Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000110
Số lượt truy cập
14690858
HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM( tiếp theo). -Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2019-03-14 10:05:15

Về sau, số người ở vùng cửa Xoài Rạp chịu không nổi vì thiếu nước ngọt nên rút dần lên những vùng đất giồng, khởi đầu là vùng Tân Hiệp (có lẽ là Giồng Trấn Định), rồi đến Thuộc Nhiêu, Cai Lậy, Cái Bè. Khi vùng Mỹ Tho đã ổn định xong thì quan sở tại vùng Gia Định muốn khuyến khích dân chúng các vùng Đồng Nai Biên Hòa tản về miền Tây tiếp tục khai khẩn những hoang địa mênh mông bên bờ sông Tiền Giang. Từ đó dân chúng từ các huyện Phước Long và Tân Bình (thuộc Gia Định cũ) mới đổ xô về khẩn hoang ở những vùng ven sông Vàm Cỏ (Vũng Gù, tỉnh lỵ cũ của Tân An). Để tiện việc thu góp lúa thuế, chúa Nguyễn cho thành lập những kho thâu thuế ở từng vùng, như vùng Trấn Biên có các kho Tân Thạnh, Cảnh Dương và Thiên Mụ, vùng Mỹ Tho có kho Tam Lịch, vùng Cao Lãnh có kho Bả Canh, Gia Định có kho Gian Thảo, vùng huyện Phước Long có kho Hoàng Lạp, và vùng biển cửa Đại và cửa Tiểu có hai kho có lẽ là hai kho Quy An và Quy Hóa.

Trong thời Nam tiến, khi người Việt tiến đến vùng Cai Lậy, Cái Bè, các chúa nguyễn thời ấy đã thấy được tầm quan trọng của hai nhánh sông Cửu Long (Tiền Giang và Hậu Giang), nên bằng mọi giá quan quân Nam phải khống chế trên hai thủy lộ quan trọng này. Chính vì vậy, mà mặc dù vùng Tầm Phong Long (Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc) vẫn còn trực thuộc Cao Miên, quân dân ta đã làm chủ vùng đất Hà Tiên, hồi ấy là một vùng đất bao la chạy dài từ Hà Tiên, xuống Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cần Thơ, bao bọc phía Tây Nam sông Hậu, còn vùng Mỹ Tho thì bao bọc phía Đông Bắc sông Tiền. Như vậy dù muốn hay không muốn, dù sớm hay dù muộn, Cao Miên bắt buộc cũng phải bỏ phần đất Tầm Phong Long vì vùng này nằm trọn giữa hai bờ sông Hậu và sông Tiền, từ Sa Đéc trở lên. Ban đầu thì dinh Long Hồ chỉ nằm bên tả ngạn sông Tiền Giang, nhưng về sau, vùng Gia Định quá bao la (chạy dài từ biển Đông đến tận biên giới Miên Việt, bao gồm các vùng bây giờ là Tây Ninh, Mộc Hóa, Cao Lãnh, một phần của tỉnh Hậu Nghĩa, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Gò Công, Mỹ Tho và Bến Tre) nên năm Nhâm Tý 1732, chúa Nguyễn cắt một phần của đất Gia Định lập ra châu Định Viễn, rồi dựng Dinh Long Hồ tại Cái Bè (bên hữu ngạn sông Tiền), vùng này đất đai phì nhiêu nên sinh hoạt của dân chúng trong vùng rất phồn thịnh, từ rạch Cái Thia, đến các cù lao lớn giữa sông Ba Lai, Hàm Luông, và Cổ Chiên. Tuy nhiên, bên kia bờ sông Tiền, tức là vùng Sa Đéc, Vĩnh Long và Trà Vinh bây giờ chỉ là những sóc Miên co cụm trên các giồng đất cao. Hồi này sông Tiền rất rộng vì chưa có hai cù lao Bảo và cù lao Minh. Về sau này khi Nguyễn Cư Trinh được cử vào Nam, ông mới xin dời dinh Long Hồ về đất Tầm Bào (tức là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Long hiện nay). Lúc này thì Dinh Long Hồ là một vùng đất bạt ngàn bao gồm cả hai con sông Tiền giang và Hậu giang. Mãi đến năm 1779, chúa Nguyễn cho dời thủ phủ của dinh Long Hồ đến cù lao Hoằng Trấn (chính vì thế mà cù lao Hoằng Trấn còn mang tên là Tân Dinh hay dinh mới dời về), nằm giữa Hậu Giang. Tuy nhiên, đến năm 1780 chúa lại cho dời dinh Long Hồ về chỗ cũ (Tầm Bào nay là thị xã Vĩnh Long), rồi cho đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh. Có thể nói vùng dinh Long Hồ là vùng chẳng những ôm trọn hai con sông Tiền và sông Hậu, mà nó còn là một vùng với kinh rạch chằng chịt nhứt so với các miền khác của đất nước, xứng danh là xứ của gạo trắng nước trong. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay, các tỉnh thành nằm giữa hai con sông này ít khi nào bị ngập lụt. Hơn nữa, đất cù lao đa phần là đất phù sa mới bồi sau này nên rất phì nhiêu màu mỡ, canh tác bất cứ thứ gì cũng cho ra năng suất rất cao, như ở những vùng cù lao Bảo, cù lao Minh bên sông Tiền; cù lao Dung, cù lao Trâu, cù lao Dài, cù lao Giêng bên sông Hậu... Đất đai miền Tây so với miền Đông thì tốt hơn nhiều, tuy nhiên, mỗi miền mỗi khác, nên cả hai vùng Đồng Nai và Cửu Long, vùng nào cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng không riêng cho miền Nam, mà cho cả nước. Ngày nay người Việt gốc Miên vẫn còn sống tập trung tại các vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Châu Đốc, và rải rác ở các vùng Măng Thít, Ba Kè, Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long. Trong khi Trần Thượng Xuyên lên vùng Đồng Nai và Phước Long thì Trần Thắng Tài khai khẩn vùng cù lao Phố. Sau đó con trai Trần Thắng Tài là Trần Định lại cưới con gái của Mạc Cửu, cho nên thế lực của người Hoa trong vùng này càng ngày càng lớn mạnh. Lúc đó thì ở Mỹ Tho, Dương Ngạn Địch bị Phó tướng là Hoàng Tấn giết chết, sau đó Hoàng Tấn bị người Việt trừng trị nên thế lực người Hoa ở vùng Mỹ Tho có phần suy yếu đi. Riêng tại vùng Hà Tiên thì dòng họ Mạc Cửu hết lòng trung thành với các chúa Nguyễn, nên được các chúa Nguyễn cho cha truyền con nối làm Trấn thủ Hà Tiên. Vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ 18 thì thế lực của các chúa Nguyễn đã suy yếu vì nạn phong kiến quan liêu và triều thần lộng quyền, nên từ năm 1776 cho mãi đến về sau này, nếu Nguyễn Ánh không dựa vào thế lực ngoại bang, thì chắc không thế nào giành giựt lại được giang sơn trong tay ấu chúa Tây Sơn. Trước năm 1776, thương cảng lớn nhất của miền Nam là cù lao Phố, nhưng khoảng những năm 1776 đến 1777, cù lao Phố bị tàn phá sau cuộc kịch chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, sau đó Tây Sơn dỡ lấy những phòng ốc và gạch đá đem về xây thành Qui Nhơn. Từ đó cù lao Phố suy sụp luôn. Sau năm 1778, nhóm người Hoa ở Bến Nghé theo về với Nguyễn Ánh đánh phá lại Tây Sơn, nhứt là sau cuộc phục binh ở 18 thôn Vườn Trầu quân của Nguyễn Nhạc bị tổn thất nặng nên Nguyễn Nhạc tức giận, quay qua giết hại người Hoa tại đây, có trên 10.000 người Hoa bị giết trong biến cố này, thây bị quăng xuống sông từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn. Tuy nhiên, nguyên nhân chính trong vụ bách hại người Hoa là do những vụ họ đầu cơ tích trữ và ép giá dân mình quá đáng, nên Tây Sơn cũng muốn nhân đó tiêu diệt bọn làm ăn phi pháp này. Trong suốt thời kỳ Gia Long chạy trốn Tây Sơn thì vùng Sài Gòn Gia Định được xem như là đất dụng võ của Nguyễn Ánh vì vùng này nằm cạnh sát kho lương thực thiên nhiên ở miền Tây. Nguyễn Ánh chỉ có một lợi thế duy nhất là dân ở vùng đất mới Nam Kỳ này hãy còn hoài vọng về các chúa Nguyễn, mà Nguyễn Ánh là một hậu duệ, nên họ hết lòng ủng hộ và theo phò Nguyễn Ánh, vì theo truyền thống “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” ngàn đời của dân tộc. Họ nghĩ rằng chính nhờ các chúa Nguyễn mà cuộc sống của họ được sung túc khá giả hơn lúc còn ở vùng Thuận Quảng. Còn quân Tây Sơn, dù có chánh nghĩa là nổi lên đánh đổ một vương triều thối nát, nhưng lại không được sự yểm trợ của dân chúng. Hơn nữa, để chặt đứt nguồn tiếp tế cho Nguyễn Ánh, quân Tây Sơn buộc phải phá hủy những hậu cần kiên cố tại các vùng cù lao Phố, chợ Bến Nghé, chợ Mỹ Tho, vân vân, thế là họ thất nhân tâm và không được dân chúng yểm trợ. Dù rất nhiều lần Nguyễn Ánh cõng giặc Xiêm về dày xéo mả tổ, chứ không riêng gì cái lần ở Rạch Gầm Xoài Múc. Lần nào thì Nguyễn Huệ và quân đội Tây Sơn phải cật lực đánh đuổi bọn chúng ra khỏi bờ cõi, rồi đến khi Lê Chiêu Thống cõng giặc Thanh về xâm lăng đất nước với sự trợ giúp lương thực của Nguyễn Ánh, quân nghĩa dũng Tây Sơn và Nguyễn Huệ lại phải cật lực đánh đuổi giặc phương Bắc... Sau đó Nguyễn Ánh lại gửi Hoàng tử Cảnh sang Pháp làm con tin để xin cầu cứu với Pháp hoàng, vân vân và vân vân, nhưng dân chúng vẫn che dấu và yểm trợ cho Nguyễn Ánh, để rồi khi lên được chiếc ngai vàng, Nguyễn Ánh đã xoay lưng ngoảnh mặt với miền Nam, ngài vơ vét tiền bạc để xây đắp cung điện và lăng tẩm ngoài Huế, còn trong Nam thì ngài bỏ cho sống chết mặc bây. Thành trì cũ kỹ được xây đắp thời ngài còn chạy trốn quân Tây Sơn, do một số quan Tây dưới trướng của ngài chỉ huy xây dựng, chẳng hạn như thành Sài Gòn do tên Oliver de Puymanel vẽ kiểu và trông coi việc xây cất đặc biệt là tên quan Changeau, khi hưu trí đem hết vợ con về Pháp, đã làm một tờ tường trình cặn kẽ cho Pháp hoàng những gì xảy ra ở Việt Nam trong suốt thời gian y đi lính và làm quan cho Việt Nam. Hậu quả là chỉ hơn nửa thế kỷ sau ngày Nguyễn Ánh lên ngôi, đất nước và dân tộc Việt Nam nằm trọn trong vòng tay nghiệt ngã của những người bạn Tây của ngài. 

                                                          ( Còn tiếp)

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn