Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000089
Số lượt truy cập
14705685
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2020-01-07 10:48:46

 

Phần Bốn

 Dòng Họ Nguyễn Và Vùng Đất Phương Nam

 

CHƯƠNG CHÍN

Hào Kiệt Đất Phương Nam

Thời Nguyễn Sơ

 1) Xá Xai Ty Mai Bá Hương

Mai Bá Hương, gốc người miền Trung, nội tổ di cư vào Nam và định cư tại vùng Tân An(1). Vào đầu thế kỷ thứ XVIII, ông gia nhập quân triều đình của xứ Đàng Trong và làm quan tới chức Xá Xai Ty cho trấn Phiên An, ở trong đội vận chuyển quân lương. Năm 1705, vua Cao Miên là Nặc Ông Yêm bị em là Nặc Ông Thâm đưa quân Xiêm La về soán ngôi. Ông Yêm chạy xuống Gia Định và xin cầu viện với chúa Nguyễn của xứ Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Chu (ở ngôi chúa từ năm 1691 đến năm 1725) bèn sai Cai Cơ Nguyễn Cửu Vân đem quân tiếp cứu, và sai quan Xá Xai Ty Mai Bá Hương áp tải thuyền lương theo sau yểm trợ. Tuy nhiên, khi đoàn thuyền chở quân lương vừa tới Vàm Bao Ngược(2), nay là sông Cần Giuộc, chuẩn bị rẽ vào Rạch Lá thì bị giặc đón đường tính đánh chiếm quân lương. Mai Bá Hương ra lệnh cho đoàn quân lương chạy tránh qua sông Vũng Gù (là tên của sông Vàm Cỏ Tây ở đoạn này), nhưng vừa đến chỗ gặp nhau của hai sông Vàm Cỏ, lại bị giặc đuổi thei sát bên. Ông quyết không để cho quân lương rơi vào tay giặc, bèn sai lính đục thuyền cho toàn bộ các thuyền lương chìm theo dòng nước và chính ông cũng chết tại đó.

Sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu được tin, truy phong cho ông làm “Thần Tử Nghĩa”, rồi sai quan quân địa phương lập đền thờ Mai Bá Hương trên khúc sông này. Để tưởng nhớ đến một bậc hào kiệt đất phương Nam đã hết lòng vì nghĩa cả, nên dân chúng địa phương đã đặt tên cho khúc sông này là sông “Xá Hương”. Ngày nay dấu vết ngôi đền thờ hãy còn tại chỗ Miễu Bần Quỳ. Đó là một trong những ngôi đền cổ xưa nhất ở vùng đất phương Nam. Theo các vị bô lão địa phương, họ nói cha ông họ đã kể lại rằng từ hồi có ngôi miếu Bần Quỳ đến nay, khúc sông này về đêm thường nổi sóng dầu không có gió. Một lần khi cụ Phan Thanh Giản từ Huế về thăm nhà, đi ngang qua khúc sông này, thấy ngôi miếu, nên hỏi lai lịch và sau khi biết rõ vị thần được thờ trong đền là quan Xá Xai Ty Mai Bá Hương, cụ Phan bèn ra lệnh cho ghe mình ghé lại và thắp nhang kỉnh lễ quan Xá Xai. Sau đó cụ Phan đã làm hai câu đối rồi sai quan địa phương dán vào đền thờ. Đại ý 2 câu đối của cụ Phan như sau:

“Nghĩa báo trời Nam, gò thượng từng nêu cao khí tiết, Thù căm Tây giặc(3) sông Tiền hay dậy sóng hờn.” (Nghĩa báo Nam thiên, cương thường bồi cao tiết; Khí hiềm Tây tặc, giang tiền khởi nộ phong ba). Nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác đã dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

“Thờ vua hết dạ thẳng ngay,

Gò cao tiết nghĩa càng ngày càng cao.

Hiềm xưa hận cũ tuôn dào,

Dòng sông sóng giận áo ào chưa nguôi.”

Tương truyền kể từ đó, sóng thần mà người dân tại khúc sông Xá Hương tin là sự căm tức của vong linh của quan Xá Xai Ty Mai Bá Hương cũng dần dần yên lặng. Đầu năm 1984, tại Bataan, Phi Luật Tân, lúc tác giả của tập sách Hào Kiệt Đất Phương Nam có dịp sống chung với anh Hứa Hoành, một đồng hương Vĩnh Long, có kể lại rất nhiều chuyện linh ứng về Miễu Cây Bần Quỳ, nhưng rất tiếc thời gian cũng đã quá lâu, nên tác giả chỉ còn nhớ đại khái về những cơn sóng thần và Bối Ba Cụm(4) trên khúc sông Xá Hương mà thôi. Khoảng năm 1905 hay 1906 gì đó, nhà thơ Thương Tân Thị Phan Quốc Quang, dịch giả quyển “Nam Kỳ Lục Tỉnh Địa Dư Chí” của Duy Minh Thị, có làm bài thơ vịnh quan Xá Xai Ty Mai Bá Hương như sau:

“Hỏi thử nhà ta giống Lạc Hồng? Gần đây, ai chết được như ông? Chở lương bị giặc ngăn đường nước, Đục ván cho thuyền chìm đáy sông. Muốn để tiếng thơm về cửa phụng, Nên gieo mạng bạc xuống cung rồng. Xá Hương miếu cũ, còn nguyên đó, Chỉ khác bia danh với tượng đồng!”

  

Ghi Chú:

(1)          Mai Bá Hương sanh trưởng tại làng Tân Hương, nay là Cái Quao, tỉnh Trà Vinh. Ông là một trong những trang liệt nghĩa can cường và dũng cảm nhất thời Nguyễn Sơ. Được Nguyễn Ánh giao cho giữ chức Xá Lại. Một lần ông phụng mệnh quản đốc một đoàn quân lương về Gia Định cho Nguyễn Ánh, nhưng khi đoàn quân lương vừa tới Bình Ninh, cách vàm sông Nhật Tảo chừng 4, 5 cây số thì bị nghĩa binh Tây Sơn bao vây tứ phía. Ông không chịu đầu hàng và giao nạp lương thực, mà còn ra lệnh cho đụt chìm hết ghe thuyền vận tải và tự vận theo đoàn thuyền.

(2)          Vàm Bao Ngược, tức là Vàm Rạch Lá chảy ra sông Cần Giuộc, trong tỉnh Long An. Trước thời phát triển giao thông đường bộ, hầu như giao thông đường thủy là phương tiện duy nhất được tận dụng để vận chuyển quân lương. Chính vì vậy mà từ khoảng thế kỷ thứ XVII đến đầu thế kỷ thứ XX, tại vùng đất phương Nam, tứ miền Tây lên Gia Định, ghe thương hồ hay ghe vận chuyển nào cũng đều phải theo ngã kinh Chợ Gạo, qua sông Vàm Cỏ, thuộc quận Tân Trụ, tỉnh Tân An. Đến xã Nhật Thanh, có một ngôi miếu nằm sát bên một cây bần lùn thật to, có lẽ cây bần này bị sóng đánh lâu ngày nên bị ngả xuống, rồi lại vươn lên, hình dáng giống như một người đang quỳ gối, nên dân chúng trong vùng đặt tên là “Miếu Bần Quỳ”.

 

(3)          Tây giặc ở đây ám chỉ liên quân Xiêm La và quân của vị vua soán ngôi của Cao Miên là Nặc Ông Thâm.

(4)          Hồi trước khi con đường quốc lộ từ miền Tây lên Sài Gòn chưa được hoàn thiện, hàng hóa và hành khách từ miền Tây lên hay từ Sài Gòn về đều phải nhờ vào đường thủy. Lúc đó các ghe thương hồ qua lại dập dìu trên các sông Tân An, Bến Lức, Chợ Đệm, rồi tới Ba Cụm. Vì vậy, thời đó các ghe thương hồ từ miền Tây lên Sài Gòn ai ai cũng đều nghe danh “Bối Ba Cụm”. Bối là tiếng lóng của vùng đất phương Nam thời cha ông mình còn đi mở cõi về đây, có nghĩa là trộm cướp hay trấn lột. Ba Cụm là chỗ giáp nước, nghĩa là chỗ hai dòng nước sông Chợ Đệm và sông Bến Lức giáp nhau, nên nước chảy rất chậm, vì thế mà có ba cụm bần mọc um tùm ở ngay giữa sông, làm bóng mát dừng chân đậu lại nghỉ ngơi cho các ghe thương hồ. Chờ con nước xuôi mới tiếp tục chèo lên đường. Hồi trước Ba Cụm thuộc xã Tân Nhật, huyện Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, bây giờ thuộc tỉnh Tân An. Về sau này, để tránh bị trấn lột, người ta phải tính làm sao khi vừa tới Ba Cụm thì nước đứng (nghĩa là không chảy về hướng nào cả), để từ đó họ có thể đi tiếp con nước kế mà không phải dừng lại nghỉ tại Ba Cụm.

                                                                                               ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn