâm phạm, xây miếu và vòng thành chung quanh lăng Trương Tấn Bửu.

                                                ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn