Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000153
Số lượt truy cập
13823591
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2019-12-17 10:29:07

 

CHƯƠNG TÁM

 
Gia Định Xử Sĩ Sùng Đức
Võ Trường Toản(?-1792)
 
Không có tài liệu ghi lại về năm sinh của cụ Võ Trường Toản (?-1792), chỉ biết cụ là con cháu của nhóm cựu thần nhà Minh, không chịu thần phục nhà Thanh, nên dong buồm xuôi Nam tìm sinh lộ. Có lẽ tổ tiên của cụ không theo chân quan Tổng Binh Trần Thượng Xuyên hay Dương Ngạn Địch, nên không vào cư trú tại vùng Đồng Nai Mỹ Tho, mà đến lập nghiệp tại vùng Quảng Điền, nay thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Đến thời chiến tranh Trịnh Nguyễn đến hồi gay cấn thì gia đình nội tổ của cụ lại đi vào vùng Bình Dương, thuộc dinh Phiên Trấn. Cụ sanh ra tại thôn Hòa Hưng, huyện Bình Dương, ngày nay là đường Lê văn Duyệt nối dài về hướng Thủ Đức. Có người cho rằng cụ chào đời tại miền Trung ở vùng Thanh Kệ, hạt Quảng Đức, rồi mới theo gia đình dời cư vào Gia Định.
Ngay từ nhỏ, cụ đã tỏ ra thông minh, học sâu hiểu rộng, và ý chí thanh cao. Gặp lúc vùng đất phương Nam đang trải qua cơn binh lửa triền miên giữa Chúa Nguyễn và nghĩa binh Tây Sơn, nên lánh về quê ở Bình Dương ẩn mình. Cụ là một ba75c thâm nho, học rộng và làu thông kinh điển Tứ Thư Ngũ Kinh. Phải nói cụ là bậc thầy của hầu hết các danh sĩ Nam Kỳ hồi giữa thế kỷ thứ mười tám. Học trò của cụ rất nhiều, đa số đều hiển đạt hay trở thành khai quốc công thần dưới thời Gia Long. Trong số đó, nổi bật nhất là phải kể đến các ông Ngô Tùng Châu, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Trình Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn, Vương Hữu Quang, vân vân. Bên cạnh đó, chẳng những những bậc thành danh về sau này, dầu không phaỉ là đệ tử của cụ Võ, như các cụ Phan Thanh Giản và Nguyễn Đình Chiểu đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ cụ đồ Xử Sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản, mà những thế hệ về sau này đều chịu ảnh hưởng nơi cái học phong sĩ khí của cụ Võ.
Khi Nguyễn Ánh còn chạy trốn nghĩa quân Tây Sơn ở miền Nam, đã nhiều lần gặp cụ và mời cụ ra làm quan, nhưng cụ đều tìm cách từ chối. Tuy nhiên, cụ đã đóng góp rất nhiều ý kiến chẳng những giúp cho Nguyễn Ánh thoát nạn nhiều lần, mà còn giúp cho nhà chúa những thượng sách vỗ về dân chúng miền Nam. Chính vì vậy mà Nguyễn Ánh và triều thần của ông trong Gia Định thời bấy giờ xem cụ như là một vị Quốc Sư. Thật tình mà nói, cái học của cụ đồ Xử Sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản đạt đến mức tinh vi thượng thừa. Không biết cụ đồ thời đó có làu thông kinh Phật hay không, nhưng tất cả những lời dạy của cụ đều bàng bạc tánh “sắc tức thị không, không tức thị sắc” của nhà Phật, khi cụ nói một câu tuy thấy khó hiểu mà không khó hiểu: “Toàn bộ sách Đại Học gồm tất cả một ngàn bảy trăm chữ với vô số việc trong đó. Nhưng nếu thâu lại cho gọn thì chỉ còn hai trăm chữ. Nếu thâu lại cho đúng thì hai trăm chữ thâu lại nữa chỉ còn một chữ. Và nấu thâu ngắn chữ ấy laị thì toàn bộ sách Đại Học của thánh hiền không còn chữ nào cả!” Bất cứ ai có hiểu biết chút ít về “Tánh Không” của nhà Phật đều hiểu ngay ý của cụ đồ Xử Sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản. Cụ khuyên đệ tử Nho học của mình nên học cho thấu triệt hết tư tưởng của Thánh nhân, nhưng không nên câu chấp hay thuộc lòng từng chữ một. Đó là cách mà cụ dạy đệ tử mình “Tri Ngôn Dưỡng Khí.”
Ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý, 1792, cụ qua đời và được an táng tại vùng Hòa Hưng, trong thành Gia Định, thuộc địa phận Sài Gòn ngày nay. Sau khi cụ qua đời, Nguyễn Ánh đã truy tặng cụ thụy hiệu “Gia Định Xử Sĩ Sùng Đức Võ Tiên Sinh” với đôi câu đối:
“Triều hữu huân danh, bán thuộc Hà phần(1) cựu học, Đẩu nam phong giáo, tề khâm Nhạc lộc(2) dư uy.” (Triều có tôi hiền mở nước, nửa do nhà học Hà phần
Ngài đem khuôn phép dạy người, sáng dội môn trường Nhạc Lộc). Cụ Võ Trường Toản có một người con gái, nhưng đã qua đời trước cụ, nên tất cả môn đệ của cụ thương cụ như cha. Về sau này khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, các môn đệ của cụ trong Lục Bộ thời đó cũng đưa ra đôi câu liễn phúng điếu thầy mình như sau:
“Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử; Một hậu tính danh tại thế, tuy vong giả bất vong.”
(Sống dạy dỗ lắm nên người, con không mà vẫn có; Chết họ tên lưu thế, chết đi mà danh tiếng mãi còn).
Đến năm Tân Hợi, 1851, vua Tự Đức sai lập đền thờ cụ trên nền nhà cũ của cụ ở thôn Hòa Hưng. Đến năm 1865, sau khi người Pháp chiếm thành Gia Định, họ đã cho san bằng khu vực quanh đồn Kỳ Hòa, nên đền thờ của cụ cũng bị họ san bằng. Rất may, lúc đó nhiều môn đệ của cụ, trong đó có ông Phan Thanh Giản, đã đứng lên hô hào di dời phần mộ của cụ về lập đền thờ tại thôn Bảo Thạnh, huyện Bảo An, ngày nay thuộc quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Các môn sinh của cụ, lúc bấy giờ đa số đều đã đỗ đạt, làm quan to trong triều, nghĩ đến công ơn của thầy, góp tiền của lại để lập đền thờ và mua đất ruộng rồi giao cho những người trong dòng họ của cụ quản thủ(3), lấy lúa ruộng làm huê lợi sung vào việc cúng tế hàng năm. Sở dĩ có sự cải táng này là vì đa số những môn đệ của cụ đều là bậc anh hùng hào kiệt hoặc giả là quan chức đương triều, hoặc giả là những hào kiệt yêu nước và chống Tây kịch liệt. Nhất là cụ Phan Thanh Giản, cụ không bao giờ muốn để cho ngôi mộ của một bực thầy của mình nằm trong vùng địch chiếm đóng. Đối với họ, dầu chỉ là một ngôi mộ, nhưng cụ đồ Xử Sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản lúc nào cũng là biểu tượng của tiết tháo Khổng Mạnh, biểu trưng của đức độ quân tử Á Đông. Chính vì vậy mà họ không muốn ngôi mộ ấy nằm trong vùng địch giây phút nào cả. Và mãi đến ngày hôm nay, ngôi mộ của cụ luôn được từ thế hệ này đến thế hệ khác chăm sóc rất kỹ lưỡng, vì hầu như tất cả những sĩ phu và hào kiệt đất phương Nam đều tôn xưng cụ như một bậc Thầy.
Khi cải táng phần mộ cụ đồ Võ Trường Toản, quan Đốc Học tỉnh Vĩnh Long là Nguyễn Thông đã đứng ra thay mặt cho các nho sĩ đương thời, đứng làm chủ lễ lúc cải táng tại Kiến Hòa. Tất cả các quan chức thành Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên đều mặc tang phục khi đến dự lễ. Và chính quan Kinh Lược Ba Tỉnh Miền Tây thời đó là cụ Phan Thanh Giản đã thảo một văn bia(4), ca ngợi công đức và sĩ khí của cụ Võ. Nhưng khi văn bia chưa khắc xong, thì vận nước lại đến hồi điên đảo hơn, ba tỉnh miền Tây lại rơi vào tay giặc Pháp và cụ Phan lại tuẫn tiết theo thành, nên việc điêu khắc văn bia bị đình trệ. Mãi đến năm 1872, ông Trương Ngọc Lang mới tiếp tục mướn thợ điêu khắc và hoàn tất văn bia do cụ Phan đề tác. Như vậy, tính từ ngày cụ Võ Trường Toản mất, đến ngày văn bia được dựng lên là 81 năm.
Không biết bình sanh sở học của cụ Võ Trường Toản thế nào mà lại được ngưỡng vọng đến như vậy? Ngày nay chỉ còn lưu truyền lại một bài phú “Hoài Cổ” của cụ. Tuy nhiên, nội dung của nó lại chứa chan lai láng đạo nghĩa thâm trầm:
“Rỡ rỡ cú ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo;
Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời. Cho hay vực thẳm nên cồn; khá biết gò cao hóa bể.
Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy mươi năm; Đò tạo hóa đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.
Nhấp nháy ngọn đèn trong kiếng, lênh đênh bóng nguyệt giòng sông. Đường Ngu ấp tổn rượu ba chung, dường say dường tỉnh;
Thanh Võ chinh tru cờ một cuộc, thoạt đặng thoạt thua.
Của có không nào khác khóm mây, người tan hiệp dường như bọt nước. Lánh non thú cam bề ngạ tử, hai con Cô trúc đã về đâu?
Luyện linh đan lo chước trường sinh, bốn lão Thương san đà bặt dấu! Mộng tàn nửa gối, bướm Trang Chu giấc hỡi mơ màng;
Xuân lụn mấy canh, quyên Thục Đế tiếng còn khấp khởi. Tha thiết bấy! một gò hoàng nhưỡng, ngọc lấp hương chôn; Áo não thay! mấy cụm bạch vân, mưa sầu gió thảm.
Ngựa trên ải một may một rủi; hươu dưới Tần bên có bên không. Hán Võ ngọc đường, người ngọc nọ xưa đà theo gió;
Thạch Sùng kim cốc, của tiền xưa nay đã lấp sương. Lao xao cõi trần ai, trường hoan lạc gẫm không mấy lúc; Thắm thoát cơn mộng ảo, đoạn biệt ly há dễ bao lâu.
Nghìn năm hồn phách Hán anh hùng, hồn phách mất người kia cũng mất; Muôn dặm nước non Đường thổ võ, nước non còn đời ấy đâu còn.
Thương hỡi thương! huyền quản cung Tần, chim làm tổ tiếng kêu vẳng vẳng; Tiếc ỷ tiếc! u quan đời Tấn, biển nên cồn cỏ mọc xanh xanh.
Cung Tùy xưa chim nói líu lo, mấy độ xuân về hoa sái lụy; 
Đài Ngô trước hươu nằm ngả ngớn, đổi ngàn sương ngọn cỏ đeo sầu. Ô giang đêm thẳm hé trăng mành, quạnh quẽ vó chùng họ Hạng; Cai hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu.
Đài vắng Nghiêm Lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết; Thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken mù.
Cho hay dời đổi ấy lẽ thường, mới biết thảo ngay là nghĩa cả. Lụy rơi non Lịch, Đại Thuấn từng dời tính hai thân;
Sương lọt áo bô, Tử Khiên lại trọn niềm một thảo.
Tôn khóc măng, Tường nằm giá, nằn nằn lo giữ đạo con; Tích dấu quýt, Cự chôn con, nắm nắm đua đền nghĩa mẹ.
Trước đền trụ mổ gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia;
Dưới thành Ngô treo mắt đôi tròng, nghìn năm hãy người đều nhởm gáy. Tám trăm dặm xông pha ải bắc, thương họ Hàn chói chói lòng đan; Mười chín thu giữ một niềm tây, cám ông Võ phơ phơ đầu bạc.
Cật Võ mục nhuộm thanh bốn chữ, tấm trung thành đã thấu trời xanh; Áo Thiên trường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đỏ. Trời mỏn đất già danh hỡi rạng, lụy non Ngưu nghĩ cũng sụt sùi;
Biển khô đá rã tiết nào phai, sử họ Mã chép còn tỏ rõ.”
Mặc dầu trong bài phú “Hoài Cổ” Xử Sĩ Sùng Đức Tiên Sinh Võ Trường Toản dùng nhiều điển tích, nhưng nhờ đó, ngoài biết được tấm lòng của cụ qua bài phú, cụ còn cho người con dân đất phương Nam biết được nhiều điều, nhất là lý do tạ sao cụ Võ không ra phò Nguyễn Ánh. Nếu chúng ta suy gẫm cái câu “Đường Ngu ấp ổn rượu ba chung, dường say dường tỉnh” thì chúng ta sẽ thấy cụ muốn nhắn nhủ gì với Nguyễn Ánh. Ý cụ muốn nói là ngày trước vua Đường Nghiêu nhường thiên hạ cho ngu Thuấn, thiên hạ xưng tụng là đời ấp tổn. Trong khi vua Thành Thang đánh đuổi vua Kiệt nhà Hạ, dựng lên nhà Thương, vua Võ vương đánh đuổi vua Trụ nhà Thương để dựng lên nhà Chu, có khác gì “Của có không nào khác khóm mây, người tan hiệp dường như bọt nước.” Và trong câu “Lánh non thú cam bề ngạ tử, hai con Cô trúc đã về đâu?”, cụ Võ muốn gửi gắm lòng mình vào chuyện hai người con của vua Cô Trúc là Bá Di và Thúc Tề, can ngăn Võ vương đừng đánh vua Trụ không được, bèn bỏ lên ẩn ở núi Thú Dương đến chết đói, chứ không ăn rau thóc nhà Chu. Cụ Võ quả thật là một kẻ sĩ đúng nghĩa, lo cho đàn hậu bối cho chữ có nghĩa vì nước vì dân, nhưng lại không màng lộc nước lộc dân. Thật là một tấm gương cao cả đáng cho hàng hậu bối chúng ta trân trọng!
                                                     ( Còn tiếp)
 
Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn