Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000320
Số lượt truy cập
15516348
BÊN LỀ GIẤC MỘNG. -Hà Nguyên-
Ngày đăng: 2013-09-14 09:23:42

 

BÊN LỀ GIẤC MỘNG

Tạp bút nhiều kỳ của Hà Nguyên

Tôi là dân Vĩnh Long chính gốc, nhưng tuổi thơ và thời niên thiếu lại gắn liền với miền Đông đất đỏ và Sài Gòn, nơi mà ngày xưa vùng đất này được người ta gán cho cái biệt danh mỹ miều là “hòn ngọc Viễn Đông”. Do công việc của cha tôi, nên những địa danh:  Dĩ An, Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Chơn Thành, Lai Khê, Dầu Tiếng, Trảng Sụp, Bù Đăng, Lộc Ninh, Hớn Quản… gia đình tôi đều có đến sinh sống. Có nơi, chúng tôi chỉ lưu trú chừng vài ba tháng, nhưng cũng có nơi gia đình chúng tôi “đóng đô” đến một, hai năm. Mãi đến năm 1964, để tiện việc học hành cho các con, mẹ tôi mới quyết định mua nhà ở hẳn tại Sài Gòn, mặc cho cha tôi rày đây mai đó!

Chợ Lớn năm 1950.

 Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định hồi xưa rất nhỏ, nhỏ hơn bây giờ nhiều lắm! Ở Sài Gòn, mãi đến năm 1970, khu Ngã tư Bảy Hiền, chợ Tân Bình hãy còn rừng cao su. Tôi còn nhớ, ngày ấy, bến xe lục tỉnh (tức bến xe đi về miền Tây) còn nằm ở góc đường Trần Hưng Đạo-Nguyễn Cư Trinh, gần khu vực thành Ô Ma. Sau đó, mới dời ra chỗ hảng thuốc lá Mic đường Pétrusky (bây giờ là Lê Hồng Phong). Và tới khoảng năm 1973, nó mới dời hẳn ra Xa cảng miền Tây cho đến tận bây giờ! Thời đó, xe lam và xe buýt chưa “nhập cảng” vào miền Nam, nên phương tiện đi lại đều bằng xe thổ mộ. Đối với bọn trẻ chúng tôi, việc được leo lên ngồi trên chiếc xe do người xà ích tay cầm cái roi mây, điều khiển con ngựa chạy lọc cọc trên đường, sau đít nó có cái mo cau túm lại để hứng phân là một trong những điều sung sướng nhất trần gian!

Mẹ tôi xuất thân là gái quê, ít học nên không vào được các hảng xưởng làm “thầy chú” như người ta, mà phải sống lam lũ  bằng nghề buôn bán. Hàng ngày, mẹ tôi đi xe lô (tên thời đó gọi xe đò liên tỉnh) lên tận chợ trời biên giới Gò Dầu Hạ thuộc tỉnh Tây Ninh, cách Sài Gòn khoảng chín mươi cây số mua ly, tách, chén kiểu đem về bán sỉ. Sáng sáng, mẹ tôi đeo xe lô lên biên giới, giao năm chị em chúng tôi cho một người anh bà con, là cháu họ của mẹ tôi quản lý. Anh tên là Đồng, lớn hơn tôi chín tuổi. Anh là con nhà nghèo, nên tía má anh cho anh “ở đợ” trong nhà tôi. Thế nhưng, vì là cháu của mẹ tôi, nên mẹ tôi rất tin tưởng anh, giao cho anh quyền hành lúc mẹ tôi đi vắng. Nhớ có lần, tôi theo anh về Vĩnh Long thăm ông, bà Ngoại. Bận lên, hai Ngoại gởi quà quê cho gia đình tôi, anh Đồng sợ bỏ quên nên viết mấy chữ vào mảnh giấy rồi nhét vô túi áo: “Đồng đem hai buồn chúi (buồng chuối), Đồng xách túi đi long (ni lông)”.

Mỗi chiều, khi nghe tiếng của mẹ tôi vọng từ đàng xa: “Đồng ơi, ra phụ khiêng đồ vô cho cô Tư” (Tư là thứ của mẹ tôi) là chúng tôi mừng húm, tất thảy đều chạy ào ra mừng mẹ. Mấy chị em chúng tôi chạy lăng xăng lít xít bên mẹ, đứa vịn mấy cái cần xé trống trơn, đứa kéo lê bội tre còn dính rơm trong đó có mấy chùm trái rừng hoang dại. Hồi đó, làm gì có những thứ trái được nhập khẩu từ nước ngoài như bây giờ, còn xoài, cam, quít, vú sữa, sầu riêng thì tới mùa mới có. Tôi hãy còn nhớ, hầu hết các thứ trái rừng của miền Đông hầu hết đều có vị chua ái, hoặc chát chát, chua chua. Trái sim có hình dáng tương tự như trái bơ ngày nay, màu nâu sẫm. Sim là thứ trái đã được thi sĩ Hữu Loan  vinh danh trong bài thơ “Màu tím hoa sim”:

                                  Màu tím hoa sim

                                                            Những đồi hoa sim biền biệt…

Hay soạn giả Kiên Giang đã mượn mấy câu thơ điệu Hò giã gạo của dân Bình Trị Thiên để cho nhân vật của mình là sơn nữ Phà Ca ngâm trong tuồng cải lương “Người vợ không bao giờ cưới”:

             Đói lòng ăn nửa trái sim

             Uống lưng bát nước đi tìm người thương

             Người thương ở tận non xanh

             Bậu về quê bậu biết mô mà tìm…

Trái bứa có rất nhiều loại. Riêng loại bứa ở rừng miền Đông có hình dáng tương tự như trái cà tomato, khi chín có màu vàng cam, trong ruột có múi giống như trái măng cụt. Có người nhầm lẫn cho rằng trái bứa này là trái sấu miền Nam. Không phải! Theo kinh nghiệm của tôi, hai loại trái này khác nhau. Trái sấu Nam Bộ chính là trái thanh trà, loại trái hiện giờ cứ tới mùa (khoảng Tết Đoan ngọ) người ta treo bán lủng lẳng dưới chân cầu Cần Thơ phía Bình Minh.

Riêng trái thanh trà ở miền Đông là tên của một loại bưởi có trái nhỏ cỡ trái ổi, nên còn có tên là bưởi ổi, ăn rất ngon, là đặc sản của vùng Cù lao Phố, Biên Hòa.

Trái trường có bề ngoài tương tự như trái chôm chôm, nhưng nhỏ hơn nhiều. Nó cũng có hột ở chính giữa như chôm chôm, nhưng không tróc như chôm chôm.

Trái gùi có hình dáng và màu sắc cũng tương tự như trái sim nhưng nhỏ hơn. Vỏ trái có nhiều mủ màu trắng giống như mủ vú sữa, dễ dính vào miệng nếu ăn không khéo. Tôi còn nhớ hồi nhỏ -tôi là người có trí nhớ thuộc hàng siêu-, cách nay khoảng năm mươi năm, nhật trình có đăng một tai nạn thương tâm: một thiếu phụ ở chợ Thủ Dầu Một tên là Trương Thị Nhành chở chén tô đi buôn chuyến lên miệt Hớn Quản, lượt về bị xe lửa chẹt chết, trên tay vẫn còn cầm một xâu gùi. Sau này, tôi có nghe nghệ sĩ Ngọc Ẩn (nghệ sĩ này cũng là người hát bài “Hận Đồ Bàn”) ca bài vọng cổ “Trái gùi Bến Cát” với lời ca có nội dung dựa theo câu chuyện thương tâm đó:

           Mẹ đi chợ chớ ở lâu

           Bận về mẹ nhớ mua xâu trái gùi

           Con chờ xe lửa kéo còi

           Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi…

Trái mây, xa long, nhung có hình dáng nhỏ, cỡ như trái nho tím của Việt Nam. Trong ba loại trái này, trái xa long ăn ngon nhất.

                                                                                                                 (Còn tiếp)

        @Đăng tin-Vĩnh-

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Chị Hà Nguyên, nhờ đọc bài nầy em mới biết địa danh cũ của Sài Gòn và biết một phần về chị. Chị viết truyện ngắn vào năm nào, tự chị viết hay có học cách sáng tác từ tiền bối nào không? Em hy vọng chị sẽ biết, và cũng hy vọng được trao đổi nhiều với chị.

Bạn Hải Vương, Cuộc đời của Hà Nguyên là sự kết hợp đủ thứ "ba chìm, bảy nổi, chín cái lênh đênh". Mình dự định sẽ viết tự truyện đăng nhiều kỳ trên TPH.71. Từ từ, mình sẽ kể cho các bạn nghe. Mến.

Hà Nguyên viết bài hay, lời văn mộc mạc, giản dị nên người đọc cảm thấy gần gũi và như thấy mình trong đó.

Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn