Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000111
Số lượt truy cập
14691042
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2019-04-24 11:05:30

Vùng Đồng Nai thuở chúa Nguyễn mới khởi đầu cuộc Nam tiến, đất rộng người thưa, lại là vùng đất du canh của người Phù Nam từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ sáu, rồi sau đó đến người Chân Lạp, nên đất đai vùng này đã tương đối là vùng “đất thuộc” nghĩa là đất đã được khai khẩn chứ không còn ủng phèn như ở miền Tây nữa.

Khi những người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên miền Tây nói riêng và cả Nam Kỳ nói chung, tuy lúc đó cha ông chúng ta chưa có kỹ thuật cao về khai khẩn và canh tác, nhưng chúng ta có óc tổ chức rất quy củ về chánh trị và quân sự, nên từng vùng rồi từng vùng lần lượt được sáp nhập vào Việt Nam và được tổ chức chu đáo từ thượng tầng đến hạ tầng bộ máy hành chánh và tổ chức phòng thủ rất chu đáo. Lúc ấy khi tiến đến đâu cha anh chúng ta có thể tự tổ chức những đơn vị thôn xã và có đủ khả năng chẳng những tự bảo vệ về mặt an ninh, mà còn có thể tự túc về mặt kinh tế nữa. Phải thật tình mà nói, những người đi tiền phong trong công cuộc khai mở đất đai về phương Nam chính là những lưu dân lao khổ, có khi họ sống quanh năm suốt tháng trên một chiếc ghe, họ dự trữ đủ lúa thóc cho đến mùa thu hoạch, cá mắm thì ê hề không làm gì cho hết, nhưng mối nguy hiểm hàng đầu vẫn là rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí và thú dữ luôn chực chờ tác hại. Bên cạnh đó, dù người Miên không đến nỗi tàn ác, nhưng mối quan ngại về an ninh hàng đầu của những người đi khẩn đất phương Nam vẫn là người Xiêm, người Xiêm bản tánh hiếu chiến và tàn ác, lại thêm quân đội của họ lúc đó rất hùng mạnh. Lại nữa, không riêng gì người Việt chúng ta muốn dòm ngó và tiến về vùng đất Thủy Chân Lạp, mà ngay cả người Xiêm họ cũng muốn thôn tính toàn bộ đất nước Lào và Chân Lạp, nên họ luôn xua quân đến đánh phá hai nước này, đặc biệt là vùng Thủy Chân Lạp mầu mỡ. Tuy nhiên, nhờ hồi ấy đường sá đã xa xôi mà chưa có phương tiện hiện đại như bây giờ, nên quân thủy bộ của Xiêm khi kéo được đến vùng Thủy Chân Lạp là đã thấm mệt nên ít khi làm được trò trống gì ở đây. Lịch sử đã minh chứng một cách hùng hồn, nước Việt Nam chúng ta chưa từng đem quân đánh Xiêm, chứ người Xiêm đã bao phen kéo quân sang đánh phá nước ta, dù mỗi lần đến chúng đều mang về thảm bại với tổn thất nặng nề. Trong thời cận đại, nhân dân Việt Nam chối bỏ chế độ Cộng Sản nên bỏ xứ ra đi, nhưng gần một phần ba số người ấy đã trở thành những nạn nhân đau thương của bọn hải tặc Thái Lan (con cháu của những người Xiêm xưa). Bi trường ca biển Thái không còn bút mực nào có thể tả lại nổi những cảnh hãm hiếp giết chóc người Việt Nam trên biển Đông của bọn hải tặc Thái Lan. Nợ này rồi đây sẽ có một ngày con cháu của dân tộc đó phải trả, và phải trả một cách tương xứng với những tội ác tày trời mà cha anh họ đã làm.

Thời kỳ Nam tiến, ngoài những nguy hiểm vừa kể trên, thì nạn vua chúa phong kiến cũng không phải là một nạn nhỏ đối với dân tộc Việt Nam (nói chung dân tộc nào chủng bị nạn phong kiến, nhưng phong kiến Việt Nam có phần tàn độc hơn phong kiến các xứ khác nhiều). Hồi đó, vua chúa phong kiến làm gì không thấy được những nỗi nhọc nhằn thống khổ của những người đi tiền phong, đáng lý ra khi thấy như vậy họ phải biết thương dân thương nước mà tạo điều kiện dễ dãi hơn cho những người cùng khổ ấy. Chính vì sống không nổi trên quê hương Thuận Quảng nên họ mới ra đi trong thập tử nhất sanh, đằng này tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, vào Nam khai khẩn chưa kịp thâu hoạch lúa thóc, thì bọn quan lại đã đến tới nơi định lượng số lúa phải đóng cho cấp trên. Tội nghiệp quá cho những người Việt Nam cùng khổ! Trong khi đó thì vua chúa ở triều đình tha hồ phung phí, sống một cuộc sống xa hoa, nào là xây cất cung điện, lăng tẩm, nào là ưu đãi người torng dòng tộc... họ làm đủ mọi cách để có tiền có vàng để tiếp tục cuộc sống xa hoa phung phí, và bỏ mặc cho đám dân nghèo. Cho tới nay, chưa có một cuộc nghiên cứu nào đi sâu nét sinh hoạt cùng khổ của lưu dân đi khẩn đất phương Nam với vô vàn khó khăn, trở ngại và khổ sở. Lưu dân vùng Thuận Quảng những tưởng di cư vào khai khẩn đất hoang, có cực có khổ vài ba năm rồi sẽ đỡ, nhưng tai trời ác nước chưa đủ nên họa người lại giáng thêm lên đầu những người cùng khổ này. Vừa ổn định đất đai chưa được bao lâu, thì nạn binh biến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, kéo dài từ những năm 1776 đến 1802, trong suốt 26 năm dài ấy, hễ nơi nào có dấu chân Nguyễn Ánh là nơi đó có binh biến. Vẫn chưa đủ, Nguyễn Ánh lại cõng thêm bầy rắn Xiêm về dày xéo mả tổ cha ông và gây thêm không biết bao nhiêu là điêu linh thống khổ cho dân tình. Chỉ trong vòng 26 năm binh biến của Nguyễn Ánh đã có đến hàng vạn vạn con người hy sinh cho quyến lợi của một dòng họ. Thật tình mà nói, những người tiền phong đi khai mở đất phương Nam phải chịu trăm cay ngàn đắng, không có bút mực nào có thể diễn tả cho hết được. Sau khi Nguyễn Ánh dứt được nhà Tây Sơn không bao lâu thì con dân Nam Kỳ nói riêng, và cả nước nói chung lại phải bị gông cùm hà khắc của bọn thực dân Tây trong suốt gần một thế kỷ. Hết nạn thực dân Tây lại đến cuộc nội chiến gần một phần tư thế kỷ, làm chết hàng triệu con người Việt Nam. Định mệnh thật cay nghiệt cho một dân tộc hiền hòa như dân tộc Việt Nam.

Miền Tây Nam Việt, đặc biệt là vùng sông Tiền và sông Hậu, vì đây là một vùng sông nước bao la, kinh rạch chằng chịt, nên thời ông cha ta mới đi khai khẩn đất hoang, chưa có đường giao thông trên bộ, phương tiện duy nhất của mọi người thời ấy là chiếc xuồng hay chiếc ghe. Trong buổi hồng hoang đi mở nước, hầu như nhà nào cũng có một trong hai thứ ấy, thậm chí có những gia đình chỉ sống trên chiếc ghe và tự do rong ruổi đó đây. Chính vì thế mà đa phần chợ búa đều được xây dựng ngay bên bờ sông, gần đầu cầu, hoặc bên này hoặc bên kia đầu cầu. Rất nhiều nơi người ta họp chợ ngay trên sông, gọi là “Chợ Nổi”. Từng đoàn ghe thương hồ neo lại tại bờ sông, ghe nào cũng dựng lên một cây sào cao khoảng sáu bảy thước, trên ngọn sào treo tất cả những sản phẩm mà người ta muốn bán, như rau cải, bắp cải, củ cải, khoai lang, cà rốt, cà tím, bí rợ, bí đao, bầu, mướp, cá khô, vân vân. Truyền thống “chợ nổi” được tiếp nối cho mãi đến hôm nay tại miền Tây Nam Việt, như ở Cái Bè (Mỹ Tho) có chợ nổi Tân Phong, ở Vĩnh Long có chợ nổi Bình Minh (Cái Dồn) và Trà Ôn, ở Cần Thơ có chợ nổi Cái Răng, Phong Điền và Phụng Hiệp, và ở Cà Mau có chợ nổi Cà Mau. Trong suốt chiều dài lịch sử khai khẩn miền Nam, phù sa sông Cửu Long đã hun đúc và tạo ra biết bao nhiêu lớp người của đồng bằng miền Nam trải qua hơn ba thế kỷ nay, từng lớp người đã được sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, đã đổ mồ hôi nước mắt và đem công sức mình ra trộn với phù sa của hai vùng Đồng Nai và Cửu Long, chẳng những biến vùng đất này thành một vùng trù phú thịnh vượng, mà còn là một vựa lúa cho toàn thể đất nước.

                                                                   ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn