Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000069
Số lượt truy cập
14701709
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-01-22 03:43:05

 

Mối Hận Của Nguyễn Ánh Với Tây Sơn

Nguyễn Ánh, tức Nguyễn Phúc Ánh, còn có tên là Noãn và Chủng, sanh năm 1762, con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân(2) với Hiếu Khang hoàng hậu. Lúc chúa Võ Vương còn ở ngôi chúa, có ý nhường ngôi lại cho người con thứ chín là Phúc Hạo, nhưng Phúc Hạo chết năm 1760. Vì thế Võ Vương muốn truyền ngôi lại cho Phúc Luân. Tuy nhiên, sau khi Võ Vương mất vào năm 1765, Trương Phúc Loan chuyên quyền, giả mạo di chúc của Võ Vương, lập người con thứ 16 của Võ Vương là Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi chúa. Theo sử quan triều Nguyễn thì Phúc Luân vì buồn mà mang bệnh rồi chết, nhưng có một số tài liệu ngoại sử thì nói Trương Phúc Loan đã giam Nguyễn Phúc Luân cho đến chết. Lúc ấy Nguyễn Ánh mới 3 tuổi đầu. Dầu Phúc Luân vì buồn hay bị giam mà chết, thì Nguyễn Ánh cũng phải chịu tang cha lúc tuổi còn quá nhỏ. Sau khi cha mất, Nguyễn Ánh đã phải trải qua những năm tháng rong ruổi trong tủi nhục từ Trung vô Nam, rồi từ Nam ra các đảo ngoài khơi vịnh Xiêm La, rồi qua Xiêm... với biết bao nhiêu hiểm nguy chực chờ. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh rất được Duệ Tông Phúc Thuần yêu thương, nhờ vậy mà ông đã theo Duệ Tông chạy vào Nam để lánh quân Tây Sơn đang truy đuổi. Chính nhờ những năm tháng lưu vong với Phúc Thuần, mà Nguyễn Ánh đã lấy lòng Phúc Thuần, nên về sau nầy khi quần thần nhà Nguyễn ngỏ ý muốn Duệ Tông nhường ngôi cho Đông cung Phúc Dương, lúc đầu Duệ Tông có ý muốn từ chối, vì ông không thấy ở Phúc Dương những tài năng và đức độ của một vì vua. Ngược lại, những thứ đó ông thấy được nơi Nguyễn Ánh. Tuy nhiên, khi bị Lý Tài ép gắt thì Duệ Tông mới chịu nhường ngôi cho Phúc Dương. Từ đó Duệ Tông lên làm Thái Thượng Vương và Phước Dương làm Tân Chính Vương. Nguyễn Ánh có 5 anh em trai, thì 4 người kia đã chết trong các trận chiến với Tây Sơn. Người anh lớn nhất tên Hạo, làm đến chức Cai Cơ, bị quân Tây Sơn giết chết. Người anh thứ hai tên Đồng, làm chức Đội trưởng, cũng bị Tây Sơn bắt giết tại Long Xuyên cùng một lượt với Nguyễn Phúc Thuần vào năm 1777. Người em kế của Nguyễn Ánh thì chết lúc còn nhỏ. Người em kế nữa tên Mân, chết đuối khi bị quân Tây Sơn chặt đứt cầu phao trong trận Đồn Cá Trê vào năm 1783. Người em trai nữa của Nguyễn Ánh tên là Nguyễn Điển(3) bị quân Tây

Sơn bắt giết ở Hòn Đá Chồng vào năm 1783. Nguyễn Ánh có bốn chị em gái. Chị lớn là công chúa Long Thành Ngọc Tú(4), được gả cho Cai Cơ Lê Phước Điển(5). Người  chị thứ hai là công chúa Phước Lộc Ngọc Du, được gả cho Võ Tánh(6) vào năm 1779. Người em kế Nguyễn Ánh là công chúa Minh Nghĩa Ngọc Tuyền, năm 1779 được gả cho Cai cơ Nguyễn Hữu Thoại, năm 1782 khi Hữu Thoại qua Xiêm cầu viện cho Nguyễn Ánh, bà bị Tây Sơn bắt ở vùng Đồng Nai, trên đường giải về Sài Gòn, bà đã nhảy xuống sông tự tử, lúc mới 19 tuổi. Em gái út của Nguyễn Ánh là công chúa Ngọc Uyển(7). Năm 1774, lưu lạc ra vùng Thanh Hóa vì chiến tranh. Bao nhiêu người trong gia đình dòng họ của Nguyễn Ánh đã chết về tay Tây Sơn, nên bản thân ông, ông rất căm thù Tây Sơn. Và cũng chính vì thế mà cuộc chiến do ông khởi động với Tây Sơn mang đậm nét thù hằn hơn là ý thức chính trị của một người yêu nước. Tuy nhiên, phải công tâm mà nói, để đạt được mục đích là chiếm lại chiếc ngai vàng cho dòng họ Nguyễn, ngoài lòng căm hận Tây Sơn, ngoài tài năng và trí năng thiên bẩm, phải thành thật mà nói, chắc chắn Nguyễn Ánh phải là một con người có nhiều nghị lực, và cũng phải là một con người biết ‘dụng nhân như dụng mộc’ lắm mới lôi kéo về phía mình quá nhiều tướng tài trong cuộc chiến với Tây Sơn.

Như trên đã nói, trước khi Nguyễn Ánh được tôn xưng, triều đình xứ Đàng Trong đã trải qua một chuỗi dài khủng hoảng và tranh chấp về việc phế lập trong triều. Lộng thần Trương Phúc Loan không theo di chúc của chúa Võ Vương, không chịu lập Phúc Luân lên ngôi, mà lại lập Duệ Tông Phúc Thuần lên ngôi. Tuy nhiên, sau đó bị quân Tây Sơn truy đuổi quá gắt, Nguyễn Ánh đã theo Duệ Tông chạy vào Nam để lánh quân Tây Sơn đang truy đuổi. Nhờ được theo sát bên cạnh Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần, nên nhờ đó mà quần thần lưu vong nhà Nguyễn ai cũng đều biết Nguyễn Ánh, dầu lúc ấy dòng họ Nguyễn vẫn còn một số thất lạc ra Thuận Hóa trong cuộc chiến tranh với quân Tây Sơn. Cũng chính nhờ được theo sát bên Duệ Tông mà vào năm 1777, khi Duệ Tông và Đông cung Phúc Dương bị Tây Sơn bắt giết, thì Nguyễn Ánh nghiễm nhiên trở thành người kế thừa hợp pháp và hợp tình nhất, vì trước tiên Nguyễn Ánh cũng là dòng đích của họ Nguyễn, mặc dầu dòng họ Nguyễn cũng còn những người lưu lạc khác, nhưng biết đâu mà tìm, trong khi hoàng gia trong miền Nam chỉ còn có Nguyễn Ánh sống sót, nên sẵn đó tôn Nguyễn Ánh lên làm ‘Đại Nguyên Soái Nhiếp Quốc Chính’ là tiện đôi bề. Năm 1780, Nguyễn Ánh tự xưng là Nguyễn Vương. Từ đó Nguyễn Ánh trở thành người kế nghiệp các chúa Nguyễn một cách hợp pháp và không còn bất cứ sự tranh chấp nào nữa. 

Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Thực Lục Chánh Biên, Tập I, ngay sau khi chiếm được thành Phú Xuân vào năm 1801 thì Nguyễn Ánh đã ra lệnh triệt hạ và phá hủy toàn bộ ngôi mộ của vua Quang Trung với sắc chỉ có lời lẽ vô cùng khó nghe: “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ.” Sau đó, khi đã chiếm luôn Bắc Hà, ngày 1 tháng 12 năm 1802, Gia Long ra lệnh đem tù binh hoàng gia Tây Sơn làm lễ trình diện trước bàn thờ tổ tiên và Thái Miếu, nơi thờ 9 vị chúa Nguyễn. Sau lễ, Gia Long ra lệnh đem hài cốt Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ thì đem nghiền nát rồi trộn vào thuốc súng bắn đi trước mặt con cháu nhà Tây Sơn. Trong khi đó thì xương sọ của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, cùng bài vị của hai vợ chồng Nguyễn Huệ thì Gia Long ra lệnh đem giam ở Ngoại Đồ Gia, tức võ khố của triều đình Huế. Và chính Gia Long đã sai gia nhân mỗi ngày đem sọ của hai vị Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đang bị giam trong ngục ra cho ông làm bô đi tiểu. Sau đó, Gia Long lại sai Nguyễn văn Khiêm là Đô Thống Chế Dinh Túc Trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham Tri Hình Bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản, tức vua Cảnh Thịnh và em là Nguyễn Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, rồi cho 5 voi xé xác. Cũng theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Thực Lục Chánh Biên, Tập I, trong bản bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 tháng 11 năm Nhâm Tuất, trong đó có đoạn Gia Long nói: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu...Nhạc Huệ thì trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân.”

Dầu trong lúc còn chiến tranh giữa các chúa Nguyễn và Tây Sơn, năm 1777, nhà Tây Sơn đã bắt giết Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, chú ruột của Nguyễn Ánh, Tân Chánh Vương Nguyễn Phúc Dương, em chú bác ruột với Nguyễn Ánh, và Nguyễn Phúc Đồng là anh ruột của Nguyễn Ánh. Đến năm 1783, Tây Sơn lại giết chết hai người em của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển. Dẫu biết luật nhân quả tự nhiên có vay thì có trả, nhưng khi Nguyễn Ánh lên ngôi, ít nhất ông ta phải tỏ ra là một ông vua rộng lượng. Nếu ông ta nghĩ rằng vì trong cơn tranh chấp hỗn loạn mà những người thân của ông phải chết, bây giờ khắp nơi đã yên ổn, nếu ông làm lễ tổ chức cầu siêu cho những người này và xin họ ân xá cho những ai đã gây nên tội lỗi thì hay biết mấy. Đằng này, khi đã lên ngôi hoàng đế như Gia Long mà lại có hành động trả thù trả oán trái với đạo lý cổ truyền của dân tộc, nghiền nát xương cốt của địch thủ rồi trộn với thuốc súng bắn đi ngay trước mặt con cháu của họ, thì đây quả là hành động của một kẻ vô đạo, chứ không phải là của một bậc chánh vì vương. Làm như vậy mà Gia Long vẫn chưa đã nư, chưa cho là đủ, vị vua thái tổ của triều Nguyễn còn ra lệnh đào mồ cuốc mả hết thảy dòng họ Tây Sơn và tất cả những ai đã từng theo giúp Tây Sơn. Riêng những người trong hoàng tộc Tây Sơn, Gia Long ra lệnh chém tất cả. Sau đó nhà vua lại ra chiếu chỉ tru di tam tộc nhà Tây Sơn và phát lệnh truy nã họ Nguyễn Tây Sơn trên khắp các miền đất nước. Ngoài ra, Gia Long còn ra lệnh giết tất cả bà con gần xa của dòng họ Nguyễn Tây Sơn cũng như của những tướng tá đã từng theo trợ giúp Tây Sơn. Đã vậy, hết đời Gia Long sang đến đời Minh Mạng, sự trả thù trả oán này vẫn chưa hết. Hai người con của Nguyễn Nhạc là Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Văn Lương cùng những cháu đích tôn là Nguyễn Bảo chạy về nương náu trên vùng núi ở Mộ Điểu, thuộc vùng An Khê. Mặc dầu Gia Long biết chuyện, nhưng không dám động đến người miến núi, vì sợ họ nổi loạn. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12, năm 1832, vì thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới dắt nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Nhưng có người mật báo về triều đình Huế, Minh Mạng sai quân đến bắt giải về Phú Xuân rồi đem giết hết cả ba. Người viết tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam này đã cố hết sức để tự đặt mình trong hoàn cảnh của Nguyễn Ánh, nhưng cũng không thể hiểu nổi được hành động trả thù trả oán hết sức tàn bạo này của ông ta.

Phải thành thật mà nói, trong lịch sử Việt Nam, có một ông vua mang tiếng là tàn bạo, đó là vua Lê Long Đỉnh, đem mía róc trên đầu những nhà sư, nhưng đó chỉ là một hai lần rồi đình thần khuyên can, nên chuyện đó không còn xảy ra nữa. Riêng đối với nhà Nguyễn Gia Long, thì cả một triều đại đều có sự trả thù nhà Tây Sơn giống nhau, sự trả thù cha truyền con nối. Nếu không gọi là sự tàn bạo và vô đạo của dòng họ thì phải gọi bằng gì đây? Truyền thống muôn đời của dân tộc, đánh nhau là đánh chứ không có sự trả thù, dầu cho đó là kẻ thù đã từng giết hại lương dân của mình, như chuyện các vua Trần đã đối xử với tù binh Nguyên Mông, và chuyện vua Quang Trung đã nhân đạo với tù binh nhà Mãn Thanh.

Là một con dân hậu bối của những người đi mở cõi về phương Nam, người viết luôn mang nặng trong lòng ơn sâu nghĩa nặng của chín chúa nhà Nguyễn, bởi vì hạt cơm mình đang ăn, miếng đất mình đang ở và sự an cư lạc nghiệp mà mình đang có, đâu đâu cũng bàng bạc công ơn của các chúa. Nhưng đối với hoàng đế Quang Trung, những người con dân đất phương Nam cũng không nên quên rằng không có ngài, rất có thể giờ này cả đất nước này đã là một quận huyện của Tàu cũng không chừng; hoặc giả cả vùng đất phương Nam ngày nay đã trở thành những tỉnh thành của Thái Lan chưa ai biết được. Chính vì vậy, chưa nói đến việc phê phán của lịch sử, con dân đất phương Nam rất khó xử đối với việc suy nghĩ xấu về hai dòng họ Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Long, vì cả hai đều là ân nhân của vùng đất này.

                                                                                     ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn