Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000073
Số lượt truy cập
10726102
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2019-10-16 02:42:36

 

15) Trương Đăng Quế

Trương Đăng Quế hiệu là Quảng Khê, một trong những danh thần triều Nguyễn dưới các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Theo Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, được ghi lại trong Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Tập II, Quyển 21 và 22(1), Trương Đăng Quế gốc người huyện Thạch Hà thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1622, năm thứ mười đời Hy Tông(2), chúa Nguyễn Phúc Nguyên, ông tổ sáu đời của Trương Đăng Quế đã ứng nghĩa di cư vào Nam, làm quan được phong đến chức Nham Lĩnh Bá, nhân cơ hội đó làm nhà ở đất Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Nhiều đời kế tiếp sau đó cũng đều làm quan. Tuy nhiên, cha ông là Trương Đăng Trác lại ra làm Tri Phủ cho nhà Tây Sơn. Trương Đăng Quế là con thứ trong gia đình, từ nhỏ đã rất thông minh, văn hay chữ đẹp.

Năm 1819, ông đậu Hương Tiến, và trở thành bậc khoa giáp đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi. Tuy con đường hoạn lộ có lắm thăng trầm, nhưng Trương Đăng Quế là một vị quan thanh liêm chánh trực, luôn được vua tin cậy và các bạn đồng liêu kính nể. Năm 1820, tức Minh Mạng năm thứ nhất, ông được sung chức Đông Cung Bạn Độc, rồi thăng lần lên đến Binh Bộ Thượng Thư, sung Cơ Mật Viện Đại Thần. Về sau lại được vua Minh Mạng gia hàm Thái Tử Thiếu Bảo. Đến năm Minh Mạng thứ 16, 1835, sau cuộc nổi dậy của Lê văn Khôi (1832-1835), vua Minh Mạng cử ông làm quan Kinh Lược Đại Thần Nam Kỳ Lục Tỉnh. Ông vào Nam khám đo, chỉnh sửa biên ranh đất đai, làm thành sổ sách điền thổ của Nam Kỳ Lục Tỉnh. Đồng thời, ông cũng chia đặt cửa ải và bến đò để thu thuế, nên từ đó số tiền thu thuế tăng lên rất nhiều. Năm 1837, ông lãnh chức Thanh Hóa Kinh Lược Đại Thần, dẹp yên giặc giã xong lại được chuyển về chức cũ. Sau đó được phong tước Tuy Thạnh Nam. Đến năm 1839, ông được phong làm Tuy Thịnh Nam, kiêm giữ ấn triện của Bộ Lễ. Sau đó ông được thăng chức Hiệp Biện Đại Học Sĩ, lãnh Binh Bộ Thượng Thư như trước.

Năm 1841, được sung chức Phụ Chính Đại Thần. Đến khi vua Thiệu Trị lên ngôi, xét công trạng và thăng cho chức Thự Văn Minh Điện Đại Học Sĩ, gia hàm Thái Bảo, quản lý Binh Bộ, kiêm Cơ Mật Viện, kiêm Tổng Tài Quốc Sử Quán, tấn phong tước Tuy Thạnh Tử. Trong suốt thời gian vua Thiệu Trị tại vị, ông hết lòng phò tá nhà vua, trù hoạch công việc của quốc gia hết sức đắc lực. Vì công trạng quá lớn trong việc định loạn khiến cho đất Trấn Tây Thành được yên ổn, nên tên ông được khắc vào Bảo Pháo(3). Đến tháng 9 năm Đinh Mùi, 1847, lại vâng di chiếu làm Cố mệnh lương thần sung Phụ Chánh.

Năm Tự Đức nguyên niên, 1847, ông được thăng hàm Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, tước Quận Công. Đến năm 1849, khi triều đình bắt đầu đặt Viện Tập Hiền, Trương Đăng Quế được sung làm Kinh Diên Giảng Quan. Một hôm, khi đã giảng xong, vua Tự Đức truyền cho ông ở lại chiếu giảng, cho uống trà và bàn luận đạo trị nước của cổ kim. Như trên đã nói, Trương Đăng Quế là một vị quan thanh liêm chính trực, chính ông đã thẳng thắn tâu với vua Tự Đức xin nghiêm trị ngay cả bọn quan lại tham ô(4). Trương Đăng Quế là một trong những vị quan đại thần triều Nguyễn có lòng yêu nước nồng nàn, nên khi đồn Kỳ Hòa ở Gia Định và thành Mỹ Tho thất thủ, trong triều có nhiều người dâng sớ xin giảng hòa với Pháp, riêng ông cương quyết chủ trương việc đánh Pháp đến cùng để giữ lấy vùng đất phương Nam. Ông nổi tiếng là một vị quan thanh liêm chánh trực. Tương truyền khi hưu trí, vua Tự Đức ban cho vàng bạc, ông không nhận, mà lui về sống trong cảnh thanh bạch trong căn nhà tranh của thời hàn vi. Đến khi ông mất, được vua Tự Đức truy tặng hàm Thái Sư, tước Tuy Thạnh Quận Công, thụy là Văn Lương. Ông rất giỏi về văn thơ, và là bạn tâm giao với Nguyễn Công Trứ. Hiện còn truyền lại bộ “Quảng Khê Thi Tập” còn gọi là “Học Văn Dư Tập”, gồm 4 quyển bằng Hán văn. Trương Đăng Quế còn là thầy dạy học của vua Thiệu Trị và các ông Hoàng khác như Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương(5). Ông cũng là nhạc gia của Tuy Lý Vương. Những người con của ông sau này đều thành đạt: Trương Quang Trụ trở thành phò mã với tước Hầu; Trương Quang Đản làm quan đến chức Đông Các Đại Học Sĩ; và Trương Quang Để thọ hàm Binh Bộ Tham Tri.

 

Ghi Chú:

(1)          Bộ Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên, Tập II, đã dành hẳn 2 quyển 21 và 22 để viết về công nghiệp của Trương Đăng Quế. Tuy nhiên, chỉ có một số đoạn trong quyển 21 là viết về những việc liên quan đến thành Gia Định nói chung và Vĩnh Long nói riêng.

(2)          Miếu hiệu nhà Nguyễn truy tôn chúa Nguyễn Phúc Nguyên, 1613-1635, viết đầy đủ là Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế.

(3)          Loại súng thần công quí của triều đình. 

(4)          Theo Đại Nam Liệt Truyện Chánh Biên, Tập II, Quyển 21 và 22, năm 1849, Trương Đăng Quế gặp phải một chuyện rắc rối nho nhỏ do vụ mất trộm ở nhà công chúa An Nghĩa, công chúa con thứ mười của vua Gia Long. Tên thật là Nguyễn thị Ngọc Ngôn, sinh năm Giáp Tý, 1804, mất năm Bính Thìn 1856. Năm 1823, vua Minh Mạng gả công chúa An Nghĩa cho Lê Văn An, con của Lê Văn Phong, mà Lê Văn Phong là người được hưởng quyền thừa tự của Lê Văn Duyệt. Năm 1835, vì vụ Lê Văn Khôi mà Lê Văn An bị xử tử. Trong cảnh sống đã éo le như vậy mà công chúa An Nghĩa còn bị bọn quan lại làm khó dễ đủ điều. Lúc ấy Trương Đăng Quế đang làm Kinh Diên Giảng Quan, sau một buổi giảng, vua Tự Đức cho vời Đăng Quế ở lại để hỏi chuyện về việc mất trộm ở nhà của công chúa An Nghĩa. Số là viên quan phủ của phủ Thừa Thiên đã chỉ tên và hặc tội của viên quan làm việc ở Nội Các là Nguyễn Tấn, cho rằng Tấn đã thông đồng với kẻ trộm, đồng thời nói rằng Quản Vệ Lê Mậu Hạnh tuy biết rõ kẻ trộm nhưng không chịu bắt để giải tới. Bộ Hình tra xét thấy có nhiều chỗ chưa rõ nên cũng có ý dung túng. Trương Đăng Quế tâu lên vua xin đem bọn Nguyễn Tấn cùng với Lê Mậu Hạnh cách chức để xét hỏi. Nhân đó, quan Phó Đô Sát Viện là Bùi Quỹ hặc tội Trương Đăng Quế, cho là Quế tự tiện chuyên quyền. Vua Tự Đức nói: “Trương Đăng Quế là bề tôi cố mệnh hai triều trước, một lòng giữ sự thẳng thắn của kẻ tôi trung, tâu lên trẫm việc ấy là do ý định trừ gian cấm ác mà ra. Bởi nhất thời suy nghĩ chưa chu đáo nên xem ra có vẻ nặng về ý riêng, chớ chuyên quyền tự tiện thì đâu đến nỗi, nói quá là không nên. Đại Thần Trương Đăng Quế là người thông thạo mọi việc, lẽ đâu lại có lòng dạ như vậy?” Xem xét xong, vua Tự Đức bèn giáng Bùi Quỹ xuống 2 cấp.

(5)          Những người này đều là con của vua Minh Mạng.

( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn