Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000238
Số lượt truy cập
15499115
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-11-29 10:31:20

 

 33) Phan Tấn Huỳnh(?-1824)

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 16, Phan Tấn Huỳnh sinh trưởng trong đất Gia Định. Trong khi nghĩa quân Tây Sơn đang truy lùng Nguyễn Ánh trên vùng đất phương Nam thì Phan Tấn Huỳnh đón lấy thời cơ, ra đầu quân với chúa Nguyễn, hợp cùng với các ông Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Trương Tấn Bửu, vân vân, giúp Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, ông vẫn là một trong những võ tướng tiếp tục được nhà vua cử đi khắp các miền đất nước để dẹp loạn. Năm 1807, ông được phong là Thần Sách Tướng Quân, Khâm Sai Đô Thống Chế kiêm Hữu Quân Phó Tướng dưới trướng của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đó đang làm Tổng Trấn thành Gia Định. Từ năm 1809 đền năm 1816, ông phụng mệnh nhà vua đi dẹp loạn “Mọi Vách Đá(1)” ở Quảng Ngãi và lập được nhiều chiến công trong việc dẹp loạn cũng như an dân nên rất được nhà vua trọng vọng.

Năm 1820, sau khi vua Gia Long băng hà, vua Minh Mạng lại cử ông vào Gia Định làm Phó Tổng Binh. Năm 1822, ông được thăng chức Tổng Binh thành Gia Định, trợ giúp Tổng Trấn Lê Văn Duyệt về mặt quân sự. Ngoài tài nghệ võ lược siêu quần, ông còn nổi tiếng văn hay chữ tốt. Trên văn bia nơi phía sau phần mộ của ông ở Gia Định(2) có ghi lại chính ông là người đã soạn thảo những tấu chương, văn biểu cho Lê Văn Duyệt mỗi khi vị Tổng Trấn này muốn gửi báo cáo về vua Gia Long và MInh Mạng. Ngoài ra, cũng theo bia văn trên phần mộ, ông là người có công rất lớn trong việc khẩn hoang lập ấp, bình định, khuyến nông trên những vùng đất mới mở, công lao của ông không nhỏ trong việc góp phần làm thịnh vượng vùng đất phương

Nam. Cũng trong năm 1822, thấy sức khỏe của mình đã quá suy yếu, nên ông cáo lão về hưu, và hai năm sau đó ông mất tại Gia Định(3). Sau khi mất, ông được triều Nguyễn phong tước Huỳnh Ngọc Hầu. Ngày nay, ngôi một của Huỳnh Ngọc Hầu Phan Tấn Huỳnh vẫn còn nguyên vẹn trong quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Ghi Chú:

(1)          Mọi Vách Đá là dân tộc thiểu số miền núi ở Quảng Ngãi, trong các vùng Ba Tơ, Gia Vực, Trà Lòng, vân vân.

(2)          Hiện nay, phần mộ của quan Huỳnh Ngọc Hầu Phan Tấn Huỳnh nằm sâu trong con hẻm 120 đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Chung quanh mộ có tường rào bao bọc, dài khoảng 12 mét, rộng khoảng 7 mét. Hiện nay cư dân trong hẻm đã tận dụng khuôn viên khu mộ để dựng xe và một số vật dụng khác. Vòm cửa đi vào khu mộ chỉ cao độ khoảng 1,5 mét, nên muốn đi vào khuôn viên phải khom xuống thật thấp, có lẽ đây cũng là do sự cố ý của những người xây dựng một, để ai cũng phải cúi đầu chào ngài trước khi đi vào. Bên trên vòm cửa đi vào mộ có ghi 4 chữ “Đức Hóa Lê Dân”, tức là dùng đức để cảm hóa dân chúng.

(3)          Cũng có tài liệu nói rằng ông đã tự kết liễu đời mình vì không muốn làm phiền con cháu trong lúc già yếu bệnh hoạn.

 

34) Phạm Đăng Hưng(1765-1825)

(Xem Phạm Đăng Hưng Và Dòng Họ Phạm Ở Gò Công Chương 29)

 

35) Tả Quân Phó Tướng Võ Văn Lượng(?-1829)

Võ văn Lượng, gốc người Quảng Bình, Trung Việt. Sau tổ tiên ông dời cư vào vùng đất phương Nam. Ông sanh ra và lớn lên trên vùng đất Gia Định. Cha ông tên Chung, vốn thuộc gia đình giàu có, nên quyết cho ông theo võ học lập thân và làm rạng rỡ dòng họ. Sau đó ông theo làm thuộc hạ của Võ Tánh, cùng hoạt động ở vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu thuộc Gia Định, và vùng Tân Hòa thuộc Gò Công. Năm Đinh Tỵ, 1787, khi Nguyễn Ánh từ Vọng Các trở về, đang đóng quân trong vùng Ngao Châu. Chúa bèn sai Nguyễn Đức Xuyên đi chiêu dụ hào kiệt trong vùng Gò Công. Ban đầu ông và Võ Tánh chưa tỏ thái độ phò trợ Nguyễn Ánh một cách dứt khoát. Vì biết tài nghệ cao cường của ông nên Nguyễn Ánh nhiều lần cho người đến chiêu dụ. Tháng 4, năm Mậu Thân 1788, Nguyễn Ánh tiến binh đến vùng Hồi Oa, bèn sai Trương Giáo đi triệu thỉnh ông lần nữa. Lần này Võ Văn Lượng và Võ Tánh quyết định theo phò Nguyễn Ánh.

Ngay sau đó, Nguyễn Ánh phong cho ông làm Cai Cơ, ông xin Nguyễn Ánh cho phép ông tự mình dẫn riêng một đạo quân đương đầu với địch, nếu thất trận thì ông xin chịu tội và được Nguyễn Ánh chuẩn thuận. Trong trận Võ Tánh thất bại khi đánh nhau với Tây Sơn ở vùng Ba Lai, mất đi một số chiến thuyền. Ông đã giả dạng làm thương lái đi trên sông, rồi nhân cơ hội quân Tây Sơn đang khao quân say khướt và ngủ mê hết thì ông tung quân ra cướp lại những chiến thuyền này. Sau việc này, Nguyễn Ánh thăng cho ông chức Trung Quân Tả Chi Hiệu Úy. Năm Quí Dậu, 1793, ông theo Nguyễn Ánh đánh vùng Nha Trang, rồi cùng Nguyễn Đình Đắc tiến chiếm vùng Hòa Bông và Thành Diên Khánh. Sau đó, ông được thăng chức Chưởng Cơ, rồi thăng Tả Quân Phó Tướng. Phó Tướng Võ Văn Lượng là một trong những võ tướng khai quốc công thần dưới triều Nguyễn Ánh. Khi qua đời, ông được truy tặng Chưởng Dinh Thượng Tướng.

 

36) Nguyễn Văn Thoại(1761-1829)

(Xem Thoại Ngọc Hầu Và Vùng Đất Phương Nam nơi Chương 12)

 

37) Nguyễn Văn Tuyên(1763-1830)

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 17, Nguyễn Văn Tuyên, chính danh là Phan Văn Tuyên, gốc người làng Kiêm Toàn, huyện Phú Xuân, tỉnh Thừa Thiên. Lúc quân Trịnh ở xứ Đàng Ngoài đem quân vào đánh thành Phú Xuân, rồi sau đó là những cuộc giao tranh giữa Tây Sơn với chúa Trịnh và chúa Nguyễn, nên cũng như rất nhiều người khác, gia đình ông đã chạy vào Gia Định lánh nạn, rồi sau đó đi lần xuống miền Tây, dừng lại ở vùng Sa Đéc, và cuối cùng định cư tại vùng Tòng Sơn, thôn Mỹ An, phủ Tân Thành, huyện Vĩnh Yên, trấn An Giang(1). Tuy không có tài liệu xác thực nào chứng tỏ ông đã sanh ra tại đây, nhưng nếu ông không sanh trưởng tại An Giang, thì lúc vào An Giang ông cũng còn rất nhỏ, nên người viết tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam này maọ muội xếp ông vào chương Hào Kiệt Đất Phương Nam có bản quán tại miền Nam.

Gia đình ông vốn dòng dõi võ tướng, nên ông luôn có hoài bão trở thành một võ tướng của triều đình. Năm 1788, tức năm ông được 25 tuổi, ông ra đầu quân với chúa Nguyễn. Nhờ võ nghệ cao cường, nên chỉ sau một thời gian ngắn, ông được cử giữ chức Phó Vệ Úy của Hổ Uy thuộc quân Thần Sách, sau làm tội nên bị cách chức. Ít lâu sau đó lại được phục chức như cũ, và được cho đi theo quân đánh giặc. Vì ông chẳng những lập được nhiều chiến công oanh liệt, mà lúc nào ông cũng tỏ ra trung quân ái quốc với nhà Nguyễn, nên được vua Gia Long ban quốc tính, trở thành Nguyễn Văn Tuyên. Sau gần 14 năm xông pha trên khắp cách chiến trường, từ Nam ra Trung và ra Bắc, không màng hy sinh tánh mạng trong làn tên mũi đạn và lập được nhiều chiến công. Năm Tân Dậu, 1801, ông được thăng chức Vệ Úy của vệ Kinh Uy thuộc doanh Tiền Quân. Năm 1812, tức năm Gia Long thứ mười một, ông được thăng Vệ Úy của Chấn Bảo Nhất Quân thuộc quân Chấn Vũ, lãnh chức Khâm Sai Cai Cơ. Năm 1816, ông được thăng Thống Chế, lãnh chức Hữu Bảo Nhất Quân thuộc doanh Hữu Quân, kiêm quản cả hai vệ Hữu Bảo Nhất Quân và Hữu Bảo Nhị Quân, từng theo Lê Văn Duyệt đi đánh loạn quân Mọi Vách Đá ở Quảng Ngãi và chém được trên 100 loạn quân. Mỗi khi nhắc đến kinh Vĩnh Tế, ai trong chúng ta cũng đều lien6 tưởng ngay đến Thoại Ngọc Hầu, vì ông này đã gắn bó cả đời mình trong việc bảo vệ và phát triển vùng đất phương Nam, nhất là trong việc đốc suất đào và vét kinh Vĩnh Tế. Tuy nhiên, ít ai trong chúng ta nghĩ đến một vị quan triều Nguyễn, cũng đồng thời với Thoại Ngọc Hầu, và cũng được nhà Nguyễn phong cho tước Hầu, người đã luôn cùng với Thoaị Ngọc Hầu trông coi việc đào vét kinh này, và cũng nhận lệnh các vua nhà Nguyễn trấn giữ vùng biên giới phía Tây của vùng đất phương Nam. Đó chính là quan Thống Chế Bảo Hộ Cao Miên Quốc Ấn, Án Thủ Đồn Châu Đốc, kiêm Hà Tiên Trấn Biên Vụ Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên. Người dân trong vùng thời đó còn gọi ông một cách ngắn gọn là Chưởng Cơ Tuyên hay Bảo Hộ Tuyên. Mùa đông năm Kỷ Mão, 1819, sau khi các quan trong triều đã nghiên cứu kỹ càng về địa hình địa vật, vua Gia Long ban sắc dụ dạy quan Trấn Thủ Vĩnh Thanh và Nguyễn Văn Thoại chỉ huy đào kinh Vĩnh Tế, ăn thông từ Châu Đốc đến Giang Thành, thuộc trấn Hà Tiên. Mục đích là để ngoài việc tháo xả phèn cho vùng Châu Đốc Tân Cương, còn nhằm tạo ra một thủy mạch trọng yếu có tính chiến lược trong việc phòng thủ các miền phía Tây của vùng đất phương Nam. Năm 1822, ông được thăng làm Trấn Thủ Biên Hòa, nhưng xin từ chức về An Giang thọ tang cha. Đến khi mãn tang, ông được cử giữ chức Trấn Thủ Định Tường.

Cuối năm 1823, Nguyễn Văn Tuyên được sung chức Phó Đổng Lý trông coi việc đào kênh Vĩnh Tế, hợp cùng quan Thống Chế Nguyễn Văn Thoại, quan Điều Bát Nguyễn Văn Tồn và Trần Công Lại tiếp tục trông coi việc đào kênh Vĩnh Tế. Sau đó thì ông được triệu về kinh. Năm 1824, ông được cử làm Trấn Thủ Vĩnh Thanh rồi được bổ làm Thống Chế trông coi việc binh bị của thành Gia Định. Đồng thời, ông vẫn giữ chức Phó Đổng Lý trông coi việc đào kênh Vĩng Tế. Trong suốt thời gian kéo dài khoảng năm năm, từ tháng Chạp năm 1819, đến tháng 5 năm 1824, ông đã góp phần không nhỏ trong việc đốc suất dân phu đào kinh Vĩnh Tế bằng tay. Lúc đó có tổng cộng 80.000 lượt dân phu, con kinh dài khoảng 98.300 mét, và thi công trong những điều kiện sơn lam chướng khí, khiến không ít người đã phải bỏ mạng. Ngoài ma thiêng nước độc và những tai nạn rủi ro trong khi lao động, dân phu lúc nào cũng phải đương đầu với cọp beo. Sau khi công trình đào kinh hoàn tất vào năm 1824, vua Minh Mạng đã hết sức khen thưởng những vị đã góp công trong công tác gian lao nguy hiểm này.

Cũng trong năm 1824, ngày mồng 9 tháng 3 âm lịch, vua MInh Mạng đã sắc phong cho thân mẫu của ông là bà Võ thị Đức mỹ hiệu Thục Nhân. Đến năm 1828, vua MInh Mạng lại truy tặng thân phụ của ông là Anh Dũng Tướng Quân Phan Văn Hậu(2) chức Khinh Xa Đô Úy, Thần Sách Vệ Úy Nguyên Hầu(3). Khi quan Tổng Trấn Lê Văn Duyệt về kinh, ông được cử giữ chức Quyền Nhiếp Tổng Trấn Vụ. Năm 1828, ông trở về trông coi việc binh bị khi Tả Quân Lê Văn Duyệt trở về Gia Định. Đến năm 1829, ông Nguyễn Văn Thoại khi đó đang giữ chức Bảo Hộ Cao Miên lâm trọng bệnh và qua đời vào ngày mồng 6 tháng 6 năm Kỷ Sửu, 1829, ông Nguyễn Văn Tuyên được vua Minh Mạng cử giữ chức Bảo Hộ Chân Lạp Quốc Ấn, đóng quân trấn giữ Châu Đốc, kiêm trông coi việc biên thùy ở Hà Tiên. Sau khi nhậm chức Bảo Hộ được hơn 1 năm, ông cũng lâm trọng bệnh và qua đời tại Châu Đốc vào ngày 28 tháng 5, năm Tân Mão, 1830, thọ 68 tuổi. Linh cửu của ông được đưa về khu mộ của dòng họ ở quê nhà trong thôn Mỹ An, thuộc tỉnh An Giang(1). Theo gia phả, Tuyên Trung Hầu Thống Chế Nguyễn Văn Tuyên có bốn người con, con trưởng là Nguyễn Văn Cửu làm Phó Lãnh Binh ở vùng Hải Tây; người con thứ là Nguyễn Văn Trinh, làm Ngoại Úy Cai Cơ ở Trung Dũng; còn hai người kia không thấy ghi lại về hoạn lộ. Khi qua đời, linh cửu của ông được đưa về khu mộ của dòng họ ở quê nhà trong thôn Mỹ An, tỉnh An Giang. Nhưng sau gần 150 năm, dòng sông Tiền đã xoáy lở gần tới khu mộ, nên vào ngày 15 tháng 5 năm 1971, chánh quyền VNCH đã di dời tất cả 6 phần mộ về cải táng bên cạnh đền thờ của ông tại ấp Thánh Ninh Bình gần đó. Và giao cho ông Nguyễn Trường Chấp, cháu bảy đời của ông Nguyễn Văn Tuyên, trực tiếp chăm sóc khu mộ. Dầu quan Tuyên Trung Hầu Thống Chế Nguyễn Văn Tuyên đã mất gần 190 năm , với biết bao nhiêu thăng trầm dâu bể, nhưng gai tộc ông vẫn giữ nguyên gia phả, những sắc phong: 2 đạo sắc phong, 3 tờ chiếu chỉ, 4 bằng cấp và 6 tờ công văn có ấn tín của vua, của triều thần hay của quan trấn thủ. Hàng năm hội đồng gia tộc của quan Tuyên Trung Hầu Thống Chế Nguyễn Văn Tuyên lễ giỗ của ngài vào hai ngày 27 và 28 tháng 5 âm lịch. Ngày nay dân chúng vùng đất phương Nam có được cuộc sống an cư lạc nghiệp, nhờ nước của hai dòng kinh này đã mang lại cho dân chúng miền Tây có được ruộng lúa đầy đồng, tôm cá đầy sông, và công lao của quan Tuyên Trung Hầu Thống Chế Nguyễn Văn Tuyên không phải là nhỏ. Thật vậy, cũng như công lao của ngài Thoại Ngọc Hầu, công trình lớn lao mà ông Nguyễn Văn Tuyên đã hợp sức với ông Nguyễn văn Thoại chỉ huy thực hiện năm xưa mãi mãi có giá trị chẳng những về kinh tế mà còn về quân sự và chính trị nữa. Thêm vào đó, dòng kinh huyết mạch này còn giúp toàn vùng rừng rậm hoang vu xưa xả bỏ hàng triệu triệu mét khối nước ủng phèn từ bao thế kỷ nay. Nói tóm lại, đất nước Việt Nam chúng ta có được một vùng đất bao la bạt ngàn từ Châu Đốc xuống Long Xuyên và Sa Đéc thật xinh đẹp và thật trù phú hôm nay, phần lớn nhờ vào công lao khai khẩn và xây dựng của quan Tuyên Trung Hầu Thống Chế Nguyễn Văn Tuyên năm xưa.

Ghi Chú:

(1)          Ngày nay là xã Mỹ An Hưng, huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp. Vào thời đó, Đại Nam Nhất Thống Chí đã mô tả vùng đất này như sau: “Vùng đất đầm lầy này như tai bèo nổi trên mặt nước, cá lội, cò bay, có cảnh trí thiên nhiên rất đẹp ở miền sông nước, phong cảnh hết sức thanh tú.”

(2)          Cha ông là ông Phan Văn Hậu đã mất vào năm 1822.

(3)          Sắc chỉ được vua Minh Mạng ký vào ngày 25 tháng 6 năm 1828, năm Minh Mạng thứ 9.

                                                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn