Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000064
Số lượt truy cập
14308120
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-09-06 08:01:58

 

 9) Trương Văn Hoàng

Trương Văn Hoàng xuất thân từ một gia đình nông dân trong huyện Kiến Hưng, tức vùng Cai Lậy ngày nay. Từ nhỏ, ông đã đam mê võ nghệ, nên ông đã theo học võ với nhiều bậc thầy nổi tiếng vùng Định Tường. Ông cũng hằng lui tới kết giao với nhiều hào kiệt vùng Cai Lậy, Bến Tranh, và Bảo Định. Đặc biệt nhất là ông rất mến mộ tài nghệ và danh tiếng của Nguyễn Huỳnh Đức, nên ông bèn đến xin tòng quân. Nguyễn Huỳnh Đức thấy ông cũng là một bậc kỳ tài, nên thâu nhận và hết lòng dạy dỗ thêm võ nghệ. Với ông thì Nguyễn Huỳnh Đức vừa là một người bạn, mà cũng vừa là một người thầy. Khi Nguyễn Ánh bôn tẩu vào đất phương Nam, Nguyễn Huỳnh Đức cùng các võ tướng quân Đông Sơn như Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh và Châu Văn Tiếp đều ứng nghĩa phò trợ Nguyễn Ánh, ông cũng theo Nguyễn Huỳnh Đức ra giúp Nguyễn Ánh.

Từ khi theo giúp Nguyễn Ánh, ông tỏ ra vô cùng dũng cảm, xông pha hầu hết các trận mạc, chẳng tiếc gì thân mạng. Sự dũng cảm gan dạ của ông thấu đến tai Nguyễn Ánh, nên Nguyễn Ánh quyết định cho ông về hầu cận mình. Đáp lại ơn nghĩa này, ông đã tỏ ra một lòng một dạ trung kiên, sẵn sàng hy sinh thân mạng chính mình để bảo vệ chúa Nguyễn trong những lúc nguy nan. Chính nhờ lòng trung thành và sự gan dạ của ông mà Nguyễn Ánh đã rất nhiều lần thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc. Trên bước đường bôn tẩu, lúc nào Nguyễn Ánh cũng để ông đi theo bên mình. Lúc lánh nạn qua Xiêm La, ông cũng cùng đi theo Chúa Nguyễn và nhà chúa cũng xem ông như người trong thân tộc và quí mến tài nghệ của ông như các bậc võ quan lừng danh khác như Dương Công Trừng, Hồ Văn Lân hay Châu Văn Tiếp. Trong những ngày sống lưu vong trên đất Xiêm, chẳng những ông luôn theo sát bảo vệ Nguyễn Ánh, mà ông còn tổ chức cho người trở về nước dọ thám tình hình và giúp tuyển mộ và huấn luyện binh sĩ một cách vô cùng đắc lực. Ngoài ra, ông còn là một chuyên viên rất giỏi về việc đóng rất nhiều chiến thuyền. Phải nói, lúc ở Vọng Các, lúc nào bên cạnh Nguyễn Ánh cũng có ba người là Ngô Công Quý, Lê Tân và ông.

Đến năm Đinh Tỵ, 1787, ông hộ giá đưa Nguyễn Ánh về nước tái chiếm thành Gia Định. Nguyễn Ánh phong ông làm Dũng Vệ. Ông đảm trách nhiệm vụ bảo vệ chúa bất cứ lúc nào chúa thân chinh lâm trận. Nhiều lần ông đã xông pha thẳng vào vòng vây để bảo vệ Nguyễn Ánh. Năm Kỷ Mùi, 1789, Nguyễn Ánh cử ông cùng một số dũng tướng khác khởi quân đi đánh Qui Nhơn. Lúc ấy thế lực của nghĩa binh Tây Sơn ở Qui Nhơn quá mạnh, nên ông phải thua liên tiếp mấy trận, hao quân tổn tướng quá nhiều. Đến năm 1799, chúa lại cử ông ra đánh các vùng Phan Rang, Phan Rí, rồi tiến đánh Qui Nhơn, nhưng trước cường lực của nghĩa binh Tây Sơn, ông đã bỏ mình ngay trên trận mạc. Phải nói quan Dũng Vệ Trương Văn Hoàng là một trong những bậc công thần bậc nhất vào thời Nguyễn Sơ. Ông đã vào sanh ra tử, không quản ngại thân mạng, một lòng tận trung báo quốc, lập được nhiều chiến công hiển hách. Chính vì vậy mà khi hay tin ông tử trận, Nguyễn Ánh đã ôm mặt khóc trước ba quân. Về sau, Trương văn Hoàng được phong chức Chưởng Cơ, và linh vị được đem vào thờ trong Miếu Trung Hưng Công Thần và Miếu Hiển Trung.

 

10) Nguyễn Phước Cảnh(1780-1801)

Nguyễn Phước Cảnh, tức hoàng tử trưởng, con trai đầu lòng của Nguyễn Phúc Ánh(1) và bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu(2). Ông sanh năm Canh Tý 1780, tại vùng Gia Định. Năm 1784, Nguyễn Ánh muốn cầu viện với Pháp, nên giao hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc đem sang Pháp làm con tin(3), nhưng sự việc không thành, ông lại theo Bá Đa Lộc lên đường về nước. Từ đó ông theo chân Nguyễn Ánh đi khắp các chiến trường miền Nam.

Tháng 3 năm Quí Sửu, 1793, ông được lập làm Đông Cung(4), giao cho giữ chức Nguyên Soái. Nguyễn Ánh lại cho lập phủ Nguyên Soái trong triều đình ở Gia Định, và được ban ấn triện có bốn chữ “Đông Cung Chi Ấn”. Nguyễn Ánh lại phái đến phủ Nguyên Soái một số quan văn võ đại thần và binh sĩ để giúp việc trong phủ. Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn phái một số danh sĩ nổi tiếng thời đó như Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đến phủ để chuyên lo việc giảng dạy cho Đông Cung Cảnh. Trong thời gian ở ngôi Đông Cung, Nguyễn Phúc Cảnh đã được vua cha giao cho trấn giữ các địa phương hiểm yếu như Gia Định và Diên Khánh. Khi Nguyễn Ánh đem quân thủy bộ ra đánh thành Qui Nhơn thì Nguyễn Phúc Cảnh lại lãnh Tả Quân Doanh và được cử giữ đất Gia Định. Đến tháng 11 năm 1793, Đông cung Cảnh vâng mệnh cha ra trấn giữ thành Diên Khánh, mãi đến năm Giáp Dần 1794 mới trở về Gia Định. Năm Đinh Tỵ, 1797, ông lại theo Nguyễn Ánh ra đánh thành Qui Nhơn.

Khi trở về Gia Định, đến ngày mồng 7 tháng 2 năm Tân Dậu, tức ngày 20 tháng 3 năm 1801, ông bị bệnh đậu mùa và mất tại Gia Định lúc mới có 22 tuổi. Sau khi qua đời ông được truy thụy là Anh Duệ Hoàng Thái Tử. Sau khi qua đời, Hoàng tử Cảnh để lại người vợ góa tên Tống thị Quyên và hai người con trai là Nguyễn Phúc Mỹ Đường và Nguyễn Phúc Mỹ Thùy. Năm Gia Long thứ 16, Nguyễn Phúc Mỹ Đường được phong làm Ứng Hòa Công và Mỹ Thùy được phong làm Thái Bình Công. Tuy nhiên, ba mẹ con bà Tống thị Quyên, Mỹ Đường và Mỹ Thùy chưa hưởng phúc ấm được bao lâu thì đã bị đại họa, vì đến đời Minh Mạng, Mỹ Đường bị kết tội mưu soán ngôi nên bị tước đoạt hết chức tước và giáng xuống làm dân đinh, con cháu chỉ được phụ chép vào sau tôn phả mà thôi(5).

Chuyện giữa Minh Mạng và con cháu của Đông Cung Cảnh là một trường thiên bi kịch, nếu muốn kể lại chắc phải cần nhiều tập sách lắm mới có thể tạm gọi là nói lên phần nào khúc trường thiên bi kịch đó. Số là năm Minh Mạng thứ 5, 1824, có người mật báo với Minh Mạng là Mỹ Đường thông dâm với mẹ là bà Tống thị Quyên nên nhà vua ra lệnh dìm nước bà Tống thị Quyên đến chết. Trong khi đó Mỹ Đường phải giao trả lại hết ấn tín, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai và con gái của Mỹ Đường chỉ được ghi chép phụ vào phía sau của sổ tôn thất mà thôi. Đến năm Minh Mạng thứ bảy, 1826, Mỹ Thùy lại bị quân lính ở đạo Dực Chẩn kiện, lúc sắp ra pháp đình luận tội thì Mỹ Thùy bị bệnh mà mất, lúc chưa có con cái, nên vua Minh Mạng cho con của Mỹ Đường tên là Lệ Chung làm Ứng Hòa Hầu để lo việc thờ phụng Anh Duệ Hoàng, tức Đông Cung Cảnh. Đến năm Minh Mạng thứ tám, 1827, thì đổi làm Thái Bình Hầu. Tuy nhiên, đến năm Minh Mạng thứ mười bảy, 1836, vì sợ con cái của Lệ Chung sẽ nhờ cha mà hưởng phúc, nên Minh Mạng đã giáng cả nhà con cháu Lệ Chung xuống làm thứ dân (gia đình con trai của Lệ Chung là Lệ Ngân và con gái là Thị Văn và Thị Dao). Mãi đến năm Tự Đức thứ 2, 1848, sau khi Mỹ Đường bị bệnh qua đời, triều đình Huế mới không còn kiếm chuyện với dòng dõi Đông Cung Cảnh nữa, vì lúc đó họ đã trở thường dân. Thật tội nghiệp cho gia đình của một vị đường đường là Đông Cung Thái Tử, con của dòng chính của một vương triều. Mới 3 tuổi đầu Hoàng tử Cảnh đã phải bị đưa đi làm con tin, ra đi hơn nửa vòng trái đất đến bên trời Tây, làm con tin cho cha mình cầu viện với Phú Lang Sa, hầu có vũ khí mà đánh nhau với Tây Sơn. Đến khi về nước, Đông Cung Cảnh lại nếm mùi binh đao khói lửa, mới 13 tuổi đầu đã phải trấn giữ Gia Định khi cha xuất chinh. Rồi lúc chưa đầy 14 tuổi lại được giao trách nhiệm đi đánh thành Diên Khánh. Về Gia Định chưa được bao lâu thì qua đời vì bệnh hoạn ở tuổi 22. Hoàn Cảnh bi thảm của Đông Cung Cảnh đã như vậy, mà hoàn cảnh con cháu của ông ta cũng thảm thương không kém như vừa kể ở đoạn trên. Chuyện hoàng cung nhà Nguyễn, nhất là chuyện của các vì vua đầu trào như Gia Long và Minh Mạng, hậu thế có muốn kể ra thì chắc chắn không thể tưởng tượng được những chuyện mà phàm phu tục tử còn khó lòng tưởng tượng, huống là những học giả có đạo đức? Minh Mạng là một ông vua cũng ở ngôi lâu đời như vua cha, đáng lý ông phải làm được nhiều việc cho đất nước lắm chứ, nhưng xót xa làm sao, dưới thời của ông và cách cai trị của ông đã làm cho dân chúng phải nổi lên làm loạn khắp nơi, nhất là loạn Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ Lục Tỉnh. Riêng trong hoàng cung, nói Minh Mạng là con của bà Thuận Thiên Hoàng Hậu, nhưng ngay từ thuở nhỏ, ông đã được bà Thừa Thiên Hoàng Hậu nuôi dạy và coi như con ruột, nghĩa là bà coi Minh Mạng như em ruột của Đông Cung Cảnh. Thế mà Minh Mạng chẳng những không cám cảnh cho chị dâu Tống thị Quyên, mà còn nỡ vu oan cho tội thông dâm với con mình, là một tội đại ác (thời phong kiến, có 2 tội đaị ác: đó là bất trung với vua và thất đức, mà thông dâm hay loạn luân bị khép vào thất đức). Đã thế còn tìm cách sắp đặt cho binh lính ở đạo Dực Chẩn đi kiện Nguyễn Phúc Mỹ Thùy, đến nỗi ông này phải sinh bệnh trầm uất mà qua đời. Cũng chưa hả dạ, Minh Mạng còn ra lệnh giáng tất cả con cháu của anh mình làm thứ dân để tránh hậu hoạn về sau này. Một ông vua mà ngay cả người trong dòng tộc của mình mà còn thẳng tay như vậy, thì thử hỏi ông vua đó có đủ lòng nhân đức với người khác họ hay không. Chuyện này chắc cần phải đợi có sự suy xét tường tận về sau này của lịch sử!

Ghi Chú:

(1)          Nguyễn Phúc Ánh hay Nguyễn Ánh, là con của hoàng tử Nguyễn Phúc Côn và bà Nguyễn thị Hoàng. Năm 1802 lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long.

(2)          Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu là con gái của Thái Bảo Quốc Công Tống Phúc Khuông. Bà có với Nguyễn Ánh 3 người con: Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Phúc Hy và Nguyễn Phúc Noãn, nhưng tất cả đều mất sớm.

(3)          Theo Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển 2, mùa hạ năm Quý Mão, 1783, sau khi bị Tây Sơn đánh tan tác, Nguyễn Ánh bèn tìm đường chạy sang cầu cứu Xiêm La. Đồng thời, lại giao Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc để làm con tin, nhờ ông này sang Pháp cầu viện. Cùng đi trong đoàn của Hoàng tử Cảnh và Bá Đa Lộc còn có các quan Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Liêm. Chuyến đi kéo dài từ năm 1783 đến năm 1789, nhưng không mang lại kết quả gì đáng kể, ngoài nỗi nhục nhã của Hiệp Ước Versaille 1787.

(4)          Đông Cung tức hoàng thái tử, người sẽ chính thức được nối ngôi vua cha trong tương lai. Nên lúc đó người ta thường gọi ông là Đông Cung Cảnh hay Hoàng tử Cảnh.

(5)          Theo Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Sơ Tập, quyển 2, trước đây thấy vua ở ngôi mà tuổi đã cao, các quan liền xin lập người kế vị. Trong số các quan đại thần, có người đề nghị thẳng với vua Gia Long là nên lập Hoàng Tôn Đán, tức Nguyễn Phúc Mỹ Đường, nhưng nhà vua không thuận. Về sau, Gia Long lại lập Nguyễn Phúc Đảm là con của bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, làm hoàng thái tử, tức là em cùng cha khác mẹ với Đông Cung Cảnh. Về sau này Hoàng tử Đảm lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.

                                                                                      ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn