Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000096
Số lượt truy cập
14730856
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2019-10-10 03:53:46

 

13) Ngũ Hổ Tướng Tây Ninh

Và Tướng Huỳnh Công Giản

Huỳnh Công Giản sanh trưởng ở miền Trung, lớn lên gia nhập vào quân đội của các chúa Nguyễn. Không thấy chính sử ghi chép gì về ông, nhưng theo tương truyền của dân chúng vùng Cẩm Giang, Bến Cầu và Thái Bình, thì vào khoảng năm 1846, khi giặc Cao Miên tung hoành cướp giựt và chém giết người Việt Nam ở Việt Nam, nhất là vùng phía Tây thành Gia Định, tức là vùng Tây Ninh ngày nay, triều đình Huế liền cử ba anh em họ Huỳnh và hai người khác không rõ tên họ, mà người đương thời đều tôn xưng là “Ngũ Hổ Tướng Tây Ninh(1)”. Năm vị tướng này đã cùng nhau chỉ huy binh mã đi vào vùng phía Tây thành Gia Định dẹp loạn. Người anh lớn là ông Huỳnh Công Giản được triều đình bổ làm tri phủ Tây Ninh. Tưởng cũng nên nhắc lại, sau khi toàn bộ vùng đất phương Nam đã được xứ Đàng Trong thiết lập bộ máy hành chánh ổn định, thì những vùng biên giới, nhất là vùng đất Tây Ninh vào thế kỷ thứ XVII hãy còn là vùng đất rất hoang vu, chỉ sống rải rác đó đây một số người Việt và một ít sóc Miên. Tuy nhiên, lúc đó Cao Miên lại thân với Xiêm La, nên họ không thích sống chung đụng với người Việt. Do đó mà thời đó tại vùng đất này liên tục xảy ra những cuộc nổi dậy của người Miên. Họ nổi lên chống chính quyền làng xã Việt Nam và thẳng tay tàn sát những người dân đi khai hoang lập ấp tại đó. Trong cuộc tiến quân đánh chiếm vùng đất này của vua Cao Miên là Nặc Ông Chân, triều đình Huế cũng phải vất vã lắm mới dẹp yên được. Lúc Nặc Ông Chân kéo quân sang Tây Ninh, nhà vua Cao Miên đã cho xây phủ để đóng quân tại vùng Thanh Điền, gần ngọn Rạch Tây Ninh ngày nay, dân chúng địa phương hiện tại vẫn quen gọi chỗ này là “Phủ Cũ”.

Khi loạn Cao Miên nổi lên cướp phá làng xóm, không riêng gì triều đình Huế cử năm vị tướng vào đây đánh dẹp, mà hào kiệt khắp nơi trên vùng đất phương Nam đã cùng nhau kéo về đây trợ chiến để trừ gian diệt bạo. Lúc này quân binh của “Ngũ Hổ Tướng Tây Ninh” đang theo ngọn sông Sài Gòn kéo quân lên đóng tại ngã ba Rạch Sanh Đôi và Bà Chiêm, tục gọi là ngọn Cái Cùng, quân binh bắt đầu xây dựng đồn lũy tại đây để chống giặc. Tri phủ Huỳnh Công Giản chiếm cứ một cánh đồng bát ngát, tục gọi là đồng Trà Vông, thuộc xã Thái Bình. Ông ra lệng cho quân binh xây thành Trà Vông(2) rất kiên cố. Rồi sau đó, ông cử người em của mình là tướng Huỳnh Công Nghệ đến gần ngọn Rạch Sóc Om, và đóng đồn tại vùng Bến Thứ trong xã Hảo Đước. Trong khi đó thì người em út là tướng Huỳnh Công Thắng và 2 vị tướng khác không rõ họ tên được cử làm hậu quân cho hai đạo quân của ông và của tướng Huỳnh Công Nghệ. Vì quân số bên phía loạn quân Cao Miên rất đông, nên hai bên quân triều đình và loạn quân đánh nhau nhiều trận ác liệt. Bên phía quân triều đình, mặc dầu quân số ít hơn, nhưng dưới sự chỉ huy của tướng Huỳnh Công Giản, loạn quân Cao Miên bị tiêu diệt rất nhiều. Chiến sự trong vùng được lắng dịu một thời gian. Tuy nhiên, sau khi rút về đất Miên để bổ sung quân số, loạn quân Cao Miên lại bắt đầu kéo trở qua Tây Ninh để mở những cuộc tấn công ác liệt hơn trước. Một buổi sáng nọ, loạn quân Cao Miên dùng chiến thuật biển người tấn công ào ạt vào đồn Trà Vông. Dầu bị một số đông loạn quân tấn công bất ngờ và áp đảo, nhưng quân số trong đồn Trà Vông vẫn chống trả mãnh liệt. Tri phủ Huỳnh Công Giản ra lệnh cho quân đồn trú đánh hỏa công, bằng cách nấu dầu con rái cho sôi lên rồi dùng ống thụt ra, khiến loạn quân Miên bị phỏng, và lớp lớp ngã nhào dưới chân đồn Trà Vông. Tuy nhiên, vì quân Miên quá đông, hết lớp này ngã xuống, lớp khác tiến lên, nên cuối cùng loạn quân đã tràn ngập vào đồn, đánh cận chiến với quân triều. Loạn quân Cao Miên ngaỳ càng kéo tới một đông, biết mình thế cô, nên quan tri phủ Huỳnh Công Giản ra lệnh cho các bộ tướng rút lui ra ngoài đồn để hợp sức với viện binh của tướng Huỳnh Công Nghệ đang trên đường đi tới tiếp cứu, còn mình và một ít bộ tướng ở lại trong thành tiếp tục cận chiến với loạn quân. Với đường kiếm tuyệt chiêu của mình, ông đã triệt hạ hàng hàng lớp lớp những tên giặc đang đánh cận chiến với mình. Nhưng rồi mãnh hổ nan địch quần hồ, ông thấy không ổn, nên quyết định “thành mất thì tướng phải mất theo”. Ông vung gươm tử chiến một lần nữa, rồi gom tàn lực quay gươm trở lại tự cắt đầu mình tuẫn tiết chứ không để cho quân Miên bắt sống.

Khi tri phủ Huỳnh Công Giản vừa ngã xuống, quân Miên cũng vừa tràn ngập vào đồn Trà Vông. Lúc đó, quân binh của tướng Huỳnh Công Nghệ cũng vừa kéo tới, phối hợp với cánh quân mà anh mình đã cho rút ra từ trước để bao vây đồn Trà Vông. Loạn quân Cao Miên không ước tính trước việc này, nên toàn bộ loạn quân đều bị vây kín, nội bất khả xuất, ngoại bất khả nhập(3). Vòng vây của tướng Huỳnh Công Nghệ ngày càng xiết chặt hơn khi có thêm quân binh của Huỳnh Công Thắng và hai tướng khác kéo đến, nên quân Miên trong đồn dầu đông cũng không đánh ra được. Lúc này thì loạn quân Cao Miên trong đã thấm mệt, lại thêm đói khát vì không có tiếp tế lương thực. Đợi cho chúng gần như rã rượi, tướng Huỳnh Công Nghệ bèn ra lệnh cho quân binh của mình tấn công vào đồn. Khi quân Việt tràn vào đồn với giáo gươm tua tủa, khí thế ngút trời, chém loạn quân như chém rạ, vì lúc đó chúng không còn sức kháng cự nữa, nên lớp chết lớp đầu hàng. Tất cả những bờ thành vào bờ hào quanh đồn đều nhuộm đỏ một màu máu giặc. Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ sau đó, không còn một bóng dáng giặc nào còn lại trong vùng. Những tên trong cứ địa của loạn quân hay tin đại bại, bèn mở đường máu chạy về Cao Miên để thoát thân.

Khi quan tri phủ Huỳnh Công Giản tuẫn tiết giữa vòng vây của giặc, được người em là Huỳnh Công Nghệ đem hài cốt đi mai táng, nhưng ngày nay người ta không biết chính xác địa điểm này. Rồi sau đó, lần lượt hai tướng Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng cũng chết theo vì hết lòng lo cho vùng đất Tây Ninh được thanh bình thạnh trị. Và từ sau trận đánh kinh thiên động địa này, quân Miên không còn dám xâm nhập hiếp đáp người Việt đi khẩn hoang nữa. Đối với dân chúng vùng Tây Ninh nói chung, vùng Thái Bình nói riêng, với họ cái chết của Quan Lớn Trà Vông Huỳnh Công Giản là cái chết hào hùng của một anh hùng mà hậu bối muôn đời còn tưởng nhớ. Ngày nay vẫn còn ngôi mộ của tướng Huỳnh Công Thắng(4) ở phía dưới chân thành Cẩm Giang cũ, gần chùa Quan Huế. Hiện tại, ngôi miếu thờ Quan Lớn Trà Vông rất lớn tại ấp Bình Trung. Dân ấp Mỏ Công, nằm giữa quốc lộ 22 nối liền biên giới Việt Miên, cũng lập miếu thờ ngài. Trong khi miếu thờ tướng Huỳnh Công Nghệ được dân chúng lập ở Vàm Bảo, Bến Cầu trong quận Hiếu Thiện, nhưng mộ thì không ai biết ở đâu. Nói chung, dân chúng vùng Tây Ninh tin rằng cả ba vị tướng họ Huỳnh sau khi chết đều hiển thần nên họ luôn sùng kính cho mãi đến ngày nay nơi nơi đều lập miếu thờ tướng Huỳnh Công Giản cùng Ngũ Hổ Tướng Tây Ninh. Sự hiển linh của Quan Lớn cho đến ngày hôm nay vẫn còn.

Trong một lần đi ngang qua ngôi miếu thờ quan lớn Trà Vông, tri phủ Huỳnh Công Giản, thấy khói hương luôn nghi ngút, nhà nho Nguyễn Ngọc Diệp đã cảm tác một bài thơ chữ Hán để tán dương khí phách của người anh hùng tuẫn tiết và hy sinh cho sự an bình của dân chúng trong vùng. Bài thơ được dân chúng quanh cổ miếu cho khắc trên bia trong cổ miếu, có nội dung như sau:

“Nhựt Tảo thanh quang chiếu võ đài, Tà dương ảm đạm nguyệt vô lai. Huỳnh hà thủy nhuận tư dân thái, Công Giản mao hương tế quốc nhai. Cổ miếu do đề danh tuấn kiệt,

Di thành bất hoại tiết anh tài. Tây Sơn ký tích diên niên tại, Trí mạng ư quân thọ thế hoài.”

Bài thơ được Hi Đạm dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

Nhựt Tảo cao đài chiếu ánh hồng,

Trà Vông rừng lạnh vắng trăng trong.

Huỳnh hà ngọn mát dân vừa dạ, 

Công Giản rau thơm nước đẹp lòng.

Miếu cổ vẫn ghi tài dõng lược,

Thành xưa còn nhắc tiết anh hùng.

Non Tây muôn thuở còn xanh đó,

Muôn thuở niềm trung rạng núi sông.

Ghi Chú:

(1)          Chánh sử nhà Nguyễn không thấy ghi lại có vị tri phủ nào ở Tây Ninh tên là Huỳnh Công Giản, nhưng trong dân chúng, mãi đến ngày nay vẫn còn đền thờ quan lớn Trà Vông, tức quan tri phủ Huỳnh Công Giản, cùng hai người em trai họ là Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng. Ba anh em họ Huỳnh đã cùng với hai vị tướng khác không rõ tên tuổi hợp quân lại để đánh dẹp loạn Cao Miên. Người dân Tây Ninh đương thời tôn xưng quí ngài là “Ngũ Hổ Tướng Tây Ninh”.

(2)          Lúc đó quan tri phủ Huỳnh Công Giản, còn gọi là Quan Lớn Trà Vông, được triều đình Huế bổ làm tri phủ, từ Huế vào Gia Định, rồi lại được bổ nhiệm lên trấn thủ Tây Ninh. Khi Huỳnh Công Giang kéo quân đến khu rừng bên bờ sông Vàm Cỏ Đông thì dừng lại rồi lệnh cho tướng Huỳnh Công Thắng và quân binh xây thành bên bờ sông, tục gọi là thành Cẩm Giang (vì cửa thành ngó ra trước bờ sông Vàm Cỏ Đông). Lúc đó, hai bên bờ sông Vàm Cỏ Đông đầy lục bình, nên người gọi đó là Cẩm Giang (con sông gấm).

(3)          Có nghĩa là bên trong không rút ra được, mà bên ngoài cũng không kéo vào tiếp trợ được.

(4)          Quốc Sử Quán Triều Nguyễn có ghi Huỳnh Công Thắng được cử đi dẹp loạn ờ phí Tây thành Gia Định, nhưng ngôi mộ dước chân thành Cẩm Giang cũ lại ghi tên là Trần Công Thắng.

                                                                              ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn