Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000098
Số lượt truy cập
17032535
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-10-03 08:45:01

 

19) Nguyễn Khắc Thiệu(?-1813)

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 19, tổ tiên Nguyễn Khắc Thiệu vốn người Quý Huyện, trấn Thanh Hóa, sau di cư vào thành Gia Định, cư ngụ trong huyện Tân Long, gia tộc của ông nhiều đời theo Nho học và làm nghề bốc thuốc. Ông mồ côi cha từ thời niên thiếu, từ đó ông thờ mẹ chí hiếu. Năm lên 13 tuổi ông theo học với thầy Võ Trường Toản, được thầy thương yêu như con ruột. Năm Mậu Thân, 1788, sau khi Nguyễn Ánh tái chiếm thành Gia Định và lập triều đình tại đây. Nhờ thầy Võ Trường Toản tiến cử với triều đình Gia Định nên Thiệu được cử giữ chức Thị Thư Viện, sau được bổ làm Nội Thị Thư Viện.

 Thấy Nguyễn Khắc Thiệu là người có chí mà lại thanh liêm chánh trực, nên Nguyễn Ánh cử ông bí mật đến vùng Kiến An để xem xét nỗi khổ của dân chúng và nạn tham quan ô lại tại đó. Nguyễn Khắc Thiệu có một người chị theo chồng đổi ra Qui Nhơn, khi mẹ ông đi thăm lại bị kẹt đường vì cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Ông bèn xin chúa Nguyễn ra Qui Nhơn tìm mẹ. Nguyễn Ánh nhân đó lệnh cho ông tìm cách ở lại vùng Khánh Hòa để xem xét tình hình. Khi ông ra đến nơi thì chị ông đã mất, mẹ ông đã về vùng Khánh Hòa. Ông ở lại Qui Nhơn khoảng mười bữa để dọ xét tình hình, rồi quay về Khánh Hòa rước mẹ. Khi về đến Gia Định, ông báo cáo chi tiết tình hình Qui Nhơn lên Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn hết sức ngợi khen và bổ ông sang cơ quan Hàn Lâm Viện, rồi sau lại thăng cho ông làm Tham Luận đạo Đông Khẩu.

Năm Kỷ Mùi, 1799, ông được chỉ huy hậu cần, theo quân đi đánh Qui Nhơn. Ông đã đốc thúc việc vận chuyển quân trang và quân dụng đến vùng Tân Quan để sẳn sàng cấp phát cho binh sĩ. Sau khi về Gia Định, ông lại được thăng Tham Tri Bộ Công. Năm Canh Thân, 1800, Nguyễn Ánh giao phó cho ông ở lại thành Gia Định để lo đốc thúc việc vận chuyển quân lương quân dụng cho binh sĩ đi đánh Qui Nhơn, Phú Xuân, và Bắc Hà. Năm Tân Dậu, 1801, Nguyễn Khắc Thiệu cùng với quan Lưu Thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thiệu lãnh lệnh chúa Nguyễn sang Xiêm để báo tin thắng trận. Sau khi về nước, ông được giao cho chỉ huy 2 chiến thuyền bọc đồng là Bằng Phi Thuyền và Phượng Phi Thuyền, chuyên lo vận chuyển gạo từ Quảng Nam vào Qui Nhơn.

Đến năm Gia Long thứ 5, 1806, ông được bổ sang làm Tham Tri Công Bộ. Năm 1807, ông được sung làm Đề Điệu Trường Thi Bắc Thành, rồi Đề Điệu Trường Thi Hải Dương. Năm 1808, ông hợp cùng quan Tham Tri Nguyễn Đức Huyên trông coi quân sĩ và thợ thuyền chuyên lo việc xây dựng các Văn Thánh Miếu và Quốc Tử Giám. Năm 1809, ông được vua Gia Long cử đến trông coi Nha Đê Chánh, kiêm Thủy Sư Bắc Thành. Năm 1811, khi Hiếu Khang Hoàng Hậu(1) qua đời, ông về Huế bái viếng và báo cáo tường tận tình hình Bắc Hà cho vua Gia Long. Sau đó vị mẹ mất nên ông xin phép về chịu tang. Đến năm 1813, ông được cử giữ chức Hộ Tào Gia Định. Ông mất vào cuối năm 1816, thọ 52 tuổi.

Ghi Chú:

(1)          Hiếu Khang Hoàng Hậu là thân mẫu của vua Gia Long, nguyên là con gái của Diễn Quốc Công Nguyễn Phúc Trung.

 

20) Lưu Phước Tường

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 27, Lưu Phước Tường người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Trong thời Nguyễn sơ, ông đầu quân với chúa Nguyễn, đánh nhau với nghĩa binh Tây Sơn trong nhiều năm và được giữ chức Cai Đội Năm 1803, ông được bổ làm Khâm Sai Chưởng Cơ, rồi Lưu Thủ Quảng Bình. Năm 1808, lui về dưỡng bệnh một thời gian. Sau đó ra làm Trấn Thủ Kinh Bắc, rồi lại chuyển trở về tiếp tuc làm Lưu Thủ Quảng Bình.

Ít lâu sau đó, ông được đưa trở về miền Nam làm Trấn Thủ của trấn Vĩnh Thanh. Năm 1816, ông được vua triệu về Kinh rồi sau đó lại thay Nguyễn Văn Thoại làm Bảo Hộ Chân Lạp. Vua Gia Long cho rằng việc bảo vệ biên thùy là hệ trọng nên bổ ông làm Thống Chế, cấp cho ấn đồng Bảo Hộ. Ngoài ra, trước khi lên đường đi Chân Lạp, nhà vua còn cho phép ông chiêu mộ một đội nội thuộc đi theo để sai khiến.

Tuy nhiên, sau khi Lưu Phước Tường lên đến Chân Lạp thì ở Vĩnh Thanh trấn mới vỡ lẽ ra là lúc ông còn làm Trấn Thủ tại đây, ông đã cậy quyền thế, thông đồng với viên Cai Bạ Lê Đắc Tần và viên Ký Lục Nguyễn Bá Bảo, bắt dân phải đóng góp tiền của, số tiền thu được làm của riêng cho mỗi người lên đến vài vạn quan bạc. Đã thế, khi lên làm Bảo Hộ Chân Lạp, ông còn dung túng cho thuộc hạ sách nhiễu dân Cao Miên. Mọi chuyện đều được báo cáo rõ ràng về cho vua Gia Long. Nhà vua giao nội vụ cho quan thành Gia Định đem ra xét xử. Cuối cùng Lưu Phước Tường bị kết án xử trảm tại Gia Định. Đây chỉ là một trường hợp điển hình trong rất nhiều trường hợp quan lại triều đình nhà Nguyễn sách nhiễu dân lành vô tội. Bên cạnh những anh hùng hào kiệt đã làm rạng danh đất phương Nam, thì Lưu Phước Tường, một con dân đất phương Nam, nhưng đã để lại một vết nhơ trong lòng dân Vĩnh Thanh Trấn. Ngày trước ông cũng từng đánh đông dẹp Bắc, và cuối cùng cũng giúp cho Nguyễn Ánh giành giựt lại giang sơn từ tay Ấu Chúa Tây Sơn, nhưng đến khi được làm quan cai trị dân, làm bậc phụ mẫu của dân thì lại quay ra hà hiếp và bóc lột dân lành. Thật đáng trách làm sao!

 

21) Nguyễn Văn Thành(1758-1817)

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển 21, Nguyễn Văn Thành là một trong những khai quốc công thần có công bậc nhứt vào thời Nguyễn sơ. Ông là người đã theo Nguyễn Ánh ngay từ những ngày đầu còn bô tẩu trên vùng đất phương Nam cho đến khi vị chúa này được lên ngôi vua. Ông vốn người Bác Vọng, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Về sau này, nội tổ 4 đời trước của ông đã đưa cả gia đình dời cư vào Trấn Phiên An trong đất Nam Kỳ. Thuở nhỏ, ông được gia đình cho ăn học rất chu đáo, ví thế mà lúc mới 15 tuổi ông đã tinh thông Hán học.

Năm 1773, trong khi nghĩa quân Tây Sơn đang truy lùng Nguyễn Ánh trên vùng đất phương Nam thì Nguyễn Văn Thành đón lấy thời cơ, lấy danh nghĩa là bảo vệ thôn xóm, tự đứng ra chiêu mộ nghĩa sĩ gần cả ngàn người(1), au đó ông hợp tác với Đỗ Thành Nhân. Cuối cùng ông cùng cha mình là ông Nguyễn Văn Hiền theo phò Nguyễn Ánh, chống lại nghĩa binh Tây Sơn. Trong thời gian ông phục vụ dưới trướng Nguyễn Ánh tại thành Gia Định, ông đã tỏ ra là một trong những tướng sĩ tài ba trong nhóm những hào kiệt đất phương Nam vào hậu bán thế kỷ thứ XIX, vì chẳng những ông có tài võ nghệ xuất chúng, mà văn tài của ông thời đó dưới trướng của Nguyễn Ánh không một ai có thể sánh bằng. Chính vì thế mà khi mới ngoài tuổi đôi mươi, Nguyễn Văn Thành đã trở thành cánh tay đắc lực và tin cậy nhất của Nguyễn Ánh.

Sau nhiều lần bị Tây Sơn đánh bại và truy đuổi trên vùng đất phương Nam, năm 1784, Nguyễn Ánh có ý muốn cầu viện với Xiêm La. Vì nhận thức rõ được việc cầu viện Xiêm La đem quân về dày xéo đất nước là bất lợi cho chính nghĩa và dân tộc, nên khi Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện, ông đã nhiều lần khuyên can, nhưng cũng không ngăn được ý định của Nguyễn Ánh. Vì mộng bá đồ vương, muốn giành giựt lại giang san, nên Nguyễn Ánh đã bất chấp thủ đoạn, bất chấp lời khuyên can của các bậc trung thần. Chính vì vậy mà Nguyễn Ánh đã để lại một vết nhơ muôn thuở trong lịch sử Việt Nam với cảnh hơn 300 chiến thuyền và 20 ngàn quân Xiêm La qua hoành hành tàn phá cả vùng đất phương Nam, gây không biết bao nhiêu là cảnh cướp bóc, hãm hiếp, chết chóc, và đau thương cho dân chúng thời đó.

Dẫu biết Nguyễn Ánh không có chánh nghĩa, nhưng vì quan niệm trung quân ái quốc thời phong kiến đã khiến cho Nguyễn Văn Thành cũng như đa số hào kiệt đất phương Nam vẫn đi theo Nguyễn Ánh đánh phá nghĩa binh Tây Sơn. Ngay như Nguyễn Văn Thành, ông đã ba lần kéo quân từ Gia Định ra đánh thành Qui Nhơn. Dẫu biết sức mình không đương cự lại nổi dũng tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn, nhưng vì lòng trung với Chúa, dẫu chết cũng không màng. Trong cách tổ chức quân đội của Nguyễn Ánh thời đó bao gồm Tả Quân, Hữu Quân, Tiền Quân, Hậu Quân, thì Nguyễn văn Thành được phong làm Khâm Sai Tiền Quân Chưởng Cơ. Sự thể không may cho đất nước Việt Nam khi hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ băng hà vào năm 1792. Ấu Chúa Tây Sơn là Quang Toản, không cách chi có thể đương đầu với một người nhiều mưu mô và thủ đoạn như Nguyễn Ánh. Thêm vào đó, Nguyễn Ánh lại bất chấp thủ đoạn nhằm đạt được cứu cánh, ngay cả thủ đoạn rước ngoại bang về dày xéo đất nước, Nguyễn Ánh cũng không từ. Nguyễn Ánh là một trong những ông hoàng Việt Nam có kỷ lục về việc cầu viện ngoại bang. Khi cầu viện với Pháp, ông đã không ngần ngại giao đứa con trai lớn của mình là Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc đem sang Pháp làm con tin, nhưng việc không thành, ông lại quay sang cầu viện với Xiêm La đem đại quân qua dày xéo quê hương. Tuy nhiên, đạo quân xâm lăng này cũng