Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000103
Số lượt truy cập
14606671
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-10-03 08:45:01

 

19) Nguyễn Khắc Thiệu(?-1813)

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 19, tổ tiên Nguyễn Khắc Thiệu vốn người Quý Huyện, trấn Thanh Hóa, sau di cư vào thành Gia Định, cư ngụ trong huyện Tân Long, gia tộc của ông nhiều đời theo Nho học và làm nghề bốc thuốc. Ông mồ côi cha từ thời niên thiếu, từ đó ông thờ mẹ chí hiếu. Năm lên 13 tuổi ông theo học với thầy Võ Trường Toản, được thầy thương yêu như con ruột. Năm Mậu Thân, 1788, sau khi Nguyễn Ánh tái chiếm thành Gia Định và lập triều đình tại đây. Nhờ thầy Võ Trường Toản tiến cử với triều đình Gia Định nên Thiệu được cử giữ chức Thị Thư Viện, sau được bổ làm Nội Thị Thư Viện.

 Thấy Nguyễn Khắc Thiệu là người có chí mà lại thanh liêm chánh trực, nên Nguyễn Ánh cử ông bí mật đến vùng Kiến An để xem xét nỗi khổ của dân chúng và nạn tham quan ô lại tại đó. Nguyễn Khắc Thiệu có một người chị theo chồng đổi ra Qui Nhơn, khi mẹ ông đi thăm lại bị kẹt đường vì cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Ông bèn xin chúa Nguyễn ra Qui Nhơn tìm mẹ. Nguyễn Ánh nhân đó lệnh cho ông tìm cách ở lại vùng Khánh Hòa để xem xét tình hình. Khi ông ra đến nơi thì chị ông đã mất, mẹ ông đã về vùng Khánh Hòa. Ông ở lại Qui Nhơn khoảng mười bữa để dọ xét tình hình, rồi quay về Khánh Hòa rước mẹ. Khi về đến Gia Định, ông báo cáo chi tiết tình hình Qui Nhơn lên Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn hết sức ngợi khen và bổ ông sang cơ quan Hàn Lâm Viện, rồi sau lại thăng cho ông làm Tham Luận đạo Đông Khẩu.

Năm Kỷ Mùi, 1799, ông được chỉ huy hậu cần, theo quân đi đánh Qui Nhơn. Ông đã đốc thúc việc vận chuyển quân trang và quân dụng đến vùng Tân Quan để sẳn sàng cấp phát cho binh sĩ. Sau khi về Gia Định, ông lại được thăng Tham Tri Bộ Công. Năm Canh Thân, 1800, Nguyễn Ánh giao phó cho ông ở lại thành Gia Định để lo đốc thúc việc vận chuyển quân lương quân dụng cho binh sĩ đi đánh Qui Nhơn, Phú Xuân, và Bắc Hà. Năm Tân Dậu, 1801, Nguyễn Khắc Thiệu cùng với quan Lưu Thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thiệu lãnh lệnh chúa Nguyễn sang Xiêm để báo tin thắng trận. Sau khi về nước, ông được giao cho chỉ huy 2 chiến thuyền bọc đồng là Bằng Phi Thuyền và Phượng Phi Thuyền, chuyên lo vận chuyển gạo từ Quảng Nam vào Qui Nhơn.

Đến năm Gia Long thứ 5, 1806, ông được bổ sang làm Tham Tri Công Bộ. Năm 1807, ông được sung làm Đề Điệu Trường Thi Bắc Thành, rồi Đề Điệu Trường Thi Hải Dương. Năm 1808, ông hợp cùng quan Tham Tri Nguyễn Đức Huyên trông coi quân sĩ và thợ thuyền chuyên lo việc xây dựng các Văn Thánh Miếu và Quốc Tử Giám. Năm 1809, ông được vua Gia Long cử đến trông coi Nha Đê Chánh, kiêm Thủy Sư Bắc Thành. Năm 1811, khi Hiếu Khang Hoàng Hậu(1) qua đời, ông về Huế bái viếng và báo cáo tường tận tình hình Bắc Hà cho vua Gia Long. Sau đó vị mẹ mất nên ông xin phép về chịu tang. Đến năm 1813, ông được cử giữ chức Hộ Tào Gia Định. Ông mất vào cuối năm 1816, thọ 52 tuổi.

Ghi Chú:

(1)          Hiếu Khang Hoàng Hậu là thân mẫu của vua Gia Long, nguyên là con gái của Diễn Quốc Công Nguyễn Phúc Trung.

 

20) Lưu Phước Tường

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 27, Lưu Phước Tường người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Trong thời Nguyễn sơ, ông đầu quân với chúa Nguyễn, đánh nhau với nghĩa binh Tây Sơn trong nhiều năm và được giữ chức Cai Đội Năm 1803, ông được bổ làm Khâm Sai Chưởng Cơ, rồi Lưu Thủ Quảng Bình. Năm 1808, lui về dưỡng bệnh một thời gian. Sau đó ra làm Trấn Thủ Kinh Bắc, rồi lại chuyển trở về tiếp tuc làm Lưu Thủ Quảng Bình.

Ít lâu sau đó, ông được đưa trở về miền Nam làm Trấn Thủ của trấn Vĩnh Thanh. Năm 1816, ông được vua triệu về Kinh rồi sau đó lại thay Nguyễn Văn Thoại làm Bảo Hộ Chân Lạp. Vua Gia Long cho rằng việc bảo vệ biên thùy là hệ trọng nên bổ ông làm Thống Chế, cấp cho ấn đồng Bảo Hộ. Ngoài ra, trước khi lên đường đi Chân Lạp, nhà vua còn cho phép ông chiêu mộ một đội nội thuộc đi theo để sai khiến.

Tuy nhiên, sau khi Lưu Phước Tường lên đến Chân Lạp thì ở Vĩnh Thanh trấn mới vỡ lẽ ra là lúc ông còn làm Trấn Thủ tại đây, ông đã cậy quyền thế, thông đồng với viên Cai Bạ Lê Đắc Tần và viên Ký Lục Nguyễn Bá Bảo, bắt dân phải đóng góp tiền của, số tiền thu được làm của riêng cho mỗi người lên đến vài vạn quan bạc. Đã thế, khi lên làm Bảo Hộ Chân Lạp, ông còn dung túng cho thuộc hạ sách nhiễu dân Cao Miên. Mọi chuyện đều được báo cáo rõ ràng về cho vua Gia Long. Nhà vua giao nội vụ cho quan thành Gia Định đem ra xét xử. Cuối cùng Lưu Phước Tường bị kết án xử trảm tại Gia Định. Đây chỉ là một trường hợp điển hình trong rất nhiều trường hợp quan lại triều đình nhà Nguyễn sách nhiễu dân lành vô tội. Bên cạnh những anh hùng hào kiệt đã làm rạng danh đất phương Nam, thì Lưu Phước Tường, một con dân đất phương Nam, nhưng đã để lại một vết nhơ trong lòng dân Vĩnh Thanh Trấn. Ngày trước ông cũng từng đánh đông dẹp Bắc, và cuối cùng cũng giúp cho Nguyễn Ánh giành giựt lại giang sơn từ tay Ấu Chúa Tây Sơn, nhưng đến khi được làm quan cai trị dân, làm bậc phụ mẫu của dân thì lại quay ra hà hiếp và bóc lột dân lành. Thật đáng trách làm sao!

 

21) Nguyễn Văn Thành(1758-1817)

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển 21, Nguyễn Văn Thành là một trong những khai quốc công thần có công bậc nhứt vào thời Nguyễn sơ. Ông là người đã theo Nguyễn Ánh ngay từ những ngày đầu còn bô tẩu trên vùng đất phương Nam cho đến khi vị chúa này được lên ngôi vua. Ông vốn người Bác Vọng, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Về sau này, nội tổ 4 đời trước của ông đã đưa cả gia đình dời cư vào Trấn Phiên An trong đất Nam Kỳ. Thuở nhỏ, ông được gia đình cho ăn học rất chu đáo, ví thế mà lúc mới 15 tuổi ông đã tinh thông Hán học.

Năm 1773, trong khi nghĩa quân Tây Sơn đang truy lùng Nguyễn Ánh trên vùng đất phương Nam thì Nguyễn Văn Thành đón lấy thời cơ, lấy danh nghĩa là bảo vệ thôn xóm, tự đứng ra chiêu mộ nghĩa sĩ gần cả ngàn người(1), au đó ông hợp tác với Đỗ Thành Nhân. Cuối cùng ông cùng cha mình là ông Nguyễn Văn Hiền theo phò Nguyễn Ánh, chống lại nghĩa binh Tây Sơn. Trong thời gian ông phục vụ dưới trướng Nguyễn Ánh tại thành Gia Định, ông đã tỏ ra là một trong những tướng sĩ tài ba trong nhóm những hào kiệt đất phương Nam vào hậu bán thế kỷ thứ XIX, vì chẳng những ông có tài võ nghệ xuất chúng, mà văn tài của ông thời đó dưới trướng của Nguyễn Ánh không một ai có thể sánh bằng. Chính vì thế mà khi mới ngoài tuổi đôi mươi, Nguyễn Văn Thành đã trở thành cánh tay đắc lực và tin cậy nhất của Nguyễn Ánh.

Sau nhiều lần bị Tây Sơn đánh bại và truy đuổi trên vùng đất phương Nam, năm 1784, Nguyễn Ánh có ý muốn cầu viện với Xiêm La. Vì nhận thức rõ được việc cầu viện Xiêm La đem quân về dày xéo đất nước là bất lợi cho chính nghĩa và dân tộc, nên khi Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện, ông đã nhiều lần khuyên can, nhưng cũng không ngăn được ý định của Nguyễn Ánh. Vì mộng bá đồ vương, muốn giành giựt lại giang san, nên Nguyễn Ánh đã bất chấp thủ đoạn, bất chấp lời khuyên can của các bậc trung thần. Chính vì vậy mà Nguyễn Ánh đã để lại một vết nhơ muôn thuở trong lịch sử Việt Nam với cảnh hơn 300 chiến thuyền và 20 ngàn quân Xiêm La qua hoành hành tàn phá cả vùng đất phương Nam, gây không biết bao nhiêu là cảnh cướp bóc, hãm hiếp, chết chóc, và đau thương cho dân chúng thời đó.

Dẫu biết Nguyễn Ánh không có chánh nghĩa, nhưng vì quan niệm trung quân ái quốc thời phong kiến đã khiến cho Nguyễn Văn Thành cũng như đa số hào kiệt đất phương Nam vẫn đi theo Nguyễn Ánh đánh phá nghĩa binh Tây Sơn. Ngay như Nguyễn Văn Thành, ông đã ba lần kéo quân từ Gia Định ra đánh thành Qui Nhơn. Dẫu biết sức mình không đương cự lại nổi dũng tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn, nhưng vì lòng trung với Chúa, dẫu chết cũng không màng. Trong cách tổ chức quân đội của Nguyễn Ánh thời đó bao gồm Tả Quân, Hữu Quân, Tiền Quân, Hậu Quân, thì Nguyễn văn Thành được phong làm Khâm Sai Tiền Quân Chưởng Cơ. Sự thể không may cho đất nước Việt Nam khi hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ băng hà vào năm 1792. Ấu Chúa Tây Sơn là Quang Toản, không cách chi có thể đương đầu với một người nhiều mưu mô và thủ đoạn như Nguyễn Ánh. Thêm vào đó, Nguyễn Ánh lại bất chấp thủ đoạn nhằm đạt được cứu cánh, ngay cả thủ đoạn rước ngoại bang về dày xéo đất nước, Nguyễn Ánh cũng không từ. Nguyễn Ánh là một trong những ông hoàng Việt Nam có kỷ lục về việc cầu viện ngoại bang. Khi cầu viện với Pháp, ông đã không ngần ngại giao đứa con trai lớn của mình là Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc đem sang Pháp làm con tin, nhưng việc không thành, ông lại quay sang cầu viện với Xiêm La đem đại quân qua dày xéo quê hương. Tuy nhiên, đạo quân xâm lăng này cũng bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác tại vùng Rạch Gầm Xoài Múc. Sau khi quân Thanh, do sự cầu cứu của Lê Chiêu Thống, kéo qua chiếm đóng các tỉnh phía Bắc Việt Nam trước khi tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Ánh lại cho người sang cầu viện với Thanh triều với ý định là khi Nguyễn Huệ đang bận lo đối phó với quân Thanh ở mặt Bắc, thì với sự trợ giúp của nhà Thanh, Nguyễn Ánh sẽ đánh thốc ra Qui Nhơn và Phú Xuân. Nhưng không may cho Nguyễn Ánh, sứ đoàn đi cầu viện bị bão tố dọc đường nên Nguyễn Ánh không thực hiện được giấc mơ của mình vào năm 1789. 

Bây giờ trở lại với Khâm Sai Tiền Quân Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thành. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long vào năm Nhâm Tuất 1802, ông bèn bổ nhiệm Nguyễn Văn Thành ra làm Tổng Trấn Bắc Thành(2). Ở chức vụ này, Nguyễn Văn Thành thay mặt triều đình cai quả hết miền Bắc, cũng giống như vị Tổng Trấn Gia Định cai quản hết cả miền Nam.Nhờ tài kinh bang tế thế của ông mà chỉ trong vòng mấy năm, đất Bắc Thành được an cư lạc nghiệp. Sau đó, vào năm 1806, Nguyễn văn Thành được triệu hồi về Huế để thống lãnh Trung Quân. Nhờ tài học vấn uyên bác nên trong thời gian ở Kinh đô Huế, Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng Tài trông nom việc trước tác quốc sử và luật lệ. Lúc này là lúc Nguyễn Văn Thành được vua Gia Long giao cho nhiệm vụ soạn thảo bộ luật cho triều Nguyễn.

Nguyễn Văn Thành là một trong những khai quốc công thần mà Nguyễn Ánh tin cậy nhất. Tuy nhiên, một khi Gia Long đã lên ngôi vua, chính chỗ Thành được tin cậy và xem như người thân trong hoàng tộc này đã khiến cho Gia Long ngày càng khò chịu về ông. Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 21, vào năm Ất Hợi, 1815, lúc này Giao Long đã cao tuổi, nhưng vẫn chưa quyết định người nối ngôi. Nhân sau một buổi chầu, Gia Long hỏi Nguyễn Văn Thành: “Cháu ta là Đán(3) thì còn bé, vậy, trong các con ta, ai đáng được lập làm Thái Tử?” Nguyễn văn Thành tâu ngay: “Đích tôn thừa trọng, theo đúng lễ này mới phải. Nay nếu bệ hạ muốn chọn người khác thì ở đời, biết con chẳng ai bằng cha, việc này thần không dám can dự.” Thế rồi một hôm Nguyễn Văn Thành hội họp triều thần tại nhà riêng và nói: “Hoàng tôn Đán nên nối ngôi vua, tôi đã tâu vua xin lập, các quan thấy thế nào?” Trịnh Hoài Đức sợ họa lây bèn nói: “Đây là việc quốc gia đại sự, phải để nhà vua quyết đoán, không phải là việc của quần thần. Nếu có ý riêng mà toan định đoạt, tội lớn lắm!” Nghe vậy Nguyễn Văn Thành mới thôi. Từ đó về sau này, mỗi lần Nguyễn Văn Thành vào triều kiến Gia Long xin lập Thái tử, Gia Long đều im lặng khiến cho Thành càng ngờ và càng sợ hãi hơn. Nguyễn Văn Thành ngờ là phải rồi, mà sợ cũng là phải rồi, vì có lẽ cái án tử của Nguyễn Văn Thành đã được định sẵn trong đầu của Gia Long ngay từ cái hôm mà ông Thành nói: “Đích tôn thừa trọng, theo đúng lễ này mới phải...”

Phải thực tình mà nói, Nguyễn Văn Thành là một vị quan thanh liêm chánh trực, đã hết lòng vì dân vì nước, và hết lòng phò tá Nguyễn Ánh trải qua bao nhiêu gian truân lao khổ, một đại khai quốc công thần của nhà Nguyễn. Xem lại con đường hoạn lộ của những công thần triều Nguyễn, có mấy ai được lên tới tột đỉnh như Nguyễn Văn Thành? Ông là người đã đi theo từng bước chân tẩu quốc của Nguyễn Ánh với biết bao nhiêu thăng trầm vinh cũng có mà nhục cũng nhiều(4). Ông có khả năng chịu đựng tất cả những thứ vinh nhục để giúp chúa Nguyễn lấy lại giang sơn từ Ấu chúa Tây Sơn, theo Nguyễn Văn Thành, đó là trung quân ái quốc, là thương dân thương nước. Nhưng đến khi gặp hàm oan khuất tất thì không cách chi chịu nổi nữa, đành phải tự kết liễu đời mình để minh oan với vua với chúa. Từng ấy công trạng hạng mã, từng ấy hy sinh cho dân cho nước và cho vương triều nhà Nguyễn, thế mà cuối cùng vì một bài thơ của con trai ông là Nguyễn Thuyên(5), có lời lẽ ngông cuồng, bị triều đình cho là có ý tạo phản, nên bắt giam cả gia đình, kể cả Nguyễn Văn Thành. Kết quả là năm 1817, Nguyễn văn Thành phải tự vẫn và chết trong nhà ngục. Cái chết của ông đã làm chấn động hầu hết các tướng sĩ trung thành với Nguyễn Ánh thời đó. Nếu nói Gia Long là một vị hôn quân thì cũng có phần quá đáng, nhưng nếu nói ông là một minh quân thì cũng không đúng. Ông là một vị vua chỉ biết có ngôi vị của dòng họ Nguyễn, nên lúc nào cũng nghi ngờ triều thần, ngay cả những người đã từng nằm gai nếm mật với mình như Nguyễn văn Thành. Trong việc truy xét Nguyễn Văn Thành, quả thật phải nói Gia Long là một vì vua đa nghi và thiếu suy xét. Cho mãi đến đời vua Tự Đức, nhờ có quan Đông Các Đại Học Sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ giải oan cho ông và một số trung thần khác, nên Tự Đức mới cho bãi án và oan tình của ông mới được cởi bỏ.

Phải nói, Nguyễn Ánh rất may mắn trong thời gian bôn tẩu lẩn trốn sự truy đuổi của nghĩa binh Tây Sơn, vì đi đâu đến đâu trong vùng đất phương Nam ông đều được rất nhiều hào kiệt vùng đất này ra phò trợ. Họ chẳng những là những vị tướng giỏi, mà còn là những vị quan văn lỗi lạc. Như Nguyễn Văn Thành trong bất cứ chức vụ nào, hết Chưởng Tiền Quân rồi đến Trung Quân, vào tướng văn, ra tướng võ, ở chức vụ nào ông cũng chu toàn mỹ mãn. Đến khi được triều về Kinh, ông được cử giữ chức Tổng Tài, trông coi việc biên soạn sách Quốc Sử và các bộ hình luật. Chính ông là nhân vật chính trong việc hình thành bộ luật Gia Long, tức bộ “Hoàng Việt Luật Lệ” với hai phần gồm 22 quyển, 398 điều luật, được Gia Long ban hành vào năm 1812, và đầu năm 1815 được ấn loát để phổ biến trong dân chúng. Nguyễn văn Thành còn là tác giả của các bài văn “Điểm Mê Khúc” nhằm phủ dụ nhóm người còn tưởng nhớ đến nhà Lê, và soạn bài “Văn Tế Tướng Sĩ Trận Vong”, một trong những áng văn kiệt tác trong nền quốc văn cận đại, được soạn lúc ông đang làm Tổng Trấn Bắc Thành, vào dịp lễ truy điệu các trận vong tướng sĩ đã từng giúp vua Gia Long khôi phục lại giang sơn. Hiện nay lăng mộ của quan Khâm Sai Tiền Quân Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thành vẫn còn trong tỉnh Gia Định.

Ghi Chú:

(1)          Có sách ghi là khoảng 800 người.

(2)          Năm 1802, vua Gia Long triệu ông ra Bắc nhậm chức Tổng Trấn Bắc Thành trong khi ông đang trấn giữ thành Bình Định.

(3)          Hoàng tôn Đán, tức Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh.

(4)          Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 21, năm Ất Tỵ, 1785, Nguyễn Văn Thành đang phò Nguyễn Ánh trốn sang Xiêm La. Ngay từ thưở nhỏ, Nguyễn Văn Thành rất đam mê cờ bạc, nên lúc ở Xiêm thường hay mắc nợ cờ bạc. Một hôm, Nguyễn Ánh đưa cho Thành 1.000 lạng bạc, sai đi Chiêm Kha, một vùng đất thuộc Xiêm La, để mua thóc. Trên đường đi Chiêm Kha, Thành gặp những vị quan khác cũng theo Nguyễn Ánh qua Xiêm, cũng mắc nợ như mình, nên chủ nợ người Xiêm đến đòi nợ họ một cách quyết liệt. Nguyễn Văn Thành thấy thương cho khổ cảnh, nên ông đã lấy hết bạc của Nguyễn Ánh đưa ra mà trả nợ dùm họ rồi trở về tay không. Nguyễn Ánh biết chuyện, tuy không bằng lòng, nhưng cũng không nỡ bắt tội Thành. Đến năm 1787, tướng Tây Sơn là Hà Hỷ Văn đang đóng quân ở Côn Sơn, có ý muốn về hàng với Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh bèn sai Nguyễn Văn Thành cùng với Nguyễn Thái Nguyên đi đón, nhưng lúc trở về gặp mùa gió chướng, thuyền không thể đến chỗ Nguyễn Ánh được, đành phải ghé tạm lại Hà Tiên. Neo thuyền ở Hà Tiên một lúc thì đã hết lương thực, Nguyễn Văn Thành liền giả dạng làm quân cướp biển, đi cướp lương thực của các thuyền bè qua lại. Đến khi về được Vọng Các, Thành bèn đem chuyện giả cướp đi cướp lương thực cho Nguyễn Ánh nghe, liền bị Nguyễn Ánh giam vào ngục, nhưng ngay sau đó lại được thả ra để đi đánh giặc.

(5)          Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển thứ 21, con của Nguyễn văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, đỗ cử nhân khoa Quý Dậu 1813, thường mượn thơ văn để giao thiệp với bằng hữu và khách. Nghe nói ở Thanh Hóa có Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận là những người nức tiếng hay chữ, Thuyên bèn sai người hầu là Nguyễn Trương Hiệu đến mời. Trong bài thơ gửi cho hai người này, có 2 câu:

“Thử hồi nhược đắc sơn trung đế, Ta ngã kinh luân chuyển hóa cơ.”

Có nghĩa là: Thời nay, nếu mà có được vị chúa trong núi kia ở bên cạnh để ta lo sắp đặt thì có thể xoay chuyển được cơ trời. Thấy hai câu này có ý bội nghịch, nên Nguyễn Trương Hiệu liền đem đến báo cho quan Thiêm sự của Bộ Hình là Nguyễn Hữu Nghi. Nguyễn Hữu Nghi và Lê Văn Duyệt vốn trước đây có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành, nên Nghi bèn đem lời thơ này nói cho Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt lập tức trình lên vua Gia Long. Gia Long cho là sự thể chưa rõ, nên sai mang trả lại cho Thuyên. Tuy nhiên, Nguyễn Trương Hiệu cố tình giữ lại để làm tiền chớ không trả lại cho Nguyễn Văn Thuyên. Biết được sự việc Nguyễn Văn Thuyên cũng đồng ý trả tiền cho Hiệu, nhưng Hiệu cũng không bằng lòng với số tiền của Thuyên mà muốn tống tiền quan trên Nguyễn Văn Thành. Một hôm, Nguyễn Trương Hiệu đợi khi Nguyễn văn Thành tan buổi chầu về, đón đường nắm áo Thành đòi thêm tiền. Nguyễn Văn Thành bèn sai lính bắt cả Nguyễn Trương Hiệu và con trai mình là Nguyễn Văn Thuyên giam vào ngục thất, rồi khi vào chầu tâu lên vua Gia Long. Gia Long gai sự vụ cho đình thần tra xét, nhưng lại nghĩ là chứng cớ chưa đủ, nên tha cho Nguyễn Văn Thuyên, còn Nguyễn Văn Thành thì vẫn giữ chức vụ cũ. Đến năm 1816, quan Ký Lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa dâng sớ hạch tội Nguyễn Văn Thành làm việc trái phép. Vua Gia Long lại giao vụ việc cho triều thần bàn nghị. Nhưng rồi cũng không bắt tội, mà vẫn cho Nguyễn Văn Thành ra dự tế lễ đàn Nam Giao, dầu cho đình thần ngăn cản. Một hôm, sau khi bãi triều, Nguyễn Văn Thành chạy thẳng đến nắm áo Gia Long khóc lóc, kêu rằng: “Tôi từ thuở bé đến nay đi theo bệ hạ, vốn chẳng có tội gì, nay bị người ta bịa đặt để hãm hại, lẽ đâu bệ hạ nhìn chúng giết tôi mà không cứu giúp một chút?” Nguyễn Đức Xuyên thấy vậy hét to rằng: “Ngươi có tội hay không có tội, việc đó đã có công nghị của triều đình, sao dám vô lễ, xuống ngay!” Từ đó về sau, vua Gia Long cấm không cho Nguyễn Văn Thành vào chầu nữa và sai Lê Văn Duyệt tra xét vụ án Nguyễn Văn Thuyên. Mới tra hỏi có một lần, Nguyễn Văn Thuyên đã nhận tội, Nguyễn Văn Thành cũng vì sợ hãi mà nhận. Vua Gia Long bèn đem tờ biểu của Nguyễn Văn Thành cho các quan xem. Quan Lễ Bộ Thượng Thư là Phạm Đăng Hưng tâu rằng: “Nguyễn Văn Thành chỉ khéo nói úp mở, lấy khôn vặt để dối triều đình, xin nhận tội như thế này chưa phải là thực tâm đâu.” Đình thần xin giam Thành vào ngục, và sau đó Gia Long sai thâu lại ấn của Nguyễn Văn Thành và cho về nhà. Ngị án xong, quần thần tâu lên Gia Long, tội của cha con Nguyễn Văn Thành đáng xữ tử, chỉ có quan Tham Tri Bộ Lại là Trần Văn Tuân nói: “Nguyễn văn Thành không biết dạy con là tội nhẹ, còn Nguyễn Duy Hòa dám hạch cả đại thần là tội nặng” Sau đó nhân vụ làm phản của Lê Duy Hoán ở Bắc Thành, Hoàn khai do Thuyên xúi dục nó lam2 phản. Bộ Hình dâng lời khấu cung lên triều đình xin bắt cha con Nguyễn Văn Thành. Năm 1817, Gia Long hạ lệnh bắt giam hai cha con Nguyễn Văn Thành để tra xét. Khi Thành được hỏi, có mưu phản và có biết việc làm phản đó không, Nguyễn Văn Thành đều trả lời “không”. Sau khi tra hỏi, Nguyễn Văn Thành trở về Quân Xá và nói với quan Thị Trung Thống Chế Hoàng Công Lý rằng: “Án xét đã xong, vua bắt bề tôi phải chết mà bề tôi không chết là bề tôi bất trung.” Nguyễn văn Thành vào quân xá, lấy thuốc độc ra uống, rồi lên giường nằm và qua đời ngay đêm đó. Sau khi Nguyễn Văn Thành chết, Hoàng Công Lý có trình lên vua Gia Long lời trần tình của Thành có nội dung như sau: “Sớm rèn tối đúc, tạo cho cha con tôi tội cực ác, không thể tố cáo vào đâu được, cho nên chỉ biết chết mà thôi.” Sau cái chết của Nguyễn Văn Thành, Gia Long tha chết cho các con của ông.

 

                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn