Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000011
Số lượt truy cập
7124640
VỀ MIỀN TÂY( tiếp theo).-Người Long Hồ-
Ngày đăng: 2017-12-09 06:26:29

Trước năm 1945, Định Tường gồm 8 quận: Bến Tranh, Chợ Gạo, Giáo Đức, Gò Công, Hòa Đồng, Khiêm Ích (Cai Lậy), Long Định (Châu Thành), và Sùng Hiếu (Cái Bè). Sau 1945 thì 2 quận Hòa Đồng và Gò Công tách ra làm tỉnh Gò Công. Từ năm 1954 đến 1975, chánh quyền VNCH vẫn giữ tỉnh Định Tường như cũ, tuy nhiên, dân trong vùng vẫn quen gọi bằng tỉnh Mỹ Tho. Vùng Mỹ Tho là một trong những vùng phong phú nhứt của Nam Kỳ Lục Tỉnh nhờ được bao bọc bởi nhiều sông rạch. Định Tường không có rừng núi nên không có lâm sản và khoáng sản. Định Tường nằm trọn giữa hai con sông Tiền Giang và Ba Lai, được phù sa sông Cửu Long bồi đắp nên đất đai phì nhiêu, cây cối xanh tươi quanh năm. Định Tường có nhiều cù lao: An Hóa (bây giờ thuộc Bến Tre), cù lao Rồng (ngang Châu Thành Mỹ Tho tại bến đò Tân Thạch), Thới Sơn (Sầm Giang), và cù lao Năm Thôn (Cai Lậy). Ngoài những cù lao trên, Định Tường còn có cồn Qui (Giáo Đức). Sông Tiền Giang chảy vào Định Tường ở khúc cù lao Rồng rộng tới 3 cây số. Lưu lượng sông Cửu Long rất lớn và nước sông chảy mạnh, nhất là vào mùa nước lớn, tuy nhiên, Định Tường ít khi bị ngập lụt vì có nhiều sông rạch và gần biển nên nước rút rất nhanh. Định Tường có 8 con rạch lớn: rạch Cái Thia ở Giáo Đức với ba nhánh là Cái Cối, Cái Thia và Mỹ Thiện, rạch Trà Lốt ở Phong Hòa Cái Bè, rạch Cái Bè có 2 nhánh là nhánh Tây chảy qua Phong Hòa (Cái bè) và nhánh Đông chảy qua Lợi Thuận (Cái Bè), hai nhánh này gặp nhau tại chợ Cái Bè. Rạch Ba Rài chảy qua Cai Lậy và Sùng Hiếu (Cái Bè). Rạch Trà Tân trong tổng Lợi Hòa (Cai Lậy). Rạch Gầm chảy qua Long Định. Rạch Bảo Định chảy qua Bến Tranh, rạch này chảy thông với hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Vì kinh rạch chằng chịt nên ngoài quốc lộ 4 và các trục giao thông khác, đa số dân Định Tường di chuyển bằng đường sông rạch. Định Tường còn là nơi xuất phát rất nhiều nhân vật lịch sử, nhứt là trong thời Nguyễn Ánh giành giựt giang sơn với nhà Tây Sơn. Vào khoảng năm 1770 khi chúa Nguyễn phúc Thuần bị quân Tây Sơn rượt đuổi, đến Ba Giồng thì được quân Đông Sơn của Đỗ thành Nhơn, Võ Tánh và Châu văn Tiếp theo phò trợ. Đỗ thành Nhơn là người có công lớn trong việc giành giựt lại đất Nam Kỳ, tuy nhiên, về sau này cũng bị Nguyễn Ánh nghi ngờ mà giết đi vào năm 1781. Chính thái độ ích kỷ hẹp hòi này của Nguyễn Ánh, chưa đặng chim đã nghe lời sàm nịnh mà bẽ ná, nên hai thuộc hạ của Đỗ thành Nhơn là Võ Nhàn và Đỗ Bảng đã kịch chiến với quân của Nguyễn Ánh, gây ra không biết bao nhiêu là điêu linh tang tóc cho nhân dân vùng Ba Giồng và Định Tường. Hiện còn ngôi mã của Đỗ thành Nhơn ở Phú Lâm (ngay sau quốc lộ 4). Ngoài Đỗ thành Nhơn, phải kể Lê văn Duyệt cũng là một khai quốc công thần của Nguyễn Ánh. Lê văn Duyệt là người gốc Quảng Ngãi, sau nội tổ di cư vào Rạch Gầm (Sầm Giang). Ông sanh ra và lớn lên tại đây. Năm 1780, trên đường bôn tẩu trốn tránh quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã gặp Lê văn Duyệt, từ đó Lê văn Duyệt một lòng theo phò Nguyễn Ánh và có công lớn trong việc giành giựt lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn. Năm 1802, ông được phong làm Khâm sai Tả quân, tước Quận công, cùng Lê Chất cất quân đánh Bắc Thành. Năm 1813, vua Gia Long phái ông làm Tổng trấn Gia Định thành, trông coi toàn bộ miền Nam. Tại đây ông đã dẹp trừ giặc “Phụng Ba Đuôi” và mọi “Vách Đá” đem lại an lạc thái bình một thuở cho nhân dân miền Nam. Sau khi ông mất năm 1832, vua Minh Mạng vốn đã không ưa, vì chính Lê văn Duyệt đã đề nghị vua Gia Long phong cho dòng chánh (con của hoàng tử Cảnh) lên làm vua, nhưng vua lại phong cho hoàng tử Đảm là con của dòng thứ lên kế vị. Năm 1833, Minh Mạng sai người vào Nam cùng Bố chánh Bạch xuân Nguyên điều tra quá trình cai trị đất Nam kỳ của Lê văn Duyệt. Kết quả là Lê văn Duyệt bị kết tội và lăng mộ bị xiềng xích. Thấy điều bất công, nhóm võ quan tâm phúc của Lê văn Duyệt là Hoành và Trấn cùng người con nuôi của ông là Lê văn Khôi đã nổi lên giết Bạch xuân Nguyên và chiếm thành Gia Định. Hai bên kịch chiến cả 2 năm trời, đến năm 1835, Lê văn Khôi bị bệnh chết, triều đình mới dẹp xong. Thế mới thấy cái hẹp hòi, ích kỷ và gian trá của cha con Nguyễn Ánh, cha vì nghi kỵ mà giết khai quốc công thần, đến con cũng vì hiềm khích mà thẳng tay trừng trị người đã có công giành giựt lại giang sơn cho cha mình, dù người ấy đã chết. Ngoài ra, đất Định Tường còn là quê hương của “Bảo Hộ Lân” (Hồ văn Lân). Ông đã từng theo chân Nguyễn Ánh và Đỗ thành Nhơn đánh dẹp đó đây. Đức độ và tài năng của ông đã được người Chân Lạp thời bấy giờ mến phục. Một võ tướng khác cũng quê ở Định Tường là ông Nguyễn văn Hiếu, không rõ sanh năm nào, theo Võ Tánh khởi binh tại Gò Công năm 1785. Năm 1802, ông được phong chức Phó Tướng Hữu Quân, đóng tại Bình Định. Năm 1808, thăng Lưu thủ Bình Định, sau đó được bổ đi làm trấn thủ Nam Định, rồi án trấn Thanh Hóa, trấn thủ Nghệ An, rồi Kinh lược đại thần, Tổng đốc Hà Ninh, cuối cùng là chức Tả quân Đô thống. Ông mất năm 70 tuổi. Một nhân vật khác của Định Tường cũng có công rất lớn với đất nước, đó là Lãnh binh Huỳnh khắc Hơn. Lúc Pháp vừa chiếm xong 3 tỉnh miền Đông, thì tại Mỹ Tho Lãnh binh Huỳnh khắc Hơn đã đứng lên chống Pháp và gây điêu đứng cho giặc trong mấy năm liền. Về sau ông thất trận và bị bắt. Pháp cố gắng chiêu dụ ông ra làm quan nhưng ông nhứt quyết chối từ. Ngoài ra, nhân dân vùng Ba Lai vẫn còn nhắc nhở đến ông Đặng văn Lượng, người Định Tường, là một khai quốc công thần thời Nguyễn Ánh. Ông Trương văn Hoàng, quê tại Cai Lậy cũng theo phò tá Nguyễn Ánh và chết trận năm 1799. Chưởng cơ Lê văn Thụy, người đã tòng quân với Nguyễn Ánh, làm tượng quân cai đội, rất dũng cảm, nhưng so với danh tiếng của Đỗ thành Nhơn, Võ Tánh, Châu văn Tiếp hay Nguyễn Huỳnh Đức thì ông bị lu mờ. Mãi đến đời Minh Mạng, khi vua phái ông đi đánh dẹp giặc Xiêm, người ta mới thấy được tài thao lược của ông. Ông được vua Minh Mạng phong làm Chưởng Cơ. Trong hàng ngũ tướng lãnh của Nguyễn Ánh, phải kể Lê văn Quân, công lao chẳng kém chi Lê văn Duyệt, Võ di Nguy hay Trương tấn Bửu. Trong thời kháng Pháp, ngoài Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, phải kể thêm Nguyễn tấn Kiều, Âu dương Lân và Nguyễn văn Cẩn cũng là những người đã một thời làm cho giặc Pháp điêu đứng tại vùng Đồng Tháp Mười. Ngoài ra, xứ Định Tường còn sản sinh ra các vị khoa bảng cựu trào như Phan Hiển Đạt, người quận Long Định, đậu Tiến sĩ đệ nhị dưới thời Tự Đức. Hiện vẫn còn ngôi mộ của cụ xây bằng đá ong tại Long Định. Trong khi đó tại Sầm Giang cũng có Học Lạc (Nguyễn văn Lạc), văn hay chữ giỏi không thua cụ Nguyễn đình Chiểu, nhưng không ra thi mà chỉ lui về dạy chữ nho và hốt thuốc bắc cứu dân độ thế mà thôi. Hiện tại thơ văn của Học Lạc còn lưu lại rất nhiều. Bên cạnh những nhà nho khí khái như Bùi hữu Nghĩa, Phan văn Trị, Nguyễn hữu Huân, Phan văn Trị, Định Tường còn sản sinh ra cụ cử Thạnh (Nguyễn văn Thạnh), lúc đương thời ai cũng kính phục. Cụ đỗ cử nhân dưới triều Tự Đức, nhưng gặp cơn quốc phá gia vong, cụ lênh đênh trên các kinh rạch miền Nam và cụ mất năm 1915 trong niềm u uất cho dân tộc. Tại Mỹ Tho cũng còn rất nhiều di tích lịch sử như Đại Thạch Bia ở quận Bến Tranh, bia được vua Gia Long cho xây dựng để tưởng niệm những khai quốc công thần trong vùng này như Nham tinh Hầu, Bửu thiện Hầu (người đã có công đào kinh Bảo Định), Lý vân Hầu, An toàn Hầu (Trịnh Hoài Đức) và Dực quận công. Tại tỉnh lỵ Mỹ Tho còn có đàn Xã Tắc và đàn Tiến Nông được xây vào thời Minh Mạng. Miếu Thành Hoàng tại huyện Kiến Hưng thờ ông Mai Bá Hương, được các vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị phong thần. Miếu thờ thần Bão Tố tại vàm cái Bè. Hiện nay tại xã Hưng Mỹ Thạnh, quận Long Định hãy còn một pho tượng Phật cổ bằng đá, nghe nói do một nông dân đã đào dược dưới thời vua Lê Hiển Tông (khoảng năm 1772). Tại xã Tân Hiệp, quận Bến Tranh có một cái ao tên là Tha La Tân Quý Tây. Tại đây hồi trước là một gò đất cao mà các quan đàng cựu dùng làm trường đua ngựa. Sau khi Pháp chiếm Nam kỳ, chúng bắt dân lấy đất từ cái gò này để đắp đường rầy xe lửa Đông Dương, vì lấy đất quá sâu nên nơi đây biến thành một cái ao thật lớn mà đến bây giờ vẫn còn. Tại xã Mỹ Đông, quận Cai Lậy có miếu Trinh Nữ. Tương truyền tại làng Mỹ Đông có một thiếu nữ tên Nguyễn thị Liệu, cùng cha đi buôn, đến Kompong Chàm, bị giặc Miên bắt, cô quyết giữ trinh tiết, nên đập đầu vô đá mà chết. Hồn về báo mộng cho quan trấn Châu Đốc, quan đệ sớ về kinh tâu rõ sự tình. Triều đình khen tặng và ban cho một tấm biển khen ngợi xã Mỹ Đông, tổng Mỹ Lợi, tỉnh Định Tường. Dân chúng trong vùng ngưỡng mộ và lập miếu thờ. Ngoài ra, Định Tường còn có các ngôi mã quan đàng cựu rãi rác khắp nơi trong tỉnh. Tại Mỹ Đức Tây, Giáo Đức có mộ quan chưởng cơ Nguyễn văn Kỳ. Tại làng Mỹ Tịnh An, quận Bến Tranh, có hai ngộ mộ của quan trấn thủ Phạm tấn Kinh và án sát Phạm hoàng Đạt, đã theo phò tá Gia Long trong thời tẩu quốc. Tại quận Cai Lậy có ngôi mộ “Bốn Ông” (ông Thân, ông Rồng, ông Đước và ông Long), từ là thủ lãnh của nhóm nghĩa binh kháng Pháp dưới quyền chỉ huy của ông Thân. Tại làng Long Hưng, quận Long Định lại có ngôi mộ với kiến trúc chạm trỗ đặc sắc, mà các bô lão trong làng cho đây mới chính là ngôi mộ thật của tả quân Lê văn Duyệt, còn tại gia định chỉ là đền thờ mà thôi, nhưng về sau người ta cứ quen gọi là Lăng Ông. Ngoài ra, Định Tường cũng có rất nhiều ngôi chùa cổ như chùa Long Tuyền tại quận Long Định, chùa Linh Phong ở thôn Tân Hiệp (chợ cũ Điều Hòa), chùa Bửu Lâm trên 150 năm, cũng ở Tân Hiệp (chợ cũ Điều Hòa), chùa Vĩnh Tràng tại quận Chợ Gạo, là một trong những ngôi chùa lớn và đẹp nhất của Mỹ Tho. Vì nằm không xa đất Gia Định nên nói về văn nhân thì ngày trước tỉnh Định Tường có phần vượt trội hơn các nơi khác. Mặc dù người sáng tác ra bản vọng cổ hoài lang quê ở Bạc Liêu, nhưng phải nói Định Tường và Vĩnh Long là hai nơi đã đề xướng về nghệ thuật cầm ca như thầy Nam Tú, Phước Goerges (Bạch Công Tử) làm chủ gánh Huỳnh Kỳ, nam danh ca Tư Giỏi, Bảy Nhiêu, Năm Châu, đạo diễn Trần hữu Trang, Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nam, các nhạc sĩ nổi danh như bà Trần ngọc Diện, Mộng Trung, vân vân. Đặc biệt, chợ Giữa (thuộc Vĩnh Kim, Sầm Giang) là cái nôi của ca nhạc và cải lương, không riêng cho Định Tường, mà cho cả miền Nam nước Việt, đây là quê hương của những danh cầm, danh ca và nghệ sĩ như Trần văn Khê, Trần Quang Hải, Trần văn Trạch... Nghe nói vùng này là nơi đã sáng chế ra dây đàn kìm “Tố Lan”. Như trên đã nói, Định Tường nằm cạnh đất Gia Định và là trung tâm của miền Nam, nên ngay khi Pháp chiếm Nam kỳ, họ đã nghĩ ngay đến việc mở trường học, đào tạo nhân viên cho thuộc địa.( Còn tiếp).

     @Đăng tin-Vĩnh-

 

Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn