Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000066
Số lượt truy cập
15595996
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-12-05 08:40:28

 

38) Nguyễn Văn Hiếu(?-1834)

Nguyễn văn Hiếu là một trong những danh thần thời Nguyễn sơ. Ông sanh ra và lớn lên tại huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Thuở nhỏ nhà nghèo phải đi cắt cỏ mướn cho hàng xóm để độ nhật. Lớn lên, ông tòng quân theo nghĩa binh Đông Sơn, dưới quyến chỉ huy của tướng Võ Tánh tại vùng Gò Công. Sau nhiều lần xông pha nơi trận mạc, ông được Võ Tánh tin dùng và trở thành một thuộc tướng thân tín nhất của Gia Định Đệ Nhất Hùng Võ Tánh. Theo Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện, tập 16, chính cái loạn ly của đất nước đã đưa Hiếu đến gò Khổng Tước để tòng quân với Võ Tánh vào năm 1785 và được thăng dần lên chức Tổng Nhung Cai Cơ. Vào năm Mậu Thân, 1788, khi Nguyễn Ánh từ Xiêm La trở về đóng quân trong vùng Hồi Oa Nước Xoáy, ông cùng đi theo Võ Tánh về phò trợ cho Nguyễn Ánh, được phong chức Khâm Sai Cai Cơ cùng một tấm yêu bài khi lâm trận với Tây Sơn (yêu bài là loại thẻ bài đeo trên lưng). Đến năm 1791, ông được bổ vào chức vụ Cai Đội Hữu Chi Nhập Nội Đạo, rồi thăng Cai Cơ. Năm Bính Thìn 1796 được thăng Hữu Chi Phó Trưởng Chi, rồi lại thăng Chánh Trưởng Chi.

Tháng 5 năm Tân Dậu, 1801, ông theo Võ Tánh ra giữ thành Bình Định. Lúc đánh nhau với nghĩa binh Tây Sơn. Ông lãnh trọng trách trấn giữ cửa Đông thành Bình Định. Khi quân Tây Sơn tấn công vào thành, ông bị thương và bị bắt, nhưng ngay sau đó ông tìm cách trốn thoát và chạy về với Nguyễn Ánh. Đến năm Nhâm Tuất, 1802, ông được thăng chức Phó Tướng Hữu Quân đồn trú tại Bình Định. Năm Quí Hợi 1803, ông theo Tả Quân Lê Văn Duyệt đi dẹp loạn Mọi Vách Đá ở Quảng Ngãi. Năm Mậu Thìn 1808, ông giữ chức quyển Lưu Thủ tỉnh Bình Định. Sau đó được triệu hồi về kinh. Năm Canh Ngọ 1810, ông vâng mệnh ra đóng quân ở Bắc Thành kiêm chức Đề Thinh. Sau đó được giao cho giữ chức Trấn Thủ Sơn Nam Hạ (tức tỉnh Nam Định ngày nay).

Nguyễn Văn Hiếu là một vị quan thanh liêm chánh trực, tuy xuất thân là quan võ, nhưng từ hành động đến phong thái của ông là của một bậc chánh nhân quân tử hay một bậc thâm Nho. Ông thường nói với các vị tân khoa đến gặp ông: “Mười năm đèn sách mới có ngày nay, tôi xin mừng cho các thầy. Ngày sau được bổ dụng làm quan, cũng nên giữ gìn như lúc tân khổ hồi đi học vậy, chớ có xa xỉ thái quá mà mang hại vào thân, phụ ý tốt tuyển lựa nhân tài của triều đình.” Khi làm quan, ông đã tỏ ra là một vị quan đức độ nhân từ, chủ trương giáo hóa hơn là phạt vạ nên người trong địa hạt trách nhiệm của ông ít ai dám làm bậy. Chính vì vậy mà khi vua Minh Mạng tuần du Bắc Thành, nghe tiếng tốt của ông, nhà vua đã cho triệu tập ông đến Thăng Long và thăng cho ông ngay một cấp và bổ ông giữ chứ Trấn Thủ Thanh Hóa.

Trong suốt thời gian làm quan, ông đã tỏ ra là một vị quan thanh liêm, biết thương yêu lo lắng cho dân chúng. Đến năm Tân Tỵ, 1821, tức năm Minh Mạng thứ 2, ông được nhà vua bổ làm Án Trấn Thanh Hóa. Lúc đó, ông đã xử chém một vị quan nhận hối lộ. Sau khi xử chém xong ông gửi sớ về triều nhận tội. Tuy nhiên, dầu là ông phạm luật nhưng nhà vua thấy ông hành xử như vậy là vì muốn diệt trừ tham quan ô lại, nên chỉ gián ông ba cấp mà vẫn cho giữ chức vụ như cũ. Đến năm Bính Tuất 1826, ông được thăng chức Thần Sách Tả Dinh Phó Đô Thống Chế, lãnh Trấn Thủ Nghệ An. Về sau lại sung chức Kinh Lược Đại Thần cùng với Phó Sứ Hoàng Kim Xán và Tham Biện Thân Văn Duy ra Nam Định xem xét tình hình quan lại và dân chúng. Năm 1827, sau khi dẹp loạn Ninh Tạo ở Nghệ An, ông được lãnh chức trấn thủ Nghệ An. Năm 1828, ông được thăng chứcThần Sách Tả Dinh Đô Thống Chế vẫn giữ chức trấn thủ Nghệ An. Năm Tân Mão, 1831, ông được cử giữ chức Tổng Đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình). Năm Nhâm Thìn 1832, được thăng chức Thự Tả Quân Đô Thống Phủ Chưởng Phủ Sự. Đến năm Quý Tỵ, 1833, ông được thăng Thự Tả Quân Đô Thống Phủ Chưởng Phủ Sự, vua Minh Mạng phong cho ông tước Lương Năng Bá. Ông lâm bệnh và qua đời năm 1834, hưởng thọ 70 tuổi. Ông Đến đời vua Tự Đức, nhà vua cho đem linh vị ông vào thờ trong Miếu Trung Hưng Công Thần, rồi sau đó được đưa vào thờ trong Miếu Hiền Lương Từ. Phải nói, Nguyễn Văn Hiếu là một trong những người đã làm rạng danh hào kiệt đất phương Nam. Buổi sinh thời, trong chinh chiến loạn lạc, ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Đến buổi bình thời, ông đã tỏ ra là một vị quan thanh liêm chánh trực, rất giỏi việc cai trị an dân.

Hiện nay, tại làng Nam Trung vùng Kim Long vẫn còn có một ngôi đình mà theo các bô lão địa phương kể lại, ngôi làng thoát thai từ Nam Châu Hội, tức là hội của những bậc hào kiệt đất phương Nam được bổ ra miền Trung làm quan như Tổng Đốc Nguyễn văn Hiếu, quan Kinh Lược Phan Thanh Giản, Phạm Ngũ Vân, vân vân. Hàng năm, con cháu của các bậc tiền bối trong Nam Châu Hội cũng như dân chúng vùng Thừa Thiên Huế đổ xô về đây dự lễ kỳ an rất đông.

 

39)Trương Minh Giảng(?-1841)

Trương Minh Giảng sinh quán tại làng Hạnh Thông, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Ông là con của Lễ Bộ Thượng Thư Trương Minh Thành. Vì là con nhà quan nên ngay từ nhỏ ông đã được cha cho theo học cả văn lẫn võ, nên tuổi vừa đôi tám là ông đã văn võ toàn tài. Đến năm 1819, tức năm Gia Long thứ 18, ông đỗ Cử Nhân khoa thi Kỷ Mảo. Sau đó được bổ làm quan và chỉ trong vòng 10 năm là ông đã được thăng tới chức Hộ Bộ Thượng Thư, tước Bình Thành Bá.

Dưới thời vua Minh Mạng, ông đã nhiều lần được nhà vua cử đem quân tiểu trừ quân Xiêm La ở vùng đất Chân Lạp, và đã lập được rất nhiều công trạng, nhất là trận chiến thắng quân Xiêm La ở vùng Cổ Cắng. Năm Quí Tỵ 1833, vua Minh Mạng sai ông đi vào đất phương Nam để đánh Lê Văn Khôi đang chiếm thành Gia Định. Tuy nhiên, trước khi quân sĩ của ông vào tới Gia Định thì Lê Văn Khôi đã cho người qua cầu viện với Xiêm La. Quân Xiêm La chia làm 5 đạo xâm nhập Đại Việt. Đạo thứ nhất là thủy binh với hơn 100 chiến thuyền tấn công Hà Tiên; đạo thứ nhì là bộ binh theo ngã Nam Vang đánh xuống vùng Châu Đốc và An Giang; đaọ thứ ba là bộ binh tiến từ biên giới Lào Việt ở vùng Lao Bảo qua đánh Cam Lộ, thuộc tỉnh Quảng Trị ngày nay; đạo thứ tư bộ binh đánh vùng Cam Mát và Cam Môn; và đaọ thứ năm tiến đánh Tây Ninh. Phải nói, lần này quân Xiêm La chẳng những muốn chiếm vùng đất phương Nam, mà họ còn dự tính chiếm luôn cả miền Trung, từ Quảng Trị trở vào.

Lúc nàyTrương Minh Giảng đang giữ chức Tham Tán Nhung Vụ Đại Thần trong quân củ Thảo Nghịch Hữu Tướng Quân Phạm Văn Thụy đóng ở Gia Định, liền được lệnh cùng với tướng Nguyễn Xuân tiến quân đánh giặc tại vùng An Giang. Tại sông Cổ Cắng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân chẳng những đại phá được quân Xiêm La, mà ông còn cho quân sĩ tiến thẳng về Nam Vang, đưa vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân về nước, rồi tiến quân về hướng biên giới Chân Lạp-Xiêm La đánh cho giặc thêm vài trận nữa, khiến cho quân Xiêm La phải bạt vía kinh hồn. Sau khi đại thắng quân Xiêm La, Trương Minh Giảng được lệnh lập đồn ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp.

Theo sách Đại Việt Địa Dư Toàn Biên của Nguyễn Văn Siêu có ghi: “Đến năm 1834, sau khi Nặc Ông Chân mất, Trương Minh Giảng xin vua Minh Mạng cho lập người con gái của Ông Chân là Ang-Mey, tên Việt là Ngọc Vân Công Chúa, lên làm Quận Chúa, rồi đổi nước Chân Lạp ra làm Trấn Tây Thành, chia toàn cõi thành Trấn Tây ra làm 34 phủ, huyện và cắt đặt quan lại cai trị. Vua Minh Mạng phong cho Trương Minh Giảng chức Tướng Quân kiêm chức Bảo Hộ Cao Miên và phong cho Lê Đại Cang làm Trấn Tây Tham Tán Đại Thần, cùng lo việc trấn thủ.” Đến năm Minh Mạng thứ 21, 1840, Trương Minh Giảng lại được phái cùng với Chánh và Phó Khâm Sai Đại Thần Lê Văn Đức và Doãn Uẩn sang kinh lý mọi việc ở Trấn Tây để khám xét việc buôn bán, đo ruộng đất, và định các thứ thuế đinh, điền và thuyền bè, vân vân. Sau đó xảy ra cuộc nổi loạn của người em của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn, nhưng quan quân Việt Nam đánh mãi mà không dẹp được. Sau đó vua Minh Mạng băng hà, vua Thiệu Trị lên nối ngôi vào năm 1841, phong cho Trương Minh Giảng làm Hiệp Tá Đại Học Sĩ, lãnh chức Trấn Tây Tướng Quân. Nhưng ngay sau đó, nhà vua nghe theo lời của Tạ Quang Cự và một số quan trong triều xin bãi bỏ Trấn Tây Thành, nên vua Thiệu Trị ra lệnh cho Trương Minh Giảng rút quân về trấn giữ vùng An Giang.

Tháng 9 năm 1841, khi về đến An Giang, Trương Minh Giảng buồn và thẹn vì không giữ được Trấn Tây Thành, nên ông lâm bệnh mà qua đời. Trương Minh Giảng vừa là võ tướng, mà lại vừa là một sử gia. Ông cũng đã từng giữ chức Tổng Tài Quốc Sử Quán. Và nhờ nhiều công trạng dẹp giặc nên triều đình Huế đã dựng bia ghi công võ tướng, tên của ông cũng được khắc hàng đầu trong Võ Miếu ở kinh đô Huế. Hiện khu mộ của ông vẫn còn trong hẻm 82/5 Lý Thường Kiệt, phường 7, quận Gò Vấp, Gia Định. Gần đó, tại hẻm 82/14A Lý Thường Kiệt, phường 7, quận Gò Vấp, Gia Định, nay là TPHCM, là ngôi mộ của cha ông Trương Minh Giảng là quan Lễ Bộ Thượng Thư Thành Tín Hầu Trương Minh Thành.

                                                                                              ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn